Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2010 Phát triển cụm ô tô nhằm thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Vĩnh Phúc
http://svnckh.com.vn
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Hiện nay, cụm công nghiệp là một thuật ngữ đã xuất hiện trong nền kinh
tế thế giới. Quá trình hình thành và phát triển cụm công nghiệp đã chứng tỏ vai
trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Quá trình
tham gia vào cụm công nghiệp sẽ giúp các doanh nghiệp có cơ hội tăng năng
suất, có khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào, thông tin, công nghệ, nguồn nhân
lực và nhà cung cấp dễ dàng hơn, cũng như sự hỗ trợ phù hợp từ phía chính phủ.
Trên thực tế, phát triển cụm công nghiệp là một trong những nhân tố thu hút
mạnh mẽ đầu tư trực tiếp nước ngoài - nguồn vốn đặc biệt quan trọng với nền
kinh tế các nước đang phát triển. Trong quá trình tìm kiếm địa điểm đầu tư, các
cứu truyền thống như thu thập, tổng hợp và phân tích thống kê trên cơ sở các
nguồn tài liệu liên quan đến ngành công nghiệp ôtô và cụm công nghiệp trên thế
giới và Việt Nam, đặc biệt là số liệu thực tế về lĩnh vực này tại tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phát triển cụm công nghiệp phục vụ cho ngành
công nghiệp ô tô trong bối cảnh kinh tế Vĩnh Phúc nói riêng, Việt Nam nói
chung nhằm thu hút FDI.
Phạm vi nghiên cứu là các cụm công nghiệp trong ngành công nghiệp ô tô
được hình thành và phát triển từ những năm 1990 đến nay (2009), tại tỉnh Vĩnh
Phúc nói riêng và Việt Nam nói chung.
http://svnckh.com.vn
3
5. Dự kiến kết quả nghiên cứu:
Một là, tổng hợp một số vấn đề lý luận liên quan đến cụm công nghiệp và
FDI
Hai là, có bức tranh tổng quan thực trạng phát triển cụm công nghiệp ô tô
rong ngành công nghiệp ôtô vào FDI tại Việt Nam và Vĩnh Phúc.
Ba là, đánh giá khả năng phát triển cụm công nghiệp phục vụ cho công
nghiệp ô tô và thu hút FDI vào Việt Nam và Vĩnh Phúc.
Bốn là, đề xuất một số giải pháp để phát triển cụm công nghiệp ô tô nhằm
thu hút FDI tại tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu bao gồm 3 chương sau:
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC
NGOÀI VÀ CỤM CÔNG NGHIỆP
Chương II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC CỤM CÔNG
NGHIỆP Ô TÔ VÀ KHẢ NĂNG THU HÚT FDI TẠI VĨNH PHÚC
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CỤM CÔNG
NGHIỆP Ô TÔ NHẰM THU HÚT FDI TẠI VĨNH PHÚC
phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty.
http://svnckh.com.vn
5
- Theo Tổ Chức Thương Mại Thế giới (WTO) thì: Đầu tư trực tiếp nước
ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài
sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở
nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư
thường hay đựơc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con"
hay "chi nhánh công ty"
- Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “một
doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là họ có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách
pháp nhân, trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường
hoặc có quyền biểu quyết, điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp, là chủ định thực
hiện quyền kiểm soát công ty”. Tuy nhiên, không phải tất cả các quốc gia đều sử
dụng mức 10%, làm mốc xác định FDI, trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ
sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10%, nhưng họ vẫn
được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng
vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp.
Nhìn chung, các khái niệm quốc tế đều có điểm chung là hoạt động thiết
lập các mối quan hệ lâu dài hay lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư và thể hiện quyền
kiểm soát, ảnh hưởng và tiếng nói của nhà đầu tư tới việc quản lý doanh nghiệp.
- Theo nguồn Việt Nam: Luật đầu tư năm 2005 mặc dù không có khái
niệm về FDI nhưng từ những khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư
nước ngoài” và “đầu tư ra nước ngoài” có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do
nhà đầu nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt
Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư, tham gia quản lý hoạt động đầu
http://svnckh.com.vn
trong thực tế áp dụng thì FDI thường mang nhiều màu sắc chính trị - xã hội hơn
là mục đích kinh tế đơn thuần và thường được thực hiện bởi một tổ chức (đa
quốc gia hoặc phi chính phủ) nào đó.
