Phát triển kinh tế tư nhân ở Trung Quốc và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGÔ THỊ THU HÀ Phát triển kinh tế tư nhân ở Trung Quốc và bài học
kinh nghiệm đối với Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS. Vũ Đức Thanh Hà nội - 2004
2.1.3 Giai đoạn 1992 đến nay: Kinh tế tư nhân được khuyến khích
và hỗ trợ phát triển 46
2.1.4 Đặc điểm phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Trung Quốc 53
2.2 Đánh giá thực trạng khu vực kinh tế tư nhân ở Trung Quốc
hiện nay 57
2.2.1 Những đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân đối với nền kinh tế 57
2.2.2 Những vấn đề còn tồn tại trong khu vực kinh tế tư nhân ở Trung
Quốc 66

Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm Trung Quốc nhằm phát triển kinh tế
tư nhân ở Việt Nam
3.1 Thực trạng kinh tế tư nhân Việt Nam. Những nét tương đồng
và khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc trong sự phát triển
kinh tế tư nhân 77
3.1.1 Khái quát về chính sách phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
thời kỳ Đổi mới 77
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam thời kỳ Đổi mới 80
3.1.3 Những nét tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Trung
Quốc trong phát triển kinh tế tư nhân – cơ sở để vận dụng
kinh nghiệm Trung Quốc 86
3.2 Một số bài học kinh nghiệm Trung Quốc và định hướng vận
dụng để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam 90
3.2.1 Đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và kinh tế tư nhân 90
3.2.2 Xây dựng thể chế tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế tư nhân 96

KẾT LUẬN 111


Mục tiêu: Xem xét thực trạng phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Trung
Quốc kể từ khi tiến hành cải cách kinh tế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối
với Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân.
Phạm vi: Luận văn một mặt đề cập đến các chính sách kinh tế vĩ mô của
Chính phủ Trung Quốc đối với việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân, mặt khác
phân tích thực trạng của khu vực kinh tế tư nhân ở các khía cạnh như số lượng
doanh nghiệp, số vốn đăng ký và thực hiện, vai trò và những đóng góp của khu
vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế và tình hình các cơ sở sản xuất, kinh doanh
tư nhân nói chung.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác – Lênin và các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như tổng
hợp, phân tích, thống kê, so sánh…dựa trên các nguồn tài liệu thu thập được về
kinh tế tư nhân.
4. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, kinh tế tư nhân ở Trung Quốc được nhiều người,
nhiều tổ chức, nhiều giới quan tâm nghiên cứu. Năm 2001, Tề Quế Trân cho ra
mắt bạn đọc cuốn :” Trung Quốc 20 năm cải cách mở cửa cải cách chế độ sở
hữu”. Năm 2002, TS Nguyễn Kim Bảo cùng tập thể tác giả đã cho xuất bản
cuốn “Thể chế kinh tế thị trƣờng xã hội chủ nghĩa có đắc sắc Trung Quốc”
trong đó đã đề cập một cách hệ thống về những đột phá lý luận về chế độ sở hữu
ở Trung Quốc, là cơ sở để khu vực kinh tế tư nhân ra đời và phát triển. Cũng có
rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo quan tâm dến đề tài này. Bài “Phát
triển doanh nghiệp nông thôn: Kinh nghiệm tƣơng phản giữa Trung Quốc
và Việt Nam” của tác giả Đinh Trọng Thắng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh
tế số 303- tháng 8/2003 là một ví dụ. Ngoài ra cũng có rất nhiều tổ chức quan
tâm đến sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Trung Quốc. Chương trình phát
triển Dự án Mê-Kông (MPDF) và tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) sau một thời

- 3 -

Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƯ NHÂN Ở TRUNG QUỐC

1.1. KHÁI LUẬN VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN
1.1.1 Sở hữu tƣ nhân và kinh tế tƣ nhân
Để tồn tại và phát triển, con người phải không ngừng chiếm hữu những
của cải của tự nhiên nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Chiếm hữu hay
sản xuất trước hết chính là mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên. Trình
độ phát triển của chiếm hữu thể hiện ở cách thức, phương tiện và kết quả mà nó
thu được, nói lên trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Song sự chiếm hữu hay sản xuất không thể là một hành vi cá nhân. Nói
cách khác, trong quá trình chiếm hữu giới tự nhiên, con người phải có những
quan hệ với nhau – tức là phải có những quan hệ xã hội mà thể hiện cơ bản là sự
thừa nhận lẫn nhau về những cơ sở và kết quả của sự chiếm hữu. Đó chính là sở
hữu.
Vậy, sở hữu là hình thức xã hội của quá trình chiếm hữu của cải vật chất,
trong đó thể hiện quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất.
Trong thực tế lịch sử, quan hệ sở hữu hình thành và từng bước hoàn thiện, khi
đạt đến độ ổn định và phổ biến thì trở thành những quy ước xã hội (thành văn
hoặc không thành văn), được cộng đồng xã hội chính thức thừa nhận. Khi các
nhà nước ra đời, nhằm ổn định xã hội, các nhà nước thể chế hoá quyền sở hữu
bằng pháp luật – chế độ sở hữu được thiết lập.
Cũng vì thế, sở hữu bao hàm những nội dung kinh tế xác định và đồng
thời, cũng xác định về mặt pháp lý. Quyền sở hữu xác định quyền năng của chủ
thể sở hữu trong việc sử dụng, định đoạt và hưởng lợi từ việc khai thác các đối

- 5 -
tượng sở hữu – các điều kiện của sản xuất, trong đó quan trọng nhất là các tư
liệu sản xuất.

độ cao hơn và sở hữu tư nhân cũng như kinh tế tư nhân cũng có những bước
phát triển tương ứng.
Kinh tế hàng hoá giản đơn của người tiểu chủ, dưới tác động của các quy
luật thị trường, đặc biệt là bởi quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản chủ nghĩa,
đã phát triển thành kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Nền tảng của nền kinh tế
hàng hoá tư bản chủ nghĩa là sở hữu của tư bản tư nhân đối với tư liệu sản xuất.
Khác với kinh tế tư nhân của những người tiểu chủ, kinh tế tư nhân tư bản chủ
nghĩa hoạt động trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê. Chủ nghĩa tư bản tư nhân
đạt được trình độ phát triển cao nhất trong thế kỷ XIX.
Tuy nhiên, sự thống trị của kinh tế tư bản tư nhân trong chủ nghĩa tư bản
không đồng nghĩa với việc thủ tiêu hoàn toàn sở hữu tư nhân cá thể và các hình
thức hoạt động của kinh tế tiểu chủ. Trái lại, trong điều kiện chủ nghĩa tư bản,
vẫn tồn tại đông đảo những ngời tư hữu nhỏ và kinh tế tư nhân trực tiếp sản xuất
và quản lý sản xuất. Mặt khác, không giống như một số tiên đoán của các nhà
kinh tế Mác-xít, kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa không phải là hình thức cuối
cùng của sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất, của nền kinh tế thị trờng đã từng bước chuyển hoá nền kinh tế do tư bản tư
nhân thống trị thành nền kinh tế hỗn hợp trong thế giới hiện đại. Ngày nay, ở các
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhất, cùng với sở hữu của tư bản tư nhân,
nền kinh tế còn được cấu thành bởi khu vực kinh tế nhà nước (trên cơ sở sở hữu
nhà nước), kinh tế tiểu chủ, kinh tế hợp tác xã và nhiều hình thức kinh tế hỗn
hợp khác.
Một sự thật khác cũng chứng tỏ sức sống của kinh tế tư nhân - đó là trư-
ờng hợp các nền kinh tế trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Mở đầu bằng Cách
mạng tháng Mười Nga và sự xác lập của Liên bang Xô-viết – nhà nước xã hội
chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, chủ nghĩa xã hội đã nhanh chóng phát triển

