1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
*** KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở NHẬT BẢN VÀ
KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: Trần Việt Khánh
Mã sinh viên: 0852010102
Lớp: Anh 11 – Khối 3 QT
Khóa: 47
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Tuyết
Nhung Hà Nội, tháng 5 năm 2012
2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN 9
1.1. Một số khái niệm cơ bản 9
1.1.1. Kinh tế tư nhân 9
1.1.2. Phân biệt sự khác nhau giữa kinh tế tư nhân và kinh tế tư bản tư nhân . 11
1.2. Các hình thức của kinh tế tư nhân 12
3.1.3. Yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới 74
3.2. Một số đề xuất trong việc vận dụng kinh nghiệm của Nhật Bản nhằm phát
triển kinh tế tư nhân của Việt Nam 77
3.2.1. Về phía Nhà nước 77
3.2.2. Về phía doanh nghiệp 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Tên đầy đủ Viết tắt
1
Chương trình Phát triển Dự án Mê kông:
Mekong Project Development Facility
MPDF
2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV
3
Hệ số sử dụng vốn: Incremental Capital –
Output Rate
ICOR
4
Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch:
General Agreement of Tariffs and Trade
GATT
DANH MỤC ĐỒ THỊ – BẢNG BIỂU
Đồ thị:
STT Ký hiệu Tên đồ thị Số Trang
1 Đồ thị 2.1
Tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản gia nhập
và rút lui qua các thời kỳ
40
Bảng biểu:
STT Ký hiệu Tên bảng biểu Số Trang
1 Bảng 2.1
Phân bố doanh nghiệp theo quy mô các
ngành phi nông nghiệp
26
2 Bảng 3.1
Vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế
thực hiện năm 2011
56
3 Bảng 3.2
Giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá
thực tế phân theo ngành hoạt động giai
đoạn 2006 – 2010
58
4 Bảng 3.3
Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo
giá thực tế phân theo thành phần kinh tế
giai đoạn 2006 – 2010
59
5 Bảng 3.4
cái hay, áp dụng vào nền kinh tế, sao cho phù hợp với điều kiện của đất nước.
Tóm lại, việc nhận thức về vai trò, thực trạng và xu thế phát triển của kinh tế
tư nhân đang trở thành nhu cầu cấp thiết của không chỉ các nhà hoạch định chính
sách vĩ mô mà còn với bất kỳ ai quan tâm tới tình hình kinh tế đất nước hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về kinh tế tư nhân: khái niệm, đặc điểm, vai trò…
- Nghiên cứu thực trạng phát triển của thành phần kinh tế tư nhân Nhật Bản để tìm
ra các kinh nghiệm.
- Phân tích, đánh giá thực trạng của kinh tế tư nhân Việt Nam. Từ đó dự báo xu
hướng phát triển trong bối cảnh mới và đề xuất các giải pháp phát triển thông qua
việc vận dụng kinh nghiệm của Nhật Bản.
7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Kinh tế tư nhân Nhật Bản (chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa vì thành phần
này chiếm phần lớn trong tổng số các doanh nghiệp Nhật Bản): tình hình, xu hướng,
các kinh nghiệm rút ra.
+ Kinh tế tư nhân Việt Nam: tình hình, xu hướng, các giải pháp phát triển.
- Thời gian:
+ Nhật Bản: từ sau chiến tranh thế giới thứ II (1945) đến nay (nửa đầu năm 2012).
+ Việt Nam: từ sau thời kỳ Đổi Mới (1986) đến nay (nửa đầu năm 2012).
4. Cơ sở trong việc lựa chọn đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong nhiều thập kỷ qua, Nhật Bản được cả thế giới trầm trồ thán phục vì
những thành tựu về khoa học kỹ thuật mà họ đã làm được. Có được thành quả to lớn
trên chính là do họ đã sớm ý thức được tiềm năng và thúc đẩy sự phát triển của kinh
tế tư nhân nội địa từ hàng trăm năm trước đây. Sự thành công này đã biến nước
Nhật trở thành một điểm đến lý tưởng cho các chuyên gia, nhà nghiên cứu kinh tế
nhằm tìm kiếm những nguyên lý về sự thành công trong hoạt động hỗ trợ các doanh
nghiệp tư nhân phát triển và rút ra được các bài học kinh nghiệm, áp dụng vào đất
trong quá trình thực hiện chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, người viết
rất mong nhận được sự thông cảm, góp ý chân thành của thầy cô và các bạn có quan
tâm đến vấn đề này để giúp cho bài viết được hoàn thiện hơn.
Qua đó người viết cũng xin chân thành cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo
trong trường vì những chỉ bảo, hướng dẫn trong suốt bốn năm đại học vừa qua và
nhất là cô giáo, TS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn người
viết trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
9
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Kinh tế tư nhân
1
Tính tất yếu khách quan của sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân:
Cùng với trình độ phát triển lực lượng sản xuất mà nhân loại đã đạt được như
ngày nay, mục đích theo đuổi lợi ích cá nhân của mỗi con người vẫn chưa hề mất đi,
điều này đòi hỏi cần hình thành một cơ chế có thể kích thích con người đồng thời
thực hiện các mục tiêu của xã hội. Đó là tiền đề cho sự ra đời của cơ chế thị trường
với sự tồn tại khách quan của những hình thức sở hữu đa dạng. Trong số đó, sở hữu
tư nhân, tương ứng với kinh tế tư nhân được xem như động lực quan trọng cho sự
phát triển.
Khi đem so sánh với những hình thức sở hữu khác trong lịch sử phát triển
nhân loại, có thể nhận thấy rằng, trong một nền kinh tế thị trường, hình thức sở hữu
tư nhân đối với tư liệu sản xuất là phù hợp hơn cả. Tuy nhiên đã có thời kỳ mà
không ít người, nhất là những nhà lý luận đi theo mô hình Xô Viết đã lên án thành
phần kinh tế tư nhân một cách gay gắt và đưa ra chủ trương xóa bỏ nó. Nghiêm
trọng hơn, họ đã coi khu vực kinh tế này là vật cản lớn trong tiến trình xây dựng xã
nhiều nghĩa khác nhau: doanh nghiệp tư nhân, khu vực tư nhân trong Nhà nước, khu
vực phi nông nghiệp,… và theo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XVI của Trung
Quốc lại gọi đó là khu vực doanh nghiệp dân doanh.
Cho dù được định nghĩa theo cách nào đi chăng nữa thì kinh tế tư nhân vẫn
được hiểu “là một hình thức kinh tế dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất với quy mô nhỏ, tổ chức quản lý sản xuất dựa vào sức lao động của mình là
chính và do vậy sản phẩm làm ra do tư nhân chi phối
2
”.
Cách hiểu này là phù hợp với cách hiểu của xã hội về hình thức sở hữu tư
nhân tương ứng với đó là thành phần kinh tế tư nhân của mọi nền kinh tế trên thế
giới.
2
: www.thongtinphapluatdansu.wordpress.com, ngày truy cập 03/04/2012, Phát triển kinh tế tư nhân,
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/03/29/2543
11
1.1.2. Phân biệt sự khác nhau giữa kinh tế tư nhân và kinh tế tư bản tư nhân
Hiện nay, có không ít người còn nhầm lẫn và không phân biệt được giữa hai
khái niệm là “kinh tế tư nhân” và “kinh tế tư bản tư nhân” vì vốn dĩ chúng cũng có
khá nhiều điểm giống nhau. Việc nhầm lẫn này đôi khi khiến cách hiểu về các khái
niệm trên trở nên sai lạc, ảnh hưởng nhiều đến việc nghiên cứu và vận dụng nó vào
quá trình phát triển của nền kinh tế. Để phân biệt được sự khác nhau giữa “kinh tế
tư nhân” và “kinh tế tư bản tư nhân”, trước hết cần tìm hiểu qua về các khái niệm
“sản phẩm thặng dư”, “giá trị sản phẩm thặng dư” và “giá trị thặng dư”.
1.1.2.1. Sản phẩm thặng dư và giá trị sản phẩm thặng dư
Từ khi con người xuất hiện và biết tham gia quá trình sản xuất ra của cải vật
chất thì “sản phẩm thặng dư” đã xuất hiện, đây là điều đã được lịch sử chứng minh.
“Sản phẩm thặng dư” thực chất là sản phẩm xuất hiện sự dư thừa. Nó làm thỏa mãn
bao gồm: i) Thứ nhất, để tiền biến thành tư bản thì nó phải được tập trung trong tay
của một số cá nhân, đủ khả năng thành lập những doanh nghiệp tư bản. Ở trong xã
hội tư bản, đặc biệt là tại nước Anh đã tiến hành quá trình tích lũy nguyên thủy tư
bản thông qua việc dùng bạo lực nhằm tước đoạt các tư liệu sản xuất từ những
người sản xuất nhỏ, khiến họ thực sự trở thành những kẻ vô sản. ii) Thứ hai, sức lao
động cần phải trở thành hàng hóa. Như vậy, trên cơ sở của nền sản xuất hàng hóa có
sự phát triển cao thì kinh tế tư bản tư nhân mới ra đời và phạm trù “giá trị thặng dư”
cũng bắt đầu xuất hiện.
Từ những phân tích ở trên, có thể khẳng định rằng thành phần kinh tế tư bản
tư nhân chính là một bộ phận cấu thành của kinh tế tư nhân, nó ra đời sau khi kinh
tế tư nhân đã xuất hiện được một thời gian dài trước khi quá trình tích lũy tư bản
được diễn ra.
1.2. Các hình thức của kinh tế tư nhân
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều cách xác định về cơ cấu của kinh tế tư
nhân. Ví dụ như tại Nga, sau thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917),
kết cấu của khu vực tư nhân nước Nga lúc bấy giờ đã được Lênin chỉ ra, nó bao
gồm các thành phần: kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế nông dân kiểu gia
trưởng và kinh tế tư bản tư nhân.
13
Tại Việt Nam, thời kỳ từ khi Đổi Mới (1986) đến nay, trong các văn kiện qua
các kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản đã đề ra đường lối phát triển nền kinh tế có nhiều
thành phần, và trong đó có thành phần kinh tế tư nhân. Về nhận thức đối với kinh tế
tư nhân, Đảng ta khẳng định đây là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư
nhân đối với tư liệu sản xuất, với lao động của các chủ thể kinh tế và lao động làm
thuê, nó bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân.
Tại Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định thành
phần kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân.
Trong đó:
- Kinh tế cá thể: là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân, hoạt
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp
vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp
vào công ty.
1.3. Đặc điểm của kinh tế tư nhân
1.3.1. Đặc điểm chung của kinh tế tư nhân tại tất cả các quốc gia
Có thể nhận thấy một thực tế rằng sự phát triển của lực lượng sản xuất dù ở
trong xã hội có giai cấp hay trong nền kinh tế thị trường ngày nay, đều không thể
tách rời sự phát triển hài hòa giữa kinh tế Nhà nước và kinh tế tư nhân, hai khu vực
kinh tế cơ bản của mọi quốc gia. Mặc dù giữa chúng tồn tại những điểm khác biệt
nhau cơ bản nhưng luôn có sự gắn bó mật thiết, là điều kiện để cùng tồn tại và phát
triển. Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao ở hầu hết các nước, khu vực kinh tế tư nhân luôn
tỏ rõ sự năng động, có sức sống và phát triển hơn hẳn?
Đáp án nằm ở chính sự tương thích rất cao của kinh tế tư nhân với kinh tế thị
trường. Nhất là hiện nay, tính chất “mở cửa” đang ngày càng tăng, sự cạnh tranh
quốc tế vô cùng gay gắt, đòi hỏi những thực thể kinh tế phải thực sự linh hoạt cũng
như tự chủ trong các hoạt động của mình, đây vốn là nhược điểm rất khó khắc phục
của kinh tế Nhà nước. Mặc dù vậy, tính cạnh tranh cao của khu vực tư nhân không
phải ngẫu nhiên mà được hình thành, nó đã tồn tại và phát triển chính nhờ hàng
chuỗi những vụ phá sản công ty – sự chọn lọc tự nhiên của quá trình phát triển. Ở
15
đó, chỉ những công ty tư nhân mà có đủ tiềm lực về các mặt như: tài chính, con
người, … mới có thể đứng vững và đi lên được trong sản xuất kinh doanh.
Đối với mọi quốc gia trên thế giới, khu vực kinh tế tư nhân luôn có các đặc
điểm chính là:
1.3.1.1. Hoạt động vì mục đích hàng đầu là lợi nhuận
Đây là điểm khác biệt lớn nhất của doanh nghiệp tư nhân khi so sánh với
doanh nghiệp Nhà nước. Thực tế cho thấy, vấn đề lợi nhuận trong một số doanh
nghiệp thuộc khu vực công không phải là mục tiêu hàng đầu và có một số doanh
nghiệp sẵn sàng hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận, ví dụ như hoạt động trong lĩnh
rất đa dạng, từ những công ty xuyên quốc gia khổng lồ cho tới doanh nghiệp quy
mô nhỏ và vừa. Nhờ khả năng mở rộng hoặc thu hẹp quy mô như trên mà các doanh
nghiệp này luôn sử dụng lao động rất hiệu quả. Họ đều căn cứ vào yêu cầu của công
việc nhằm tuyển dụng đồng thời dựa vào năng lực lao động mà đưa ra cơ chế trả
công thích đáng, thu hút và đào tạo được đội ngũ doanh nhân và công nhân tay nghề
cao cho đất nước. Bên cạnh đó, chủ doanh nghiệp hoàn toàn có thể sa thải ngay lập
tức những lao động yếu kém, không đạt hiệu quả.
Các doanh nghiệp Nhà nước thì thường có quy mô khá lớn vì một số trong
đó chuyên cung cấp hàng hóa công cộng hoặc được tồn tại độc quyền nên phải có
quy mô lớn mới đem lại hiệu quả. Điển hình như các ngành điện, nước… thường do
Nhà nước độc quyền về sản xuất và cung cấp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Nhà
nước thường mở rộng quy mô không vì sự tối ưu hóa sản xuất kinh doanh mà vì
động cơ có thêm các đặc quyền cho người lãnh đạo. Cơ chế trả công trong những
doanh nghiệp Nhà nước là “bình quân chủ nghĩa” và đó cũng là một vật cản lớn đối
với sự hiệu quả của những doanh nghiệp này.
1.3.1.4. Tính năng động và linh hoạt cao trong sản xuất kinh doanh
Các doanh nghiệp Nhà nước thường được thành lập nhờ những nỗ lực nhân
tạo từ Nhà nước, sau đó nó phát triển với hàng loạt các ưu đãi. Trong khi đó, nhờ sự
xuất hiện của nền sản xuất hàng hóa, kinh tế tư nhân đã ra đời và phát triển hoàn
17
toàn tự nhiên. Có thể ngay lập tức hiện thực hóa một ý tưởng kinh doanh khả thi bởi
các doanh nghiệp thuộc khu vực này. Quá trình ra quyết định nhanh chóng và gọn
nhẹ đó sở dĩ có được là vì quá trình từ đề xuất đến thực hiện ý tưởng kinh doanh
không phải thông qua nhiều cấp trung gian như doanh nghiệp thuộc khu vực công.
Kinh tế tư nhân có thể tồn tại và thích nghi với mọi hoàn cảnh khó khăn nhất
trong đời sống kinh tế. Tại các nước Xã hội Chủ Nghĩa trước đây, trong một thời
gian dài, nó thực tế vẫn xuất hiện ở những hình thức, mức độ khác nhau thuộc một
số lĩnh vực cho dù bị cấm đoán và phong tỏa bởi Nhà nước. Tuy vậy, khi các chính
sách cấm đoán này được nới lỏng thì kinh tế tư nhân đã hồi sinh và phát triển thực
một thị trường lao động lớn và cung ứng lao động thường nhiều hơn so với nhu cầu
tuyển dụng, do vậy nạn thất nghiệp tồn tại thường xuyên. Mặc dù vậy, nguy cơ thất
nghiệp lại kích thích người lao động nâng cao tay nghề để bảo vệ chỗ làm việc của
mình và điều này rất có lợi cho nền kinh tế mỗi quốc gia.
Hiện nay, kinh tế thị trường là một xu thế không thể đảo ngược nhưng nó
cũng mang đến sự phân hóa giàu nghèo cũng như tồn tại bất bình đẳng trong xã hội
ở rất nhiều quốc gia, nhất là khi tiến trình toàn cầu hóa đang trở nên sâu rộng thì
tình trạng này càng thể hiện rõ ràng hơn lúc nào hết.
1.3.2.2. Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
Kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng đã phá vỡ sự trói buộc của chính trị:
Trong quá khứ, khá nhiều quốc gia trên thế giới đã gắn kết kinh tế và hoạt
động kinh doanh hằng ngày với chính trị, do vậy sẽ luôn tạo ra rủi ro đối với nền
kinh tế. Nó làm năng lực cạnh tranh bị suy giảm, đẩy dân tộc đó vào vòng suy thoái
cũng như nguy cơ bị đào thải. Nửa cuối của thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến
một thay đổi rất quan trọng, đó là việc phát triển kinh tế không còn cùng nhịp điệu
với sự phát triển của chính trị, nó đã bứt ra khỏi chính trị để hình thành cho mình
một vũ hội riêng.
Kinh tế tư nhân vốn có tính bản năng hoàn toàn tự nhiên của con người, do
đó “không gian kinh tế có sự tự chủ” sẽ là cơ sở để hình thành không gian rộng mở
để các giá trị cá nhân tồn tại và phát triển. Nhân loại đứng trước cơ hội bảo tồn và
phát huy các bản năng kinh tế, khả năng tạo ra giá trị gia tăng hay mở rộng ra không
19
gian tự do của các cá nhân về kinh tế. Không gian kinh tế hoàn toàn tự do này là vô
cùng cần thiết, nó không chỉ là giải pháp phát triển kinh tế mà cũng đảm bảo an
ninh chính trị cho mỗi quốc gia.
Kinh tế tư nhân có sự biến đổi về chất:
Khi chưa phát triển đủ mạnh, kinh tế tư nhân chỉ là lực lượng đại diện cho
quyền lợi một quốc gia. Và sở hữu tư nhân đang phát triển đi lên một trình độ mới
trong thời đại ngày nay. Nhiều doanh nghiệp đang sở hữu quy mô đồ sộ với giá trị
nhân hóa những xí nghiệp do Nhà nước quản lý.
- Nguồn vốn trong khu vực tư nhân tại những nước này vẫn còn rất hạn chế, đóng
góp vào cơ cấu GDP quốc gia chiếm tỷ trọng chưa cao, chưa đổi mới thường xuyên
về khoa học công nghệ, kỹ năng quản trị yếu, thiếu sự hiểu biết rõ ràng về pháp
luật, nhất là pháp luật kinh tế đối ngoại,….
- Quy mô của hầu hết doanh nghiệp tư nhân ở những nước này là vừa và nhỏ, dẫn
đến hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp đồng thời yếu kém về năng lực cạnh
tranh, chịu nhiều thiệt thòi trong các quan hệ thương mại nhất là trong xu thế hội
nhập quốc tế như hiện nay.
Như vậy, ở các nước đang phát triển và chuyển đổi, kinh tế tư nhân phải chịu
sự chi phối, kiểm soát rất chặt chẽ bởi hệ thống chính trị, hệ quả là hoạt động kinh
tế đang bị bóp méo, không đi theo đúng quy luật phát triển tự nhiên. Các nguy cơ
này đang hiện hữu, rất cần những lực lượng xã hội, nhất là những nhà chính trị phải
có sự nhận thức đúng đắn nhằm đưa đất nước mình tránh được các rủi ro, trở ngại
trên. Vấn đề hiện nay của các nước này là phải bảo tồn cũng như tạo điều kiện phát
triển cho các loại hình kinh doanh, các thành phần kinh tế, đặc biệt chú trọng tới
khu vực kinh tế tư nhân – động lực phát triển chủ yếu của mỗi nền kinh tế.
1.4. Vai trò của kinh tế tư nhân
Thực tế đã cho thấy, khu vực tư nhân tại hầu hết các nền kinh tế trên thế giới
luôn đóng vai trò trực tiếp tạo ra sự nhạy cảm về kinh tế - chính trị - xã hội, nó rất
21
năng động trong sản xuất kinh doanh và là lực đẩy quan trọng đến tính hiệu quả
kinh tế của mỗi quốc gia. Trong khi đó, vai trò của kinh tế Nhà nước là giải quyết
các vấn đề chung trong xã hội, sản xuất kinh doanh trong các ngành thiết yếu, phục
vụ cộng đồng. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, nhờ quá trình tư nhân hóa và
quốc hữu hóa các doanh nghiệp mà thỉnh thoảng lại có sự hiệu chỉnh, tái cơ cấu
giữa hai thành phần kinh tế này.
Vai trò của kinh tế tư nhân được thể hiện trên cả hai khía cạnh là vai trò xã
hội học và vai trò đối với nền kinh tế quốc dân.
người.
1.4.1.3. Phát triển các quyền cá nhân
Khi xã hội càng phát triển thì các quyền cá nhân cũng sẽ có điều kiện để
ngày càng đa dạng và phong phú, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân có sự phát triển
mạnh mẽ hơn. Nếu không tồn tại các quyền cá nhân thì sẽ không thể tồn tại các
quyền thuộc về kinh tế tư nhân. Hiện nay, ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, các
hiện tượng can thiệp sâu rộng vào đời sống của các cá nhân vẫn diễn ra khá tràn lan
và không được kiểm soát chặt chẽ. Khi các quyền cá nhân không được xây dựng và
tôn trọng, không được nhìn nhận là không gian xã hội thiết yếu và động lực phát
triển cho mỗi cá nhân, các giá trị cá nhân vẫn không được pháp chế hóa thì không
thể phát triển lành mạnh khu vực kinh tế tư nhân được. Trong một xã hội, chừng
nào các quyền cá nhân cũng như sở hữu cá nhân chưa được tôn trọng đúng mức thì
không thể xây dựng được một khu vực tư nhân thực sự chuyên nghiệp như mong
muốn.
Tóm lại, nhân loại đã coi kinh tế tư nhân như một phương tiện thiết yếu để
phát triển, điều này giải thích cho việc nó không thể bị vứt bỏ dù trong bất kỳ hoàn
cảnh, biến động nào của lịch sử. Một khi khu vực kinh tế tư nhân không thể tồn tại
và phát triển thì hệ quả là các giá trị cá nhân sẽ tan biến, con người cũng trở nên
hoàn toàn mờ nhạt trong tất cả các khía cạnh thuộc đời sống vật chất cũng như tinh
thần.
23
1.4.2. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế quốc dân tại các quốc gia
Trong sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia, luôn luôn có phần đóng góp rất
quan trọng của khu vực tư nhân. Nó tham gia quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và huy động một lượng lớn vốn
đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó, sức sản xuất và của cải vật chất
của xã hội được gia tăng, áp lực giải quyết công ăn việc làm của người lao động
được giảm xuống một cách rõ rệt. Các loại thị trường mới được hình thành và phát
triển nhanh chóng, nhờ đó mà sức cạnh tranh của các loại hàng hóa sản xuất trong
hội, phục vụ cho sự phát triển của kinh tế nói chung và khu vực tư nhân nói riêng có
thể tồn tại dưới rất nhiều hình thức khác nhau như: nguồn vốn, đất đai, máy móc,
thiết bị, kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý và lao động,…. Khu vực tư nhân sẽ
huy động đồng thời sử dụng với hiệu quả tối đa các tiềm năng đó cũng như xã hội
hóa những yếu tố sản xuất, tập trung vào mục tiêu phát triển kinh tế. Trong số các
yếu tố sản xuất thì nguồn vốn được xem là yếu tố đầu vào thiết yếu và quan trọng
bậc nhất mà mọi quốc gia đều phải chú trọng.
Chỉ có số ít các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Phương Tây là có nền kinh tế
phát triển với nguồn vốn thực sự dồi dào. Phần lớn những quốc gia khác đều đang
có sự hạn chế rất lớn về nguồn vốn, nhất là ở những nước đang phát triển và chuyển
đổi. Ở những nước này, hệ thống tài chính chưa phát triển kịp với xu thế mới của
thời đại, vốn ngân sách dùng để phân bổ cho hoạt động đầu tư chưa cao. Chính vì
nguyên nhân này mà khả năng trong việc huy động vốn của khu vực kinh tế tư nhân
càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Khi được tạo cơ hội thuận lợi trong một
môi trường kinh doanh có sự cạnh tranh bình đẳng, các chủ doanh nghiệp tư nhân
có thể hoàn toàn tự tin đầu tư với khoản tiền của bản thân, người thân, bạn bè họ
nhằm tạo dựng doanh nghiệp và theo đuổi mục tiêu lợi nhuận. Các chủ doanh
nghiệp tư nhân sẽ kiểm soát được ở mức độ nào đó số phận kinh doanh của mình
cũng như đóng góp một phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế quốc dân.
Hiện nay, tốc độ tăng trưởng của khu vực tư nhân ở hầu khắp các nước đang
có xu hướng ngày càng cao hơn khi so sánh với khu vực Nhà nước do nó sở hữu
tính năng động và linh hoạt cao, tạo động lực rất lớn cho tăng trưởng chung của cả
nền kinh tế.
25
1.4.2.2. Tạo ra vô số cơ hội việc làm cho xã hội
Có thể nói, thành quả lớn nhất mà kinh tế tư nhân đã và đang đem lại cho nền
kinh tế chính là các cơ hội việc làm mà nó tạo cho các thành viên trong cộng đồng.
Nhờ vào việc huy động và sử dụng vốn một cách hợp lý, khu vực này có thể hình
thành nên những việc làm có chất lượng đồng thời phủ khắp các lĩnh vực kinh tế, nó