1.1.2.2. Tỷ lệ vốn góp
Tỷ lệ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định cuả dự án
đạt mức tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước quy định.
Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, còn theo quy
định của OECD( 1996) thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu
quyết của doanh nghiệp- mức được công nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài
tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp. Việt Nam theo Luật đầu tư 2005 thì
không quy định vốn tối thiểu của chủ đầu tư nước ngoài.
1.1.2.3. Quyền kiểm soát
Chủ đầu tư nước ngoài, có toàn quyền quyết định đầu tư, quyết định sản
xuất kinh doanh, tự lựa chọn lĩnh vực, hình thức, thị trường, quy mô đầu tư để có
được lợi nhuận cao nhất và tự chịu trách nhiệm lỗ lãi. Vì vậy, hình thức đầu tư
này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về
chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế nước nhận đầu tư.
1.1.2.4. Thu nhập của chủ đầu tƣ
Thu nhập mà chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ
không phải lợi tức xuất phát từ đặc điểm có quyền tham gia kiểm soát doanh
nghiệp của họ.
1.1.2.5. FDI thƣờng kèm chuyển giao công nghệ
FDI thường kèm chuyển giao công nghệ cho nước nhận đầu tư.
http://svnckh.com.vn
8
Do trong hình thức đầu tư trực tiếp, các chủ đầu tư nước ngoài quan tâm
chính là lợi ích lâu dài hay mối quan hệ lâu dài trong các doanh nghiệp nhận đầu
tư, nên họ không những góp vốn bằng tiền mà còn mang theo cả công nghệ, trình
- Thay thế nhập khẩu
Trong giai đoạn đầu mới phát triển, do trình độ phát triển thấp, công nghệ,
máy móc thiết bị lạc hâu, thiếu vốn…nên năng lực sản xuất của khu vực kinh tế
trong nước của các nước đang phát triển yếu kém, không đáp ứng được nhu cầu
tiêu dùng trong nước, nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, chính nguồn
vốn FDI vào đã giúp các nước giải quyết được khó khăn trên: khu vực có vốn
FDI đã đáp ứng một phần nhu cầu hàng hóa trong nước, làm giảm căng thẳng
cung cầu, giảm sự phụ thuộc hàng nhập khẩu. Những năm sau, khi FDI vào sản
xuất vật chất ngày càng tăng, thì các doanh nghiệp có vốn FDI tham gia cung
ứng ngày càng nhiều các loại hàng hóa cho tiêu dùng trong nước và trong cơ cấu
nhập khẩu, tỉ trọng hàng tiêu dùng giảm xuống; thêm vào đó, chất lượng, chủng
loại hàng hóa phong phú đáp ứng nhu cầu trong nước.
- Hướng về xuất khẩu
Không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa, FDI ngày càng hướng mạnh vào xuất
khẩu: Nguồn ngoại tệ đáng kể từ xuất khẩu đã giúp các nước đang phát triển cải
thiện cán cân thương mại, nhập khẩu cũng thay đổi theo hướng tích cực. Cơ cấu
nhập khẩu thay đổi mạnh, tỷ trọng hàng máy móc thiết bị, công cụ sản xuất tăng.
FDI còn có những tác động tích cực đến cán cân vãng lai và cán cân thanh toán
nói chung. Ngoài nguồn thu từ xuất khẩu, các nguồn thu khác trong cán cân vãng
lai cũng chịu ảnh hưởng dây chuyền từ hoạt động FDI. Các dịch vụ phục vụ các
nhà đầu tư thu ngoại tệ được mở rộng và phát triển.
http://svnckh.com.vn
10
Khách quốc tế đến các nước đang phát triển với mục đích tìm hiểu cơ hội
đầu tư tăng lên, dịch vụ du lịch, khách sạn, vận chuyển hàng không…cũng theo
đó mà phát triển. Mặc dù ảnh hưởng của FDI đến cán cân thanh toán còn là vấn
đề tranh cãi, do quan điểm cho rằng nguồn lợi nhuận chuyển ra nước ngoài dần
sẽ lớn và có tác động bất lợi. Nguồn thu từ xuất khẩu và từ các dịch vụ thu ngoại
tệ sẽ ngày càng gia tăng, còn nhu cầu nhập khẩu sẽ ổn định.
kinh tế quốc dân (tập trung thu hút đầu tư vào những lĩnh vực cụ thể) mà không
làm mất đi đặc tính vốn có của nó là lấy doanh nghiệp nhà nước làm nòng cốt.