- 7 -
thành một hệ thống kinh tế sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Hệ thống xã hội
chủ nghĩa hình thành trên cơ sở thủ tiêu sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và mọi

bằng chủ nghĩa xã hội. Sau Mác, Lê-nin cũng lại cho rằng, kinh tế hàng hoá nhỏ
của người tiểu nông, tiểu chủ hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản và do
đó chủ nghĩa xã hội cần cải tạo họ trở thành những người lao động tập thể. Tuân
theo những di huấn này, mọi loại hình kinh tế tư nhân bị kỳ thị và đã bị cải tạo
triệt để trong các quốc gia chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Trước
thời điểm hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, ở các quốc gia này đã diễn ra quá
trình bùng phát của kinh tế tư nhân dới nhiều hình thức. Trong khi cơ cấu của hệ
thống kinh tế công cộng chưa bị phân giải, nền kinh tế là một hệ thống nhiều
thành phần và nhà nước giữ một thái độ phân biệt đáng kể giữa chúng, theo một
trình tự ưu tiên mà kinh tư nhân theo đúng nghĩa của nó xếp ở bậc cuối cùng.
Ngày nay, ở các quốc gia này, với những mức độ khác nhau, các loại hình kinh
tế phi nhà nước đang có xu hướng được xếp chung vào khu vực kinh tế tư nhân
theo một tiêu chí thống nhất.
Trong luận văn này, Kinh tế tư nhân hiểu theo nghĩa hẹp: Bao gồm các
đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước, loại trừ các doanh nghiệp tập thể và các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1.1.2 Đặc điểm của kinh tế tƣ nhân
Nếu so với kinh tế nhà nước hoặc các loại hình kinh tế tập thể khác, kinh tế
tư nhân có một số đặc điểm nổi bật. Quan trọng nhất là:
- Kinh tế tư nhân có quan hệ quyền tài sản rõ ràng, doanh nghiệp có toàn bộ
quyền tài sản pháp nhân, trở thành thực thể pháp nhân được hưởng quyền lợi
dân sự và gánh vác trách nhiệm dân sự.
- Doanh nghiệp sử dụng toàn bộ tài sản pháp nhân, dựa theo pháp luật mà tự
chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi, nộp thuế theo quy định, chịu trách nhiệm đối với
sự bảo tồn và gia tăng giá trị vốn đầu tư của những nhà đầu tư

- 9 -
- Người đầu tư được hưởng quyền hạn, lợi ích của người sở hữu theo lượng
vốn của họ đầu tư vào doanh nghiệp tức là họ được hưởng lợi nhuận theo vốn ,
được tham gia quyết định những quyết sách quan trọng và bầu cử những người

giải quyết những vấn đề liên quan đến cộng đồng trong kinh doanh. Mặt khác,
do các doanh nghiệp tư nhân xem lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu nên đôi khi
dẫn đến những xung đột thị trường, cạnh tranh không lành mạnh. Hiện tượng
các doanh nghiệp tư nhân né tránh những kiểm soát của Nhà nước, trốn thuế …
không phải là không có. Một điều nữa mà doanh nghiệp tư nhân làm chưa thật
tốt là việc đảm bảo quyền lợi và an toàn của người lao động.
Tuy có một số nhược điểm nêu trên nhưng vai trò của kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế thị trường là không thể phủ nhận.
1.1.3 Vai trò của kinh tế tƣ nhân trong nền kinh tế thị trƣờng
Trong nền kinh tế thị trường, sự tăng trưởng và phát triển của khu vực kinh tế tư
nhân và sự phát triển của cộng đồng gắn liền với nhau trong mối quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau. Khu vực kinh tế tư nhân phát triển sẽ đem lại thu nhập cao hơn,
y tế và giáo dục tốt hơn cho người dân trong cộng đồng. Mặt khác, đối với các
doanh nghiệp, thu nhập cao hơn có nghĩa là thị trường rộng lớn hơn, sức khoẻ và
giáo dục tốt hơn thì lực lượng lao động có năng suất cao hơn và năng suất cao
hơn sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế
thị trường được thể hiện trên nhiều khía cạnh của đời sống xã hội như phát triển
kinh tế, phát triển xã hội và có ảnh hưởng tích cực đến khu vực kinh tế công.
* Đối với phát triển kinh tế:
Mục tiêu kinh tế của phát triển là nhằm tạo cho người dân có mức thu nhập cao
hơn thông qua sự tăng trưởng nhanh trong tổng sản phẩm quốc nội. Trong nền
kinh tế thị trường, điều này có thể đạt được cùng với nỗ lực của khu vực công và
khu vực tư nhân.
Thứ nhất, một trong những đóng góp quan trọng của khu vực tư nhân đối
với phát triển kinh tế là khả năng huy động vốn cho việc sản xuất các hàng hoá

- 11 -
và dịch vụ. Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất. Ở các
nước đang phát triển nguồn vốn rất khan hiếm, đặc biệt với các nền kinh tế
chuyển đổi như Trung Quốc và Việt Nam thì nguồn vốn càng khan hiếm hơn khi

công nghệ không phải lúc nào cũng hàm ý là công nghệ tiên tiến nhất mà ở đây
là công nghệ phù hợp với những điều kiện của quá trình sản xuất xét về mặt cấu
thành chi phí và các nguyên vật liệu đầu vào sẵn có. Nếu đem so sánh với các
doanh nghiệp nhà nước thì rõ ràng các chủ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế
tư nhân phải đối mặt trực tiếp với những chi phí thực tế về sản xuất, lao động,
vốn, nguyên vật liệu. Quá trình tìm kiếm công nghệ phù hợp của một doanh
nghiệp góp phần vào việc phân bố một cách có hiệu quả nguồn lực khan hiếm
trong nền kinh tế.
Thứ tư, phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo nguồn thu thuế cho Chính
phủ. Thông qua hệ thống thuế, các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả sẽ đóng
góp vào tăng nguồn thu cho ngân sách. Các khoản đóng góp này giúp duy trì bộ
máy hoạt động của Chính phủ, là nguồn quan trọng để xây dựng phần lớn các cơ
sở hạ tầng kinh tế xã hội cần thiết. Để đảm bảo vững chắc nguồn thu này, điều
quan trọng là cơ cấu thuế, quy trình thu thuế, quá trình kiểm toán cần được phát
triển phù hợp sao cho việc trốn thuế và các tác nhân xấu ảnh hưởng tới sự tăng
trưởng và hiệu quả được tối thiểu hoá.
* Đối với phát triển xã hội
Xét về tổng thể, mục tiêu của phát triển xã hội là tạo nên sự công bằng về cơ
hội cho tất cả các thành viên trong xã hội bất kể vị thế kinh tế và xã hội của họ
thông qua các dự án xã hội. Những dự án này bao gồm giáo dục và đào tạo, sức
khoẻ, nhà ở, trợ giúp cho sự phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ…
Về trách nhiệm xã hội, nhiều công ty thuộc khu vực kinh tế tư nhân xem
trách nhiệm xã hội như là trách nhiệm của họ, hành động với tư cách như những
công dân tốt trong xã hội, nhằm đảm bảo rằng những mối quan tâm của xã hội
như môi trường, an toàn của khách hàng… Tại một số quốc gia, các doanh

- 13 -
nghiệp tư nhân thường tuân thủ tốt hơn những quy định về môi trường so với
các doanh nghiệp nhà nước.
Về việc thực hiện các dự án xã hội, ở nhiều quốc gia cho thấy một thực tế là

doanh nhân làm việc cùng nhau sẽ tạo ra những chính sách, kế hoạch mang tính
thực tế hơn, tập trung hơn. Ở phần lớn các nền kinh tế thị trường, doanh nhân
thường được mời vào một vị trí tạm thời ở khu vực công, từ đó họ có thể có cơ
hội truyền tải phương pháp làm việc, cách tổ chức sắp xếp công việc cho các
nhân viên chính phủ.
Một trong những khó khăn mà các nhà kế hoạch và hoạch định chính sách
trong nền kinh tế thị trường gặp phải là việc dự báo tác động và kết quả của các
chính sách vì họ phải dựa trên các phản ứng của khu vực tư nhân đối với các
chính sách này. Bằng cách đưa khu vực tư nhân tham gia một cách chủ động vào
quá trình hoạch định và xây dựng chính sách, vân đề khó khăn này sẽ dược tối
thiểu hoá. Nhờ có sự tham gia của các đại diện khu vực kinh tế tư nhân, chúng ta
có thể hình dung được tác động có thể có của một chính sách nhất dịnh xét dưới
góc độ phản ứng khu vực doanh nghiệp. Khu vực tư nhân có thể cung cấp những
chỉ dẫn trong việc lựa chọn chính sách, và cũng nhờ có khu vực này mà chính
sách mang tính kịp thời và cập nhật hơn. Tham gia của khu vực tư nhân vào việc
xây dựng chính sách và giám sát thực hiện cũng đảm bảo việc đạt được các mục
tiêu của chính sách đề ra.
Việc tham gia hiệu quả của khu vực tư nhân trong việc xây dựng chính sách
đòi hỏi khu vực tư nhân phải được tổ chức sao cho những vấn đề cần phải có
chính sách mới hay cần phải có sự thay đổi chính sách có thể được thảo luận
một cách tự do, độc lập ở khu vực tư nhân và họ có quyền tự do bầu cử cho
những người đại diện của họ vào các cơ quan xây dựng chính sách. Sự thành
công trong việc tham gia của khu vực tư nhân phụ thuộc vào việc các tổ chức tư
nhân này được tổ chức hiệu quả và vững chắc như thế nào. Kinh nghiệm ở các
nước cho thấy trình độ giáo dục của chủ doanh nghiệp và quy mô doanh nghiệp

- 15 -
không phải là những nhân tố quan trọng đảm bảo tham gia có hiệu quả với tư
cách là một đối tác của chính phủ trong hoạt động kế hoạch, xây dựng chính
sách và giám sát thực hiện.

sản xuất công nghiệp, trước hết là công nghiệp gang thép. Khẩu hiệu “vượt
Nhật, đuổi kịp Mỹ” được tuyên truyền sâu rộng khắp nơi, thôi thúc guồng máy
công nghiệp làm việc không ngừng nghỉ. Người người luyện gang thép, nhà nhà
luyện gang thép và tiến tới toàn dân luyện gang thép. Kết quả là đến cuối năm
1959, sản lượng gang thép toàn quốc đã đạt đến 13,87 triệu tấn, giá trị tích luỹ
xã hội lên tới 43,9% và do vậy chỉ tiêu năm 1960 đã được nâng lên 18,4 triệu
tấn. Tuy nhiên trong tổng khối lượng gang thép khổng lồ này có tới hàng triệu
tấn thép không đủ tiêu chuẩn và do đó không thể sử dụng được, gây ra sự lãng
phí vô cùng to lớn về sức người và của. Hơn thế nữa, việc tập trung quá mức
vào luyện gang thép khiến nông nghiệp bị bỏ bê, sản lượng lương thực liên tục
bị sụt giảm dẫn đến nạn đói xảy ra ngay sau đó. Năm 1958, sản lượng lương
thực đạt 200 triệu tấn, đến năm 1959 giảm còn 170 triệu tấn và năm 1960 chỉ
còn 143,5 triệu tấn. Nền kinh tế trở nên rệu rã, phát triển không đồng đều. Nếu
trong công nghiệp, tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 11% thì ngành nông nghiệp
và dịch vụ lần lượt chỉ đạt 3,2% và 4,2%. Mặt khác, công cuộc công nghiệp hoá
lại lấy phát triển công nghiệp nặng làm đầu và cuốn mọi nguồn lực vào sản xuất
tư liệu sản xuất, trong khi đó tư liệu tiêu dùng phục vụ đời sống nhân dân khan
hiếm trầm trọng khiến cho người dân vốn đã thiếu thốn nay càng khó khăn hơn.
Như vậy, với “Đại nhảy vọt”, “Ba ngọn cờ hồng”, “Toàn dân làm gang
thép”, “Công xã nhân dân”… đã đưa Trung Quốc vào thảm hoạ lạc hậu, đói
nghèo, toàn bộ nền kinh tế trở nên trì trệ, méo mó.
1.2.2 Kinh tế tƣ nhân ở Trung Quốc trƣớc cải cách
Sau ngày thành lập nước, năm 1949, Trung Quốc nhanh chóng hình thành
khu vực kinh tế nhà nước lớn mạnh với sự giúp đỡ của Liên Xô lúc bấy giờ. Vào

- 17 -
năm 1949, doanh nghiệp tư nhân chiếm 63,3% sản lượng công nghiệp nhưng
đến năm 1952, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 39%. Trong thời gian đó, chính phủ
kiểm soát khu vực tư nhân thông qua biện pháp quốc hữu hoá. Đến năm 1952,
56% sản phẩm đầu ra của khu vực tư nhân là theo đặt hàng của nhà nước hay

và xây dựng hàng loạt xí nghiệp quốc doanh theo mô hình “to, dày, dài” (sản
lượng, quy mô và kế hoạch). Các Hợp tác xã thủ công nghiệp được quá độ lên
chế độ sở hữu toàn dân. Sở hữu tư nhân bị xóa bỏ.
Bước sang giai đoạn 1961 – 1965, Trung Quốc phải tiến hành một loạt
các biện pháp điều chỉnh kinh tế để khắc phục hậu quả của cuộc “Đại nhảy vọt”.
Tuy vẫn duy trì công xã nhân dân nhưng lúc này quyền sở hữu đất đai đã được
giao cho các xã, tổ, đội sản xuất, một số tư liệu được giao lại cho nông dân như
các thửa ruộng phần trăm, nhà ở, đất vườn bị trưng thu trước đây, kinh tế phụ
gia đình được hồi phục. Chính quyển Trung ương đã hé mở cánh cửa cho các
doanh nghiệp cá thể quy mô nhỏ được hoạt động, bao gồm cả các hộ thủ công.
Tuy nhiên, giai đoạn tồn tại thứ hai này diễn ra khá ngắn ngủi vì cuộc
“Đại cách mạng văn hóa” bùng nổ từ năm 1966 đến 1978 đã triệt tiêu hoàn toàn
khu vực kinh tế tư nhân. Cơ chế kinh tế của Trung Quốc lại quay trở về thời kỳ
của “Đại nhảy vọt”, các biện pháp kinh tế được tiến hành chặt chẽ hơn, nền kinh
tế được tổ chức kiểu quân sự nghiêm ngặt và chủ nghĩa bình quân được áp dụng
triệt để. Kinh tế tư nhân bị xoá bỏ hoàn toàn.
1.2.3 Yêu cầu bức thiết của sự phát triển kinh tế tƣ nhân
* Bối cảnh quốc tế:
Cuối những năm 80s, thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ của Liên Xô và hệ
thống các nước XHCN ở Đông Âu, kéo theo đó là một loạt những cuộc khủng
hoảng trầm trọng và kéo dài. Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra cấp bách đối với
các nước XHCN là phải cải tổ cơ bản toàn bộ nền kinh tế.
Qua hơn 10 năm thực hiện cải cách (1989 – 2000), không chỉ Liên Xô
(cũ) mà những quốc gia Đông Âu đều lần lượt bước ra khỏi “vũng lầy” suy thoái

- 19 -
và đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao. Trong khu vực này,
GDP tính theo đầu người năm 1999 (tính theo PPP) đạt bình quân 10.009 USD
trong đó Ba Lan có tốc độ tăng trưởng cao nhất vào năm 1995: 7%, sau đó là
6,8% vào năm 1996 và 5,2% vào năm 2000 với mức GDP bình quân đầu người

Estonia cũng sử dụng phương pháp này. Cùng với Ba Lan, Hungary thực hiện tư
nhân hoá bằng cách bán dần từng xí nghiệp cho các ông chủ trong nước hoặc
nước ngoài (biện pháp tuần tự). Tuy nhiên, các nước dù tiến hành dưới hình thức
nào thì cũng đi tới kết quả thu hẹp khu vực kinh tế Nhà nước, sở hữu Nhà nước
và mở rộng khu vực kinh tế tư nhân, sở hữu tư nhân.
Theo Ngân hàng tái thiết Châu Âu, năm 2000, đóng góp của khu vực kinh
tế tư nhân ở các nước đang chuyển đổi là tương đối lớn. Cụ thể:
Hungary và CH Séc: đóng góp 80% GDP
Estonia: đóng góp 75% GDP
Ba Lan: đóng góp 65% GDP
Slovenia: đóng góp 55% GDP
Như vậy, kinh tế tư nhân ở Nga và Đông Âu từ chỗ không tồn tại nay trở
thành khu vực quan trọng thậm chí quyết định trong nền kinh tế quốc dân, đã và
đang góp phần tô lại bức tranh sáng sủa ở những quốc gia này.
Trên thế giới, chương trình phi quốc hữu hoá đầu tiên sau chiến tranh (với
cái tên tư nhân hoá) đã diễn ra ở Đức vào đầu những năm 60s khi Chính phủ bán
hãng Volkswagen và công ty công nghiệp VEBA cho khu vực tư nhân. Ngay
sau đó, hoạt động này xuất hiện ngày càng nhiều và trở thành một chương trình
kinh tế mang ý nghĩa sống còn đối với rất nhiều quốc gia.
Trong khu vực ASEAN, các nước đi đầu trong phong trào tư nhân hoá
bao gồm: Singapo, Malaysia, Thái Lan… Mục tiêu cuối cùng của chương trình
mở rộng khu vực tư nhân của các chính phủ ở đây là: Thứ nhất, nâng cao hiệu
quả và năng suất trong khu vực quốc doanh; thứ 2, tăng cường khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp quốc doanh nói riêng và các thực thể kinh tế nói chung;
thứ ba là giảm bớt gánh nặng ngân sách Nhà nước.
Trong thời kỳ những năm 1950 – 1980, tình trạng yếu kém của khu vực
kinh tế Nhà nước đã khiến Chính phủ phải thực hiện một loạt những hoạt động
hỗ trợ gây thâm hụt ngân sách nặng nề, kèm theo đó là tệ “cạnh tranh không

- 21 -

dẫn, điều tiết cơ chế tự do của thị trường. Đồng thời, quy luật giá trị đã được
công nhận, thể hiện ở sự xoá bỏ từng bước độc quyền Nhà nước về giá thu mua
ngũ cốc và xoá bỏ giá cả do Nhà nước quy định về thịt, cá, trứng, rau quả (năm
1985), máy thu hình đen trắng, tủ lạnh, máy giặt (1986)… Trên cơ sở đó, Trung
Quốc thực hiện cải cách hàng loạt từ nông thôn rồi lan ra thành thị: cải cách tiền
lương và giá cả(1988), cải cách nông nghiệp, công nghiệp, tài chính – ngân
hàng, ngoại thương… và đặc biệt cho phép doanh nghiệp tư nhân tồn tại từ năm
1987.
Sau sự kiện Thiên An Môn, quá trình cải cách chững lại một thời gian
song ngay sau đó, với sức mạnh không gì ngăn cản nổi, thể chế kinh tế thị
trường lại trỗi dậy mãnh liệt ở Trung Quốc như một tất yếu không thể đảo
ngược. Đến đầu năm 1990, phạm vi của các chính sách điều chỉnh đã chuyển
sang hướng kích thích thị trường. Hệ thống “hai giá song song” bị từ bỏ với một
số loại nguyên liệu và vào tháng 11/1992, thị trường chứng khoán Thượng Hải
chính thức được thành lập. Sau bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình năm 1992
nhân chuyến đi thăm một số tỉnh miền Nam đã cởi bỏ mọi nghi hoặc về con
đường đi tới kinh tế thị trường ở Trung Quốc. “Kinh tế kế hoạch hoá không tự
nó là XHCN, CNTB cũng sử dụng kế hoạch. Ngược lại, Kinh tế thị trường
không có nghĩa tự nó là CNTB, vì CNXH cũng có thị trường của nó. Kế hoạch
và thị trường, cả hai đều là những phương tiện kinh tế mà thôi”
1
. Không chỉ trên
văn bản pháp lý mà kể từ đây kinh tế thị trường đã chính thức được thừa nhận
trong hệ tư tưởng của người Trung Quốc. Không còn sự phân biệt CNTB và
CNXH qua cơ chế “kế hoạch” hay “thị trường”, thay vào đó, quy luật giá trị đã
lấy lại vị trí quan trọng và bắt đầu thực hiện chức năng điều chỉnh vốn có của
nó. Các nguồn lực sản xuất trong xã hội được phân bổ hợp lý hơn dựa trên sự
khan hiếm thực sự, giá cả được quyết định theo quan hệ cung – cầu. Nhà nước

1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status