Phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 19

iLỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc,
xuất xứ rõ ràng. Những kết quả trình bày trong luận án chưa từng
được công bố trong bất cứ công trình nào khác. Tác giả luận án
Đặng Xuân Phong

ii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:

2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực biên giới
phía Bắc Việt Nam 78
2.1.2. Quá trình hình thành các khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt Nam . 83
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN
GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 88
2.2.1. Tình hình phát triển không gian lãnh thổ về kinh tế và dân cư tại
khu kinh tế cửa khẩu biên giới 88
2.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tại khu kinh tế cửa khẩu biên giới 96
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ CỬA
KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM 102
2.3.1. Những thành tựu đạt được 103
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế 113
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 121
CHƯƠNG 3:
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TIẾP
TỤC PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI PHÍA BẮC
VIỆT NAM 139
3.1. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU BIÊN GIỚI
PHÍA BẮC VIỆT NAM 139
3.1.1. Cơ hội và thách thức đối với phát triển các khu kinh tế cửa khẩu
biên giới Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc những năm tới 139
3.1.2. Quan điểm phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc Việt
Nam 149
3.2. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ CỬA KHẨU
BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2020 157
iv
3.2.1. Phát triển không gian lãnh thổ kinh tế và xã hội các khu kinh tế cửa
khẩu biên giới 157
3.2.2. Phát triển các hoạt động kinh tế tại các khu kinh tế cửa khẩu biên giới 157
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN

3. BOT: xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
4. BT: xây dựng - chuyển giao
5. BTO: xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
6. CNH: công nghiệp hoá
7. DN: doanh nghiệp
8. ĐTH: đô thị hoá
9. ĐTNN: đầu tư nước ngoài
10. EU: cộng đồng châu Âu
11. FDI: đầu tư trực tiếp nước ngoài
12. GDP: tổng sản phẩm quốc nội
13. GMS: tiểu vùng sông Mê Công
14. GS: giáo sư
15. HĐH: hiện đại hoá
16. ICD: cảng nội địa đất liền (cảng cạn)
17. KCN: khu công nghiệp
18. KCX: khu chế xuất
19. KH&CN: khoa học và công nghệ
20. KKT: khu kinh tế
21. KKTCK: khu kinh tế cửa khẩu
22. KKTCKBG: khu kinh tế cửa khẩu biên giới
23. KTCK: kinh tế cửa khẩu
24. KTQT: kinh tế quốc tế
25. LLSX: lực lượng sản xuất
vi
26. MHD: chỉ số phát triển con người
27. NDT: nhân dân tệ
28. NS: ngân sách
29. NSNN: ngân sách nhà nước
30. NXB: nhà xuất bản
31. ODA: nguồn hỗ trợ phát triển chính thức


Bảng 3.1. Dự báo một số chỉ tiêu về không gian kinh tế - xã hội các KKTCK biên
giới Việt – Trung đến năm 2020 157

Bảng 3.2: Dự báo một số chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu của các KKTCK biên giới
Việt - Trung đến năm 2020 166

II. HÌNH

Hình 2.1: Kim ngạch XNK tại các KKTCK biên giới Việt - Trung 97

Hình 2.2: Tình hình đóng góp cho NSNN của các KKTCK biên giới 102

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bối cảnh quốc tế hiện nay cho thấy rằng hoà bình, hợp tác và phát triển
là xu thế chung. Toàn cầu hóa, khu vực hoá và đa dạng hoá về kinh tế đem lại
nhiều thuận lợi trong quá trình hợp tác về kinh tế, kỹ thuật giữa các nước,
song cũng không ít khó khăn, thách thức. Để tồn tại và phát triển, mỗi quốc
gia sẽ phải tự làm cho nền kinh tế của mình dần thích nghi với xu thế chung
đó, trong đó phát triển KTCK ở các vùng biên giới có vai trò rất quan trọng.
Tiến trình mở cửa và hội nhập theo phương châm "đa dạng hóa, đa
phương hóa" các quan hệ giao lưu kinh tế, đã được Đảng và Nhà nước ta
khẳng định như là một trong những điều kiện quan trọng để đẩy nhanh phát
triển kinh tế đất nước trong giai đoạn tới. Trong điều kiện đặc thù của Việt
Nam, với đường biên giới trải dài bao gồm nhiều cửa khẩu thông thương với
các nước láng giềng, việc tìm ra cơ chế, chính sách hợp lý nhằm thúc đẩy
các hoạt động kinh tế qua các cửa khẩu biên giới là việc làm hết sức cần

thì việc lựa chọn Đề tài "Phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới phía Bắc
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là hết sức cần thiết trong
giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thứ nhất, các nghiên cứu ở nước ngoài: Nghiên cứu về phát triển các
KKT, KKTCK nói chung, KKTCK biên giới Việt - Trung được nhiều tác giả
3
nước ngoài quan tâm, nhất là các nhà kinh tế học Trung Quốc. Có thể nêu lên
một số công trình đã công bố của các tác giả sau đây:
Tác giả Mã Tuệ Quỳnh trong bài “Tăng cường vai trò lan tỏa của
thương mại biên giới, thúc đẩy bước phát triển mới trong quan hệ kinh tế
Trung – Việt” đã đề cập đến thực trạng phát triển kinh tế thương mại biên giới
của tỉnh Quảng Tây sau hơn 15 năm, kể từ khi Trung Quốc và Việt Nam bình
thường hóa quan hệ năm 1991; thực trạng phát triển KTCK của tỉnh Quảng
Tây; những vấn đề tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế thương mại biên
giới và đối sách áp dụng để phát huy ưu thế thương mại biên giới, mở rộng
quan hệ giao lưu thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam. Mặc dù tài liệu
mới chỉ đề cập chủ yếu đến phát triển thương mại biên giới của tỉnh Quảng
Tây, song cũng đã giúp ích rất nhiều cho tác giả trong quá trình tham khảo để
phân tích đánh giá vai trò của các cửa khẩu biên giới trong quá trình phát triển
các KKTCK cũng như tạo sự gắn kết, lan tỏa giữa các vùng, miền khác nhau
để phát triển thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Tác giả Lưu Kiến Văn “Từng bước thúc đẩy khu hợp tác kinh tế xuyên
quốc gia Trung - Việt. Trường hợp khu hợp tác kinh tế xuyên quốc gia Đông
Hưng – Móng Cái”. Đã phân tích quá trình và đề xuất các giải pháp phát triển
khu hợp tác kinh tế xuyên quốc gia giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc
trong bối cảnh mới.
Ngoài ra còn nhiều bài viết đã đăng tải trong các kỷ yếu hội thảo, hội
nghị của hai nước như: “Phương pháp nghiên cứu chính sách cho các đặc
khu hợp tác kinh tế Trung - Việt”, báo cáo Hội nghị lần thứ nhất Uỷ ban chỉ

KKTCK trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, hội nhập và mở cửa kinh tế,
thực trạng quá trình hình thành, phát triển và tác động của các KKTCK đến sự
5
phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm và
giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tác dụng tích cực của các KKTCK.
- Khuyến khích đầu tư thương mại vào các khu kinh tế cửa khẩu Việt
Nam của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, NXB Thống kê, Hà Nội năm 2000; đã
đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến phát triển KKTCK; đánh giá vai trò,
thực trạng phát triển thương mại tại các KKTCK; sự cần thiết phát triển
thương mại tại các KKTCK; qua đó đề xuất các cơ chế, chính sách nhằm
khuyến khích đầu tư thương mại vào các KKTCK. Mặc dù cuốn sách mới tập
trung phân tích và đề xuất phát triển lĩnh vực thương mại tại các khu kinh tế
cửa khẩu, song cũng đã gợi mở cho việc phân tích đánh giá và đề xuất phát
triển nhiều nội dung, lĩnh vực khác tại khu vực KTCK.
- Một số chính sách và giải pháp chủ yếu cấp bách nhằm phát triển quan
hệ thương mại khu vực biên giới Việt - Trung. Đây là đề tài nghiên cứu cấp
bộ, của Bộ thương mại, hoàn thành năm 2000; đã tập trung đi sâu nghiên cứu
thực trạng các hoạt động thương mại tại khu vực biên giới Việt – Trung, đánh
giá hệ thống chính sách mậu dịch biên giới của Trung Quốc và ảnh hưởng của
nó tới môi trường thương mại khu vực biên giới Việt –Trung; trên cơ sở đó đã
đưa ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy sự phát
triển thương mại khu vực biên giới Việt - Trung.
- Phương hướng phát triển kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung trong
giai đoạn tới, trên Tạp chí Thông tin Kinh tế - Xã hội, số 1 năm 2003. Bài viết
đã xác định vị trí, vai trò của một số cửa khẩu quốc tế trên tuyến biên giới Việt -
Trung và đưa ra một số ưu tiên trong định hướng phát triển KTCK trong thời
gian tới.
- Phát triển thương mại trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà
Nội – Hải Phòng của TS. Nguyễn Văn Lịch, NXB Thống kê, Hà Nội năm
2005, đã đi sâu phân tích và làm rõ những luận cứ khoa học của việc xây

giải quyết là:
- Khái niệm về KKTCK và phát triển KKTCK; nội hàm của các khái niệm
này; những nội dung của phát triển KKTCK; vị trí, tầm quan trọng của các nội
dung này trong quá trình phát triển KKTCK.
- Thực trạng phát triển KKTCK biên giới Việt Nam tiếp giáp với Trung
Quốc hiện nay; thành tựu và hạn chế của phát triển KKTCK trong thời gian qua;
nguyên nhân cản trở sự phát triển KKTCK Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc
hiện nay.
- Quan điểm, phương hướng và những giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển
KKTCK của Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc những năm tới.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án nhằm làm rõ những vấn đề cơ bản về
phát triển KKTCK biên giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và đề xuất
các quan điểm, giải pháp đẩy mạnh sự phát triển KKTCK trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát
triển KKTCK trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các KKTCK Việt Nam tiếp
giáp với Trung Quốc trong giai đoạn 2005 đến 2010, chỉ ra những thành tựu,
hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản để tiếp tục phát triển các
KKTCK Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc trong những năm tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển các KKTCK Việt Nam
tiếp giáp với Trung Quốc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
8
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, vì phát triển KKTCK có phạm vi rộng, trong luận án này sẽ

Luận án sử dụng phương pháp tham vấn chuyên gia các nhà quản lý nhà
nước các cấp và các doanh nghiệp tại các KKTCK.
6. Những đóng góp khoa học của luận án
Đóng góp quan trọng nhất của luận án là đề xuất ý tưởng phát triển
KKTCK không chỉ dừng lại ở phát triển thương mại xuất nhập khẩu, xuất
nhập cảnh mà phải xây dựng các KKTCK thành các đô thị vùng biên giới để
vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, tổ chức giao lưu thương mại, phát triển du
lịch, xúc tiến và thúc đẩy đầu tư, từng bước phát triển công nghiệp tại các tỉnh
biên giới, vừa phát triển xã hội tại các vùng biên, đưa các cửa khẩu biên giới
thành các tụ điểm dân cư đô thị, thành các vùng động lực của khu vực biên
giới để củng cố quốc phòng, bảo vệ biên cương, lãnh thổ của đất nước.
Một số đóng góp cụ thể:
Thứ nhất, đã hệ thống hoá có bổ sung và phân biệt rõ các khái niệm về
KKTCK và sự phát triển các KKTCK.
Thứ hai, khái quát được kinh nghiệm phát triển KKTCK của một số nước
trên thế giới để khuyến nghị vận dụng cho phát triển KKTCK Việt Nam tiếp
giáp với Trung Quốc.
Thứ ba, đánh giá thực trạng phát triển KKTCK Việt Nam tiếp giáp với
Trung Quốc hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế trong phát triển KKTCK này.
Thứ tư, đề xuất quan điểm, phương hướng phát triển các KKTCK biên
giới Việt nam tiếp giáp với Trung Quốc theo hướng trở thành các đô thị biên
giới để vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa phát triển xã hội vừa đảm bảo
củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh biên giới.
10
Thứ năm, khuyến nghị được hệ thống một số giải pháp chủ yếu nhằm
tiếp tục đẩy mạnh phát triển KKTCK biên giới Việt Nam tiếp giáp với Trung
Quốc trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo phát huy hiệu quả về
kinh tế, góp phần ổn định về chính trị, giữ vững quốc phòng, an ninh trên các
tuyến biên giới.

1.1.1. Quan niệm về khu kinh tế cửa khẩu biên giới và phát triển khu
kinh tế cửa khẩu biên giới
1.1.1.1. Quan niệm về khu kinh tế cửa khẩu biên giới
Thuật ngữ KKTCK được dùng ở Việt Nam một số năm gần đây, khi
quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam – Trung Quốc đã có bước phát triển
mới, đòi hỏi phải có hình thức tổ chức kinh tế phù hợp nhằm khai thác các
tiềm năng, thế mạnh kinh tế của hai nước thông qua cửa khẩu biên giới. Có
nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về KKTCK:
Một là,
trong những năm đổi mới vừa qua trong sách báo ở nước ta
xuất hiện nhiều thuật ngữ có liên quan đến KKTCK. Có thể nêu lên một số
khái niệm có liên quan với KKTCK như:
- Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi
trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh
giới địa lý xác định, do cấp có thẩm quyền quyết định thành lập.
- Khu kinh tế tự do là một loại hình của khu kinh tế. Trong khi khu kinh
tế tự do là tên gọi phổ biến thì một số nước lại có các tên gọi khác nhau như
đặc khu kinh tế (hay khu kinh tế đặc biệt), khu kinh tế mở, khu thương mại tự
12
do, hay thậm chí đơn giản chỉ là khu kinh tế, khu tự do Mặc dù tên gọi có thể
khác nhau song về thực chất thì đây là một khu vực không gian kinh tế được
thành lập trong một quốc gia nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước, thúc
đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc nghiên cứu khoa học bằng các
biện pháp khuyến khích đặc biệt (ưu đãi về thuế quan, đầu tư, cơ sở hạ
tầng…). Trong khu kinh tế tự do có thể có nhiều khu chức năng như khu vực
phi thuế quan (khu bảo thuế), khu thương mại, khu thương mại – công
nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các tiểu khu du
lịch, nghỉ dưỡng, giải trí
- Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có

lưu kinh tế biên giới là hình thức giao lưu kinh tế phổ biến ở tất cả các khu
vực dân cư biên giới giữa các quốc gia có đường biên giới trong điều kiện hoà
bình. Tuy nhiên quy mô, mức độ trao đổi hàng hoá, thương mại diễn ra rất
khác nhau giữa các vùng, miền, khu vực biên giới trong cả nước. Điều này
phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân khác nhau, như : trình độ phát triển kinh tế,
điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, chính sách biên mậu, các tiềm năng thế mạnh
tại chỗ, sự ổn định về an ninh chính trị Do đó xuất hiện một nội dung rộng
hơn, bao quát hơn, hay nói cách khác, giao lưu kinh tế qua biên giới theo
nghĩa rộng là tất cả các hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học kỹ
thuật qua các cửa khẩu biên giới, giữa các quốc gia có đường biên giới
chung. Như vậy, nội dung của giao lưu kinh tế biên giới theo nghĩa rộng,
không chỉ đơn thuần là trao đổi, buôn bán hàng hoá thông thường, mà nó bao
14
hàm cả hoạt động hợp tác về khoa học và công nghệ, đầu tư, xuất nhập khẩu,
phát triển hạ tầng, du lịch qua biên giới
- Cửa khẩu là nơi người, phương tiện giao thông vận tải, hàng hóa ra,
vào qua biên giới đất liền.
- Khu vực xung quanh biên giới bao gồm những địa bàn nằm trên tuyến
hành lang, vành đai hoặc bị ảnh hưởng bởi tuyến hành lang, vành đai:
+ Hành lang kinh tế là một không gian kinh tế có giới hạn về chiều dài
và chiều rộng, liên vùng lãnh thổ hoặc liên quốc gia, dựa trên việc thành lập
một hoặc nhiều tuyến giao thông kết hợp với những chính sách kinh tế nhất
định để thúc đẩy phát triển kinh tế trên toàn không gian đó. Hành lang kinh tế
thường được thành lập để đẩy mạnh sự hội nhập về kinh tế giữa những vùng
kém phát triển hơn và thường là vùng sâu, vùng xa với những vùng phát triển
hơn và thường là vùng Duyên Hải.
+ Vành đai kinh tế là một không gian kinh tế có giới hạn về chiều dài
và chiều rộng, liên vùng lãnh thổ hoặc liên quốc gia, dựa trên việc thành lập
một hoặc nhiều trục giao thông ven biển kết hợp với những chính sách kinh tế
nhất định để thúc đẩy phát triển kinh tế trên toàn không gian đó. Vành đai

KKTCK ở nước ta. Ý kiến này cho rằng: KKTCK là một không gian kinh tế,
gắn với cửa khẩu, có dân cư hoặc không có dân cư sinh sống và được thực
hiện dựa trên cơ chế chính sách phát triển riêng, phù hợp với đặc điểm ở đó
nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Mục đích thành lập KKTCK là ưu tiên
phát triển thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ du lịch và công nghiệp [67].

16
Quan niệm về KKTCK còn có sự khác biệt ở điểm này, điểm khác.
Song về nhận thức đối với KKTCK, dù được nhìn nhận dưới góc độ nào thì
đều thống nhất ở nội dung cơ bản. Có thể xem đây là những hạt nhân hợp lý
để phát triển trong khái niệm KKTCK đó là:
- KKTCK, xác định một không gian kinh tế, tại địa điểm là các cửa
khẩu biên giới diễn ra các hoạt động kinh tế có quan hệ với quốc gia có cùng
chung biên giới và nội địa phía sau. Như vậy, từ góc độ địa kinh tế KKTCK
được xem như là trung tâm giao lưu kinh tế quốc tế và là động lực thúc đẩy
quan hệ kinh tế đối ngoại.
- Đặc trưng hoạt động kinh tế của KKTCK chủ yếu tập trung vào các
lĩnh vực: thương mại, xuất nhập khẩu, các loại hình dịch vụ (du lịch, tài chính
ngân hàng…), đầu tư, xây dựng, gia công chế biến. Đó là sự khác biệt với các
khu kinh tế khác như KCN, KCX, khu công nghệ cao…
- Được các cấp có thẩm quyền thành lập và Nhà nước quản lý
KKTCK bằng cơ chế, chính sách riêng phù hợp với điều kiện cụ thể, trong
những giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đối với mỗi đối tác nhất định. Rõ
ràng, KKTCK hình thành và đi vào hoạt động không phải là tự phát mà được
tổ chức quản lý bằng cơ chế, chính sách riêng. Vì vậy, chất lượng hiệu quả
hoạt động của KKTCK phụ thuộc rất nhiều vào trình độ năng lực của cơ
quan quản lý Nhà nước.
Những nội dung trên, có thể nhận dạng, định hình được KKTCK, phân
biệt KKTCK với các loại khu kinh tế khác giúp cho các cơ quan hoạch định
chính sách có các cơ chế, chính sách thích hợp. Tuy nhiên những quan niệm

18
đã đến gần với khái niệm KKTCK nhưng chưa chỉ rõ nó phản ánh những
quan hệ kinh tế nào.
- Thứ hai, KKTCK là tổ chức kinh tế hoạt động trong một không gian
kinh tế - xã hội tại các vùng cửa khẩu biên giới, xác định về phạm vi ranh giới
cụ thể. Đó là không gian kinh tế mở, được xét trên hai phương diện: một mặt,
mở cửa giao lưu kinh tế, khoa học – kỹ thuật, đầu tư kinh doanh với quốc gia
có cùng chung biên giới; mặt khác, mở cửa tăng cường liên kết kinh tế với các
ngành, các vùng, các miền của cả nước. Như vậy, KKTCK xét về địa kinh tế,
vừa có ảnh hưởng lan tỏa vừa có sự hội tụ của một trung tâm, đầu mối kinh tế.
Đồng thời, việc xây dựng phát triển các KKTCK ở nước ta hiện nay không
chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có tác động tích cực đến các mặt của
đời sống chính trị - xã hội; giữ vững an ninh nơi biên giới và bảo vệ chủ
quyền quốc gia. Sự phát triển KKTCK gắn liền với quá trình đô thị hóa và
hình thành các khu đô thị ở vùng cửa khẩu biên giới. Xu hướng phát triển các
khu kinh tế hiện đại trên thế giới hiện nay theo mô hình thành phố - trung tâm
kinh tế; vừa tổ chức các hoạt động kinh tế, sản xuất kinh doanh, dịch vụ vừa
tổ chức đời sống xã hội của bộ phận dân cư sinh sống trong các khu kinh tế
nói chung và KKTCK nói riêng. Ý kiến thứ hai cho rằng: “KKTCK có dân cư
hoặc không có dân cư sinh sống”, đó chỉ là những quy định của cấp có thẩm
quyền ra quyết định thành lập KKTCK phù hợp với điều kiện cụ thể về thời
gian, phạm vi, tính chất hoạt động của KKTCK. Song về cơ bản KKTCK là
không gian tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội.
- Thứ ba, các hoạt động kinh tế - xã hội diễn ra trong các KKTCK lấy
giao lưu kinh tế với các quốc gia có cùng chung biên giới làm nòng cốt: như
là thương mại, xuất nhập khẩu, đầu tư kinh doanh, các loại hình dịch vụ. Có
thể coi đây là đặc trưng cơ bản của KKTCK, phân biệt KKTCK với các KCN,
KCX, khu công nghệ cao. Do tính đặc thù của các hoạt động kinh tế, đòi hỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status