1.1.3.3. Theo quy định pháp lý
Cùng với sự đa dạng của nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư cũng đã
xây dựng được nhiều phương thức khác nhau nhằm thực hiện hành vi đầu tư của
mình.
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
Đây là hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh
được kí kết giữa hay hay nhiều bên (gọi là các bên hợp tác kinh doanh) để tiến
hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở nước nhận đầu tư trong đó quy
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không
cần thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới.
- Doanh nghiệp liên doanh
Đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài sẽ
cùng với nhà đầu tư trong nước góp vốn thành lập nên một công ty mới hoạt
động trên lãnh thổ nước tiếp nhận đầu tư, theo pháp luật nước sở tại. Liên doanh
có thể bao gồm nhiều nhà đầu tư nước ngoài với nhiều nhà đầu tư trong nước.
http://svnckh.com.vn
12
Hình thức này có đặc trưng là mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên
doanh là một pháp nhân riêng, nhưng doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân
độc lập, khi các bên đã đóng góp đủ số vốn quy định vào liên doanh thì dù một
bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn tồn tại.
Đây là phương pháp phổ biến nhất ở Viêt Nam trong thời gian quan hưng
cũng từ thực tế đã trải nghiệm cho thấy sự hợp tác này không phải lúc nào cũng
suôn sẻ và thường thì phía đối tác Viêt Nam do quản lý kém nên mất quyền kiểm
soát vào tay đối tác nước ngoài.
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước
+ Các tiêu chuẩn đối xử đối với FDI
+ Các cơ chế hoạt động của thị trường trong đó có sự tham gia của thành
phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Bên cạnh đó, một số các quy định, chính sách trong một số ngành, lĩnh
vực khác cũng có ảnh hưởng đến quyết định của chủ đầu tư như:
. Chính sách thương mại, gắn với sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.
. Chính sách tư nhân hóa, liên quan đến cổ phần hóa, bán lại các công ty.
. Chính sách tiền tệ, thuế có ảnh hưởng quan trọng đến sự ổn định của nền
kinh tế. Các chính sách này ảnh hưởng đến tốc độ lạm phát, khả năng cân bằng
ngân sách của nhà nước, lãi suất trên thị trường (Các chủ đầu tư đều muốn đầu tư
vào các thị trường có tỷ lệ lạm phát thấp và có các loại thuế thấp).
. Chính sách tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá các tài sản ở nước nhận đầu
tư, giá trị các khoản lợi nhuận của các chủ đầu tư được và năng lực cạnh tranh
của các hàng hóa xuất khẩu của các chi nhánh nước ngoài.
. Chính sách liên quan đến cơ cấu các ngành kinh tế và các vùng lãnh thổ
http://svnckh.com.vn
14
. Chính sách lao động.
. Chính sách giáo dục, đào tạo, chính sách y tế.
Nhìn chung các chủ đầu tư nước ngoài thích đàu tư vào những nước có
hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách đầy đủ, đông bộ, thông thoáng, minh bạch
và có thể dự đoán được. Điều này đảm bảo cho sự an toàn của vốn đầu tư.
Thứ hai là các yếu tổ của môi trường kinh tế: Nhiều nhà kinh tế cho rằng
các yếu tổ kinh tế của nước nhận đầu tư là những yếu tố có ảnh hưởng quyết
định trong thu hút FDI. Tùy động cơ của chủ đầu tư mà có các yếu tố sau:
- Các chủ đầu tư có động cơ tìm kiếm thị trường sẽ quan tâm đến các yếu
tố như dung lượng thị trường và thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng
trưởng của thị trường, khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới, các sở
thích đặc biệt của người tiêu dung ở nước nhận đầu tư và cơ cấu thị trường
Nguồn: UNCTAD 1998 (WIR) trang 91
Môi trƣờng đầu tƣ
Các yếu tố hỗ trợ
trong kinh doanh
- Xúc tiến đầu tư (bao
gồm các hoạt động xây
dựng hình ảnh, kêt gọi
đầu tư và các dịch vụ hỗ
trợ đầu tư)
- Khuyến khích đầu tư
Phụ phí ( liên quan đên
tham nhũng, thủ tục hành
chính…)
- Các dịch vụ tiện ích xã
hội đảm bảo chất lượng
cuộc sống cho chủ đầu tư
- Dịch vụ hậu đầu tư
Khung chính sách FDI
- Sự ổn định về kinh tế, chính trị và xã
hội
- Các quy định về việc thành lập và
hoạt động của các nhà đầu tư nước
ngoài
- Các quy tắc đối xử
nhưng giá rẻ
- Lao động có trình độ cao
- Công nghệ, phát minh sáng
chế và các tài sản khác do
doanh nghiệp sáng tạo ra ( Ví
dụ thương hiệu )
- Cơ sở hạ tầng ( viễn thông,
đường xá, cầu cống…
Tìm kiếm hiệu quả
- Chi phí mua sắm các
nguồn nguyên liệu và tài
sản
- Chi phí đầu vào khác như
chi phí vận chuyển và
thông tin liên lạc
- Tham gia hiệp định hội
nhập khu vực tạo thuận lợi
cho việc thành lập mạng
lưới các doanh nghiệp toàn
khu vực
http://svnckh.com.vn
16
-
Thứ ba là các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh, bao gồm chính sách
xúc tiến đầu tư, các biện pháp ưu đãi, khuyến khích đầu tư, giảm các tiêu cực phí
bằng cách giải quyết nạn tham nhũng, cải cách thủ tục hành chính.
1.2. Một số vấn đề lý luận về cụm công nghiệp
1.2.1. Khái niệm cụm công nghiệp
Như vậy, theo quan điểm thế giới, cụm công nghiệp có hai đặc điểm
chung là sự tập trung về mặt địa lý và của doanh nghiệp có quan hệ mật thiết,
liên đới với nhau trong cạnh tranh.
CÁC NGÀNH KINH DOANH
CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ
CÁC NGÀNH LIÊN QUAN
Các nhà cung cấp
trình độ trung cấp
Các nhà cung cấp
vốn, hàng hoá
Dịch vụ sản xuất
Tư vấn
Hợp đồng R&D
Giáo dục (trường đại
học, cao đẳng)
Đào tạo
Phòng thí nghiệm
R&D
Các cơ quan phát
triển
Cơ quan pháp lý
Công nghệ tương
tự
Chia sẻ chung
nguồn nhân lực
Chiến lược giống
hình thức khu công nghiệp – khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp
http://svnckh.com.vn
19
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng
công nghiệp có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính
phủ hoặc Thủ tưóng Chính phủ quyết định thành lập (Nghị định 36/CP ngày
24/4/1997) – song bên cạnh những điểm tương đồng, cụm công nghiệp và khu
công nghiệp vẫn có nhiều điểm khác nhau rõ rệt:
1
- Quy mô cụm công nghiệp nhỏ hơn khu công nghiệp: cụm công nghiệp
có quy mô từ 50 ha đến 70 ha, khu công nghiệp thường lớn hơn 100 ha
2
- Cơ sỏ hạ tầng của khu công nghiệp thường được trang bị tốt và hiện đại
hơn, vị trí địa lý cũng thuận lợi hơn, so với cụm công nghiệp.
- Sự thành lập khu công nghiệp nhằm thu hút các doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp, dịch vụ có quy mô lớn cả trong, ngoài nước, còn cụm công nghiệp
chủ yếu các doanh nghiệp quy mô nhỏ, sản xuất công nghiệp dịch vụ trong nước.
1.2.2. Đặc điểm cụm công nghiệp
Qua một số khái niệm về cụm công nghiệp đưa ra ở trên, có thể thấy có
khá nhiều quan điểm khác nhau về cụm công nghiệp, tuy nhiên, nhìn chung các
quan điểm đều có chung một số đặc điểm chính về cụm công nghiệp như sau:
1.2.2.1. Tập trung về mặt địa lý
Cụm công nghiệp là một khu vực với quy mô nhỏ bao gồm nhiều doanh
nghiệp tập trung sản xuất các mặt hàng có liên quan với nhau, nhờ có tính tập
trung, chi phí sản xuất và chi phí quản lý của các doanh nghiệp trong cụm công
nghiệp được tiết kiệm đáng kể. Ngoài ra, sự tập trung theo địa lý của các doanh
nghiệp cũng được tiết kiệm đáng kể, tạo ra các thể chế thúc đẩy sự hình thành và
thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đường xá, hệ thống điện nước,
điện thoại…tạo thuận lợi cho việc liên kết, kết nối, vận tải, thông tin liên lạc, các
yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp. Rõ ràng yếu tố cơ sở hạ tầng hiện đại và
đồng bộ là yếu tố gắn liền với sự phát triển của cụm công nghiệp.
http://svnckh.com.vn
21
1.2.3. Phân loại cụm công nghiệp
1.2.3.1. Theo hình thức tổ chức
- Cụm công nghiệp làng nghề
Hoạt động sản xuất tiểu - thủ công nghiệp ở nước ta đã có từ rất sớm và
song song với sự hình thành, phát triển của các làng, xã trong suốt chiều dài lịch
sử của nông thôn, do vậy, nhiều làng nghề truyền thống đã trở nên nổi tiếng.
Nét nổi bật của sản xuất làng nghề là thường tổ chức theo hộ gia đình, tại
nhà. Tuy nhiên, cùng với xu thế phát triển sản xuất của làng nghề, hình thức tổ
chức sản xuất này đã bộc lộ nhiều hạn chế, nổi bật nhất là khó khăn trong việc
mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng công nghệ hiện đại và gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng tại các làng nghề. Vì thế, những năm gần đây, ở nhiều nơi
đã hình thành các cụm công nghiệp làng nghề. Cụm công nghiệp làng nghề ra
đời góp phần làm tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tăng thu ngân sách, làm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích cực, tạo công ăn việc làm
và nâng cao thu nhập , đời sống cho dân cư…. và được thành lập theo quyết định
của chính quyền địa phương (tỉnh hoặc huyện).
Cụm công nghiệp với mục tiêu là phát triển sản xuất kinh doanh công
nghiệp, trên cơ sở giải quyết tốt vấn đề tạo ra kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật và
môi trường, thực hiện tách biệt khu sản xuất khỏi khu dân cư sinh sống.
Đối tưọng vào cụm công nghiệp làng nghề là các cơ sở sản xuất, kinh
doanh (doanh nghiệp vừa, nhỏ, hộ kinh doanh gia đình) ở làng nghề chuyển đến.
- Cụm công nghiệp hiện đại
Cụm công nghiệp hiện đại là loại hình cụm công nghiệp được xây dựng
23
ngành hoạt động trong lĩnh vực ngành dệt may, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp
chế tạo, sản xuất nguyên phụ liệu…
Đặc trưng của các cụm công nghiệp chuyên ngành là phần lớn thuộc lĩnh
vực công nghệ cao, hàm lượng chất xám khá, tỷ suất đầu tư lớn, đòi hỏi lực
lượng lao động có tay nghề cao, đã qua trường lớp đào. Sản phẩm của cụm công
nghiệp đã rất nổi tiếng và có giá trị lớn về nhiều mặt đối với kinh tế - xã hội.
1.3.Vai trò của đầu từ nƣớc ngoài và phát triển cụm
công nghiệp
1.3.1. Vai trò đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với nền kinh tế
1.3.1.1. Đối với nƣớc nhận đầu tƣ
- Bổ sung nguồn vốn
FDI là một trong những nguồn quan trọng, để bù đắp sự thiếu hụt về vốn
ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là đối với các nước kém phát triển.
Vốn đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công
nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động vv Từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng
tích lũy cho sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên để tạo ra vốn cho nền kinh tế chỉ trông chờ vào vốn nội bộ thì
hậu quả khó tránh khỏi là sẽ tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó
vốn nước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp phần đột phá vào cái “vòng luẩn
quẩn” đó, để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho các nước nhận
đầu tư. Không như vốn vay nước đầu tư chỉ nhận một phần lợi nhuận thích đáng,
khi công trình đầu tư hoạt động có hiệu quả. Hơn nữa, lượng vốn này còn có lợi
thế hơn nguồn vốn vay ở chỗ: thời hạn trả nợ vốn vay thường cố định, đôi khi
quá ngắn so với một số dự án đầu tư, còn thời hạn vốn FDI thì linh hoạt hơn.
http://svnckh.com.vn
24
Như vậy đầu tư nước ngoài đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư