ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VÕ THỊ THANH ĐÀN MÔI TRƢỜNG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI TẠI TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐINH VĂN THÔNG Hà Nội – 2011 i
MC LC
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt………………………………………i
Danh mục các bảng biểu ……………………………………………………ii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị …………………………………………… iii
Chƣơng 1 : Môi trƣờng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài : Cơ sở lý luận và
kinh nghiệm của một số địa phƣơng………………… ……………….…… 10
1.1. Khái luận về môi trƣờng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài………… 10
2.3.1. Đánh giá chung……………………………………………………… 80
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong môi trường thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) ở tỉnh Nghệ An…………………………………… 84
Chƣơng 3 : Giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trƣờng thu hút đầu tƣ trực
tiếp nƣớc ngoài của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới 88
3.1. Giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách và cải cách thủ tục hành
chính………………………………………………………………………… 89
3.1.1. Hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động thu hút đầu tư
nước ngoài (FDI) theo hướng thông thoáng, hấp dẫn nhưng vẫn đảm bảo tính
chặt chẽ và dễ kiểm soát…………………………………………………… 90
3.1.2. Giải pháp về cải cách thủ tục hành chính……………………………. 92
3.2. Giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội………………… 96
3.3. Giải pháp về nguồn nhân lực………………………………………… 98
3.4. Chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến đầu tƣ…………………………. 101
3.4.1. Tuyên truyền, cung cấp thông tin về môi trường thu hút đầu tư của
tỉnh.………………………………………………………………………103
3.4.2. Vận động xúc tiến đầu tư…………………………………………… 104
3.4.3. Cải thiện nguồn nhân lực cho công tác xúc tiến đầu tư……………. 105
3.4.4.Cải tạo nguồn quỹ và ngân sách cho hoạt động xúc tiến đầu tư……. 106
KẾT LUẬN ………………………………………………………………… 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………… 114
PH LC
i
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
CBCC
KCN
Khu công nghiệp
12
ISO
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa
13
PCI
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
14
TP HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
15
UBND
Ủy ban nhân dân
16
USD
Đô la mỹ
17
VNCI
Dự án phát triển kinh tế do cơ quan
quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ
18
VCCI
Phòng thương mại và công nghiệp
Việt Nam
19
WTO
Tổ chức thương mại quốc tế
Bảng 2.4: Dự đoán ảnh hưởng của các nhân tố lên môi trường
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
53
7
Bảng 2.5: Điểm 10 nhân tố PCI tổng hợp của Nghệ An so với 4
tỉnh chọn lọc để nghiên cứu.
57
8
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát PCI nhóm nhân tố chi phí gia nhập
thị trường.
60
9
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát PCI nhóm nhân tố tiếp cận đất đai.
62
10
Bảng 2.8: Kết quả kháo sát PCI nhóm nhân tố tính minh bạch.
64
11
Bảng 2.9 : Kết quả kháo sát PCI nhóm nhân tố chi phí thời
gian.
64
12
Bảng 2.10: Kết quả kháo sát PCI nhóm nhân tố chi phí không
chính thức.
70
13
Bảng 2.11: Kết quả kháo sát PCI nhóm nhân tố tính năng động
của lãnh đạo.
72
14
phân theo khuc vực kinh tế (%).
45
3
Hình 2.2: Sơ đồ hóa môi trường thu hút đầu tư.
52
4
Hình 2.3: Kết quả xếp hạng PCI 2010.
56
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do cấp thiết của đề tài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là một bộ
Thanh Hóa và Hà Tĩnh ? Làm thế nào để cải thiện môi trường thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Nghệ An nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn
FDI để góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế của tỉnh trong thời
gian tới ?
Xuất phát từ yêu cầu đó tôi đã chọn đề tài: “ Môi trường thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Nghệ An” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Ở nước ta, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu,
bài viết xung quanh vấn đề này. Cụ thể như:
- Ban quản lý các KCN tỉnh Nam Định (2007), Nghiên cứu đánh giá
thực trạng đầu tư nước ngoài và giải pháp nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Nam Định.
Trong đề tài này, trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, nguyên
nhân hạn chế trong công tác thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Nam
Định và xây dựng mục tiêu, định hướng đẩy mạnh thu hút đầu tư FDI tại Nam
Định đến năm 2010 tầm nhìn 2020, các tác giả đã đề xuất các phải pháp
chung và những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Nam Định.
- Trần Hào Hùng (2006),“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển
nông thôn”, Bản tổng hợp khuyến nghị chính sách (PAB) số 4, Chương trình
hỗ trợ quốc tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
3
Trong thời gian qua, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực
nông lâm nghiệp và nông thôn còn hết sức hạn chế, chưa tương xứng với tiềm
năng cũng như thế mạnh của Việt Nam và ngày càng có xu hướng giảm sút.
Mặt khác, so với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các lĩnh vực
khác thì hiệu quả thực hiện các dự án trong lĩnh vực này cũng rất hạn chế. Do
vậy, báo cáo nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá thực trạng
ngoài, cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các ban quản lý khu công
nghiệp, khu chế xuất những ý kiến đóng góp trong việc hoàn thiện hệ thống
pháp lý cũng như những giải pháp thiết thực cần thiết để thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh nói riêng và
của cả nước nói chung.
- Trần Quang Nam (2006),“Cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Bắc Ninh”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, 50(3).
Trong bài báo này, trên cơ sở phân tích thực trạng môi trường thu hút
FDI ở Bắc Ninh, chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế trong môi trường FDI
của tỉnh, tác giả đã đưa ra một số các giải pháp bổ sung để cải thiện môi
trường đầu tư nâng cao khả năng thu hút vốn FDI vào Bắc Ninh giai đoạn
2006 - 2010.
- Dương Thị Bình Minh & Nguyễn Thanh Thuỷ (2009), “Cải thiện môi
trường đầu tư thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở một số nước
Châu Á và các bài học kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí
kinh tế phát triển, (225).
Trong bài viết này, hai tác giả đã áp dụng phương pháp thống kê, phân
tích, tổng hợp để rút ra các bài học kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh
từ kinh nghiệm trong việc cải thiện môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước
5
ngoài của một số nước Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc và nghiên cứu vận
dụng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của thành phố.
Nhìn chung, các công trình trên tiếp cận dưới những góc độ khác
nhau cả về mặt lý luận và thực tiễn về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài,
thấy được sự cần thiết phải tiếp tục cải thiện môi trường thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài trong giai đoạn hiện nay và đều gợi ý những hướng đi, giải
pháp nhằm cải thiện môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đẩy mạnh
hơn nữa việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư FDI. Song
chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về môi trường thu hút đầu tư trực
này, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu môi trường thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên địa bàn tỉnh Nghệ An theo hướng phân tích các nhân tố thể
chế theo quan điểm của PCI.
Là đề tài thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị, luận văn tập trung
nghiên cứu mặt kinh tế, xã hội và luật pháp của môi trường vĩ mô.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
- Về không gian : Nghiên cứu môi trường thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài của tỉnh Nghệ An theo hướng phân tích các nhân tố thể chế theo
quan điểm của PCI.
- Thời gian : Từ năm 2006 – nay
Kế thừa các kết quả nghiên cứu PCI 2006 - 2010 của VCCI Việt Nam
và các số liệu thống kê của các cơ quan hữu quan.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
5.1. Cơ sở lý luận.
Luận văn được nghiên cứu dựa trên các học thuyết kinh tế của Chủ
nghĩa Mác – Lênin, các học thuyết kinh tế hiện đại; các quan điểm, chủ
7
trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng như các
chủ trương, chính sách của tỉnh Nghệ An.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trong quá trình triển khai các vấn đề đặt ra, luận văn đã sử dụng đan
xen phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện thực tế, cùng với phương pháp hệ
thống, điều tra, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để làm sáng tỏ vấn đề.
Đồng thời, đề tài cũng kế thừa và sử dụng có chọn lọc những thông tin trong
một số công trình nghiên cứu của các tác giả trước. Các phương pháp nghiên
cứu cụ thể được áp dụng :
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học.
Luận văn sẽ sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để gạt bỏ
6. Đóng góp mới của luận văn.
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về môi trường thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nhân tố tác động đến môi trường thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài đặc biệt là các nhân tố thể chế theo quan điểm của
PCI.
- Từ việc nghiên cứu hoạt động cải thiện môi trường thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài của một số địa phương, luận văn rút ra những bài học kinh
nghiệm có thể áp dụng cho tỉnh Nghệ An.
- Phân tích, đánh giá thực trang môi trường thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại tỉnh Nghệ An, rút ra những thành tựu, hạn chế thông qua kết
quả khảo sát PCI 2006 – 2010, cũng như chỉ rõ nguyên nhân của những thành
tựu và hạn chế đó.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.
9
7. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm ba
chương :
Chương 1 : Môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài : cơ sở lý
luận và kinh nghiệm của một số địa phương.
Chương 2 : Thực trạng môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại tỉnh Nghệ An.
Chương 3 : Giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.
mẻ nhưng đến nay vẫn có rất nhiều tranh luận về khái niệm này. Môi trường
đầu tư được nghiên cứu và xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ theo
mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu. Sau đây là một số khái niệm tiêu
biểu về môi trường đầu tư:
Theo Wim P.M.Vijverberg : Môi trường đầu tư bao gồm tất cả các điều
kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến
hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp [19, tr 20]. Với khái
niệm này, môi trường đầu tư được hiểu khá rộng.
Một khái niệm hẹp hơn và chủ yếu liên quan chặt chẽ, gắn liền với các
hoạt động của doanh nghiệp và các cơ sở kinh doanh đó là môi trường kinh
doanh. Môi trường kinh doanh có thể được hiểu là “ toàn bộ các yếu tố tự
11
nhiên, kinh tế, xã hội có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự hình thành và
phát triển kinh doanh” [19, tr 28].
Theo World Bank, 2004 : Môi trường đầu tư là tập hợp những yếu tố
đặc thù của địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh
nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất [33, tr 26]. Tập
hợp những yếu tố đặc thù này bao gồm hai thành phần chính là chính sách của
chính phủ (mềm) và các nhân tố khác liên quan đến qui mô thị trường và ưu
thế địa lý (cứng). Hai thành phần này sẽ tác động đến ba khía cạnh liên quan
đến nhà đầu tư là chi phí cơ hội của vốn đầu tư, mức độ rủi ro trong đầu tư và
những rào cản về cạnh tranh trong quá trình đầu tư. Dựa vào việc cân nhắc ba
khía cạnh này nhà đầu tư sẽ xác định những cơ hội và động lực đầu tư đến
một quốc gia hay một địa phương nào đó.
Riêng đối với môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là môi
trường có thể thay đổi và chịu sự chi phối của Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư,
thay đổi khi nước tiếp nhận đầu tư ký kết hoặc gia nhập Hiệp định khuyến khích
và bảo hộ đầu tư song phương, khu vực và địa phương. Môi trường đầu tư trực
tiếp nước ngoài chủ yếu được xác định theo hai cách tiếp cận sau:
Nói một cách tổng quát, đầu tư là để mở rộng sản xuất và chiếm lĩnh thị
trường, tăng lợi nhuận. Như vậy hành vi đầu tư của các nhà đầu tư trước hết
phụ thuộc vào nhận định về cơ hội kinh doanh. Đứng trước một cơ hội kinh
doanh, nhà đầu tư sẽ hoạch định một kế hoạch đầu tư.
Để phân tích hành vi đầu tư của doanh nghiệp, có nhiều mô hình được
phần lớn các nhà kinh tế tán thành như: mô hình hành vi đầu tƣ của doanh
nghiệp tiếp cận theo theo nguyên lý gia tốc của Barro và Sala-i-martin, theo
đó, đầu tư phụ thuộc dự đoán của doanh nghiệp về sản lượng thị trường trong
tương lai, cách tiếp cận này coi trọng doanh số nhưng bỏ qua khía cạnh chi
13
phí của tư bản. Mô hình đầu tƣ theo lý thuyết tân cổ điển của Solow cho
rằng, doanh nghiệp sẽ dựa vào lợi nhuận để xác định đầu tư và đầu tư đạt tối
ưu khi doanh thu biên của tư bản bằng chi phí đơn vị của tư bản và giá cả của
sản phẩm cũng là một yếu tố tác động tới quyết định đầu tư, khi giá sản phẩm
tăng sẽ kéo theo doanh thu tăng, nếu chi phí không đổi thì đầu tư có lợi và
nhu cầu đầu tư lại phát sinh. Mô hình ngoại tác của Romer và Lucas cho
rằng một dự án đầu tư có thể không chỉ đem lợi cho bản thân nó mà còn đem
lại lợi ích cho các dự án của các nhà đầu tư khác và toàn bộ nền kinh tế, đặc
biệt là giúp phát triển vốn con người; và nhiều mô hình khác …[18, tr 18].
Qua các mô hình này có thể tổng kết một cách vắn tắt về các nhân tố có thể
tác động tới hành vi đầu tư:
1. Sự thay đổi trong nhu cầu. Dự đoán về tăng nhu cầu sẽ làm tăng đầu tư.
2. Lãi suất. Chiều hướng tác động của lãi suất còn tuỳ thuộc vào đặc
điểm thị trường tài chính và cấu trúc tài chính đặc trưng của các doanh nghiệp
trong từng ngành.
3. Mức độ phát triển của hệ thống tài chính. Hệ thống tài chính phát
triển có tác động hỗ trợ cho đầu tư.
4. Đầu tư công cộng. Chiều hướng tác động còn tùy thuộc vào cấu trúc
của đầu tư công cộng.
nhân và nhóm người với nhau. Nếu không có thể chế thì các hoạt động này
không thể diễn ra bởi vì người này không thể tương tác với người khác mà
không có sự mặc định chung về cách người kia sẽ đáp lại và một sự chế tài
nào đó nếu người kia hành động tuỳ tiện và ngược lại với thỏa thuận. Các cá
nhân và doanh nghiệp chỉ có thể mua, bán, thuê mướn lao động, đầu tư nếu họ
có một mức độ tin tưởng nhất định rằng các thỏa thuận hợp đồng của họ sẽ
được thực hiện. “Lấy một ví dụ, tại sao bạn mang tiền đến ngân hàng, đưa
15
tiền cho họ và chỉ nhận một tờ giấy mà bạn không thấy lo lắng là tiền của
mình sẽ bị mất? Lấy gì bảo đảm là khi bạn mang tờ giấy đó đến ngân hàng thì
bạn được nhận lại tiền?” [18, tr 35]. Sở dĩ, bạn thấy tin tưởng về sự an toàn
trong giao dịch này là vì hệ thống định chế (luật ngân hàng, tập quán,…) đã
đảm bảo cho giao dịch của bạn, rằng ngân hàng không thể lấy tiền của bạn mà
không có trách nhiệm hoàn trả. Nếu không có các định chế như vậy thì liệu
giao dịch trên có xảy ra? Do đó, nếu không có thể chế thì tương tác giữa
người với người trở nên đầy bất trắc, rủi ro và là mảnh đất màu mỡ cho các
hành vi lừa đảo, cơ hội, thoái thác trách nhiệm,… Khi đó, chi phí của các giao
dịch kinh tế trở nên rất cao và rất rủi ro làm cho các hoạt động này khó xảy ra
và không hiệu quả. Vai trò của thể chế là làm giảm tính bất định và rủi ro của
các giao dịch kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua trao đổi, tăng kinh
tế quy mô và tăng cường phân công lao động.
Theo Nhà kinh tế học Douglass North : Các cá nhân tham gia giao dịch
thường không có đủ thông tin (asymmetric information). Do đó, sẽ có các chi
phí phát sinh gọi là chi phí giao dịch (transaction costs). Các chi phí bao gồm
như chi phí tìm kiếm xem có loại hàng hóa và dịch vụ gì đang có trên thị
trường, giá cả của chúng, các đặc tính của hàng hóa, các quyền về tài sản
được giao dịch, mức độ tin cậy của các đối tượng giao dịch, cơ chế thực thi và
giám sát thực hiện hợp đồng… Tất cả các chi phí này có liên quan chặt chẽ
đến thể chế. Nếu thị trường là hoàn hảo thì không cần doanh nghiệp, các cá
và tài sản công cho lợi ích riêng [18, tr 44]. Tác hại của tham nhũng đối với
tăng trưởng kinh tế có thể được tóm tắt như sau:
Tham nhũng là một loại thuế tùy tiện, không biết trước, làm gia tăng
chi phí và sự bất định của hoạt động doanh nghiệp. Tham nhũng làm gia tăng
sự tùy tiện của các quan chức nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề của
17
người dân và doanh nghiệp, làm giảm hiệu lực của luật pháp và các quyền
chính đáng của người dân, do đó làm gia tăng chi phí hoạt động kinh tế bởi rất
nhiều loại giấy phép, thủ tục phiền phức.
Tham nhũng sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài;
làm chậm quá trình chuyển giao kỹ thuật và vốn từ bên ngoài vì đủ thứ các
loại thủ tục, giấy phép. Quá trình này sẽ dẫn tới giảm đầu tư và tăng trưởng.
* Chất lượng bộ máy hành chính.
Chất lượng bộ máy hành chính có liên hệ chặt chẽ với mức độ tham
nhũng. Tuy nhiên, chất lượng bộ máy hành chính bao gồm các phạm vi khác
rộng hơn. Nó bao hàm cả chất lượng dịch vụ công cộng. Có thể có một bộ
máy hành chính khá trong sạch, nhưng chất lượng cung cấp dịch vụ công
cộng lại kém. Chất lượng dịch vụ công cộng ở đây bao gồm hạ tầng kỹ thuật
công cộng như đường, điện, nước đến các dịch vụ y tế, giáo dục và các dịch
vụ hành chính công như giấy tờ, thủ tục,… Một bộ máy mặc dù không tham
nhũng nhưng cung cấp các dịch vụ trên kém thì cũng sẽ làm giảm tốc độ tăng
trưởng kinh tế chung.
* Tuân thủ luật pháp.
“Tuân thủ luật pháp là sự phản ánh mức độ người dân của một nước
sẵn sàng chấp nhận các thể chế hiện hành để điều chỉnh hành vi và giải quyết
tranh chấp” [17, tr 46]. Vì vậy, để có mức tuân thủ luật pháp cao cần phải có
một hệ thống tư pháp mạnh, hữu hiệu và tương đối trong sạch. Mức độ tuân
thủ luật pháp thấp tức là người dân dựa vào cách hành xử ngoài luật pháp,
thường sử dụng vũ lực và các hành động phi pháp để giải quyết các tranh
+ a
1
X
1
+ a
2
X
2
+ …+ a
n
X
n
+e
Với: Y: Là biến phụ thuộc (thường là tốc độ tăng trưởng GDP)
X
1
,…,X
n
: Các biến giải thích (hay biến độc lập)
a
0,
…, a
n
: Các hệ số, phản ánh mức độ ảnh hưởng của các biến giải
thích lên biến phục thuộc