Nâng cao chất lượng lao động kỹ thuật ở Hà Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Hà Nam - 2010

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI


Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN HUY ĐƯỜNG Hà Nam - 2010
MỤC LỤC

Trang
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG LAO ĐỘNG KỸ THUẬT
1.1. Lao động và LĐKT.
1.1.1. Khái niệm lao dộng và LĐKT.
1.1.2. Chất lượng LĐKT và các tiêu chí đánh giá chất lượng LĐKT
1.1.3. Sự cần thiết nâng cao chất lượng LĐKT.
1.2. Điều kiện nâng cao chất lượng LĐKT.
1.2.1. Cơ chế chính sách nhà nước về nâng cao chất lượng LĐKT
1.2.2. Tổ chức quản lý và các điều kiện vật chất kinh tế cho đào tạo LĐKT
trong hệ thống giáo dục.
1.2.3. Môi trường điều kiện chuyển giao kỹ thuật công nghệ trong các đơn
vị kinh tế.

24
24
29 32
32
36
36
41
2.2. Tình hình nâng cao chất lượng LĐKT ở Hà Nam.
2.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo lao động kỹ thuật ở
Hà Nam.
2.2.2. Những thành tựu và hạn chế của việc nâng cao chất lượng LĐKT ở
Hà Nam thời gian qua.
2.2.2.1. Những thành tựu của việc nâng cao chất lượng LĐKT ở Hà
Nam
2.2.2.2. Những hạn chế của việc nâng cao chất lượng lao LĐKT ở Hà
Nam.
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc nâng cao chất lượng
LĐKT ở Hà Nam.
Chƣơng 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG LAO ĐỘNG KỸ THUẬT Ở HÀ NAM TRONG GIAI
ĐOẠN TỚI
3.1. Quan điểm định hướng nâng cao chất lượng LĐKT ở Hà Nam.
3.1.1. Bối cảnh.
3.1.2. Quan điểm định hướng.
3.2. Các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng LĐKT ở Hà Nam trong
thời gian tới.
3.2.1. Các giải pháp đào tạo LĐKT.
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT
Chữ viêt tắt
Nguyên nghĩa
1

Cao đẳng
2
CNKT
Công nhân kỹ thuật
3
CNH - HĐH
Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
4
CMKT
Chuyên môn kỹ thuật
5
DN
Doanh nghiệp

16
THCN
Trung học chuyên nghiệp
17
THCS
Trung học cơ sở
18
THPT
Trung học phổ thông
19
XHH
Xã hội hoá

ii
DANH MỤC CÁC BẢNG

STT
Số hiệu
Tên bảng
Trang
1
Bảng 1.1
Sử dụng lao động theo trình độ CMKT của các loại
hình DN
26
2
Bảng 2.1
Giá trị sản xuất theo giá thực tế phân theo khu vực kinh
tế của Hà Nam
43

Bảng 2.8
Cơ cấu lao động theo trình độ CMKT và dự báo đến
năm 2015
67
9
Bảng 2.9
Cơ cấu lao động nông thôn chia theo trình độ chuyên
môn, 2006
70
10
Bảng 2.10
Nhu cầu đào tạo nghề của Hà Nam đến 2010
73
11
Bảng 3.1
Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Hà Nam đến
năm 2010
83

iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

STT
Số hiệu
Tên hình
Trang
1

dân, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH, đó là mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo;
góp phần đổi mới cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế trong từng thời kỳ phát
triển và đào tạo phải gắn với sử dụng, gắn với những đòi hỏi của thị trường lao động;
chuyển đào tạo từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường lao động, nhất là thị
trường lao động chất lượng cao.
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh, để đạt được sự tăng trưởng kinh
tế cao và ổn định phải thông qua việc nâng cao chất lượng đội ngũ LĐKT, nghĩa là nâng
cao chất lượng giáo dục – đào tạo. Chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên (học vấn,
kỹ năng nghề nghiệp, sức khoẻ) là tiền đề thành công của các nước công nghiệp mới ở
Châu Á như Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản… Trong bối
cảnh toàn cầu hoá, việc tiếp cận được các tiến bộ về KH - CN phụ thuộc chủ yếu vào
đội ngũ LĐKT, đội ngũ trí thức.
Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, nhưng chúng ta cũng đang phải đối mặt với
với vấn đề làm thế nào để có một đội ngũ LĐKT có trình độ để đáp ứng nhu cầu của
thời đại. Với xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế thì số lượng lao động trẻ của

2
Việt Nam không đáp ứng được đòi hỏi của thế giới do trình độ lao động thấp; lợi thế về
nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ đang dần không còn phù hợp nữa mà thay vào
đó là sự thiếu hụt đội ngũ lao động giỏi về chuyên môn, trình độ, năng động, sáng tạo,
áp dụng KH - KT thành thạo, có sức khoẻ tốt. Có được đội ngũ LĐKT lành nghề sẽ là
tâm điểm giúp phát triển các DN trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài, đem lại thu
nhập cao cho người lao động, thu ngoại tệ và phát triển đất nước, tạo mối quan hệ hữu
nghị với các nước trong khu vực và trên thế giới, khẳng định được tầm quan trọng và sự
đi lên của đất nước. Do đó, hiện nay nâng cao chất lượng lao động nói chung, LĐKT nói
riêng là vấn đề mà không chỉ các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, mà còn
cả các nhà đầu tư, cách DN quan tâm.
Hà Nam sau ngày tái lập tỉnh (01/01/1997), việc mở rộng và phát triển kinh tế được
đẩy mạnh nhằm góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CNH - HĐH. Trong thời gian
vừa qua, các ngành và các lĩnh vực kinh tế của Hà Nam đã không ngừng được mở rộng,

thuật cao hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị, số 16 (136) năm 2007.
Nhưng gần như chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề nâng cao chất lượng
lao động lỹ thuật của Hà Nam. Vì vậy, cho đến nay đề tài “ Nâng cao chất lượng LĐKT
ở Hà Nam” vẫn còn là mới mẻ, cần thiết và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích.
Đánh giá thực trạng chất lượng LĐKT ở Hà Nam hiện nay. Từ đó đề xuất phương
hướng, quan điểm và các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng LĐKT ở Hà Nam trong
giai đoạn tới.
b. Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng và nâng cao chất lượng
LĐKT;
- Phân tích thực trạng nâng cao chất lượng LĐKT trong quá trình CNH - HĐH ở Hà
Nam trong những năm gần đây: đánh giá về chất lượng, tình hình đào tạo và sử dụng
LĐKT.

4
- Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả
lực lượng LĐKT ở Hà Nam trong giai đoạn tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là nâng cao chất lượng LĐKT ở Hà Nam.
- Phạm vi nghiên cứu là chất lượng LĐKT ở Hà Nam trong giai đoạn 2005 – 2010
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Xuất phát từ những nguyên lý chung dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn sử
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn
sử dụng một số phương pháp khác như: Phân tích, tổng hợp, thống kế, so sánh … để
nghiên cứu và giải quyết các vấn đề đặt ra.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng LĐKT.

Cũng trong kinh tế học, những người trong lực lượng lao động là những người cung
cấp lao động. Thông thường, lực lượng lao động bao gồm tất cả những người đang ở
trong độ tuổi lao động (thường là trong khoảng từ 14 đến 16 tuổi) và chưa đến tuổi nghỉ
hưu (thường là trong khoảng từ 60 đến 65 tuổi) đang tham gia lao động. Những người
không được tính vào lực lượng lao động là những học sinh - sinh viên, người nghỉ hưu,
những người không có ý định tìm việc làm. Một phần trong lực lượng lao động đang tìm
kiếm việc làm nhưng không thể tìm được việc làm tạo thành đội quân thất nghiệp.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là tỷ lệ giữa lực lượng lao động và toàn bộ những
người trong độ tuổi lao động. Tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động là chìa khoá, nhân
tố quan trọng và có tính quyết định cho sự tăng trưởng kinh tế.

6
Tổng hợp thể lực và trí lực của con người gọi là sức lao động. Con người tiêu dùng
sức lao động của mình trong quá trình lao động sản xuất gọi là lao động sản xuất. Như
vậy, sức lao động là khả năng của lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động
đó.
Vậy, lao động là quá trình con người dùng sức lao động tác động vào đối tượng lao
động để tạo ra của cải nuôi sống bản thân và góp phần phát triển xã hội. Lao động là
hoạt động diễn ra thường xuyên và không ngừng từ lúc con người xuất hiện. Trong quá
trình lao động, con người không ngừng tích luỹ kinh nghiệm sản xuất, làm giàu tri thức
của mình, hoàn thiện thể lực, trí lực. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
là nhân tố quyết định sự tồn tại của xã hội loài người và sự phát triển của mỗi quốc gia.
Với những quan điểm đó, có thể khẳng định rằng, lao động là quyền lợi và nghĩa vụ
của mỗi con người trong mỗi quốc gia, dân tộc; Lao động đóng một vị trí đặc biệt quan
trọng trong tiến trình phát triển và đi lên của đất nước. Một đất nước có nguồn lao động
trẻ dồi dào, có kỹ năng và trình độ sẽ mang lại rất nhiều lợi thế trong quá trình mở cửa
hội nhập trong giai đoạn hiện nay. “Học vấn, kỹ năng, tay nghề là cái kho, lao động là
chìa khoá để mở cái kho đó”. Chính vì vậy mà chúng ta cần phải chú trọng hơn nữa tới
lao động, đặc biệt là LĐKT.
b) Khái niệm LĐKT.

- Lao động chuyên môn (quản lý, nghiên cứu và chuyên gia) mang tính chất hàn
lâm.
Như vậy, khái niệm LĐKT ở đây được hiểu theo hai cấp độ:
- Theo nghĩa rộng: LĐKT là loại lao động qua đào tạo, được cấp bằng và chứng chỉ
của các bậc đào tạo nói chung.
- Theo nghĩa hẹp: LĐKT là loại lao động được đào tạo, được cấp bằng hoặc chứng
chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và có kỹ
năng hành nghề để thực hiện các công việc có độ phức tạp với các công nghệ khác nhau,
phù hợp với ngành nghề ở các cấp trình độ khác nhau, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng
hoá và dịch vụ phục vụ quốc kế dân sinh.

8
Như vậy, khái niệm LĐKT theo nghĩa hẹp, đó là loại lao động mang tính chất thực
hành. Trong điều kiện giới hạn, luận văn chỉ đề cập đến LĐKT theo nghĩa hẹp này.
Khái niệm LĐKT theo quan niệm mới phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục
2001 – 2010 mà Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 201/2001/QĐ – TTg ngày
28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ), trong đó chỉ rõ cần hình thành hệ thống đào tạo
kỹ thuật thực hành đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH, trong đó chú trọng đào tạo
CNKT, kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ trình độ cao. Đồng thời, cũng phù hợp với
quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2001 – 2010 mà Chính phủ đã phê
duyệt chuẩn (Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 14/04/2002 của Thủ tướng Chính
phủ) và quy hoạch mạng lưới các trường ĐH và CĐ giai đoạn 2006 - 2020 mà chính
phủ đã duyệt (Quyết định 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 của Thủ tướng Chính
phủ), trong đó đều xác định, hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành theo 3 cấp
trình độ (bán lành nghề, lành nghề và trình độ cao), chú trọng đào tạo CNKT, kỹ thuật
viên và nhân viên nghiệp vụ trình độ cao.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, LĐKT được hiểu là lao động có
kiến thức, có kỹ năng, có trình độ đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư trong quá
trình hội nhập. LĐKT phải được thực hiện trên 3 mặt của chất lượng nhân lực: thể lực,
trí lực và phẩm chất.

cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một
xã hội nhất định.
Chất lượng LĐKT hiện nay được thể hiện qua một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó có
các chỉ tiêu chủ yếu:
- Trình độ học vấn của người lao động;
- Trình độ tay nghề của người lao động;
- Sức khoẻ của người lao động;
- Trình độ ngoại ngữ của người lao động;
- Các yếu tố thuộc về thái độ, hành vi và đạo đức nghề nghiệp của người lao
động.

10
Như vậy, chất lượng LĐKT cuối cùng thể hiện ở năng lực hành nghề của người lao
động được đào tạo ở cấp trình độ tương ứng. Tức là thể hiện ở sự hiểu biết công việc,
nghề nghiệp, khả năng thực hiện công việc với độ phức tạp nhất định (hoạt động thực
tiễn) và kết quả thực hiện (sản phẩm đầu ra) với năng suất và kết quả đáp ứng các tiêu
chuẩn chất lượng đòi hỏi ở từng cấp trình độ tương đương.
b) Các tiêu chí đánh giá chất lượng LĐKT:
- Phát triển và tăng trưởng kinh tế là những mục tiêu quan trọng của chiến lược phát
triển KT - XH, đồng thời cũng là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá trình độ phát triển của quốc
gia. Trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, nguồn nhân lực chất lượng cao,
nhất là lực lượng LĐKT là nguồn lực quan trọng, là yếu tố quyết định nhất của lực
lượng sản xuất, của nền KT - XH và sử dụng tiến bộ KH - CN mới vào sản xuất và do
đó là một trong những yếu tố quyết định nhất của tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững. Ngược lại, sự phát triển và tăng trưởng kinh tế là tiêu chí quan trọng để đánh giá
chất lượng của LĐKT. Chất lượng LĐKT thể hiện trước hết ở tiêu chí định tính, đó là:
+ Trình độ học vấn.
Trình độ học vấn là trình độ văn hoá của người lao động, chuẩn mực này nhằm xác
định khả năng tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những công việc đơn giản để
duy trì cuộc sống. Trình độ học vấn được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy và

hoạt động thần kinh, là khả năng vận động của trí tuệ, biến tư duy thành hành động thực
tiễn. Một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá thực trạng sức khoẻ gồm: chiều cao, cân nặng,
tình hình bệnh tật, thể trạng và trạng thái tinh thần … Sức khoẻ là một trong những nhân
tố căn bản để đánh giá chất lượng nguồn LĐKT. LĐKT có sức khoẻ tốt có thể mang lại
NSLĐ cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong khi làm việc. Nếu sức
khoẻ kém sẽ làm giảm NSLĐ và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm họ làm ra. Lực
lượng lao động nói chung và LĐKT nói riêng của Việt Nam thường bị hạn chế về sức
khoẻ do xuất phát từ những vùng nông thôn nghèo, cuộc sống còn nhiều thiếu thốn,
không được chăm sóc y tế đầy đủ nên thể lực yếu. trong khi đó, yêu cầu của quá trình
sản xuất công nghiệp với những dây truyền máy móc, thiết bị hiện đại đòi hỏi người lao
động phải có sức chịu đựng dẻo dai, luôn tỉnh táo, tinh thần sảng khoái để điều khiển

12
các máy móc, thiết bị đòi hỏi độ chính xác và đảm bảo an toàn, đáp ứng được quá trình
sản xuất liên tục.
+ Trình độ ngoại ngữ:
Trong điều kiện hội nhập toàn cầu và sự phát triển mạnh mẽ của KH-CN như hiện
nay thì khả năng về ngoại ngữ của LĐKT là một tiêu chí quan trọng để đánh giá khả
năng tiếp thu những công nghệ sản xuất mới, hiện đại. Khả năng về ngoại ngữ tốt giúp
cho người lao động có thể nghiên cứu các tài liệu nước ngoài và giao tiếp với các
chuyên gia kỹ thuật của nước ngoài nhờ đó mà tiếp thu tốt hơn các thành tựu mới của
nhân loại về KH - CN và các dây truyền sản xuất mới.
+ Các yếu tố thuộc về thái độ, hành vi và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp.
Ngoài các yếu tố thể lực và trí tuệ, trong quá trình lao động đòi hỏi người lao động
phải có hàng loạt các phẩm chất như tính kỷ luật, tự giác, tinh thần hợp tác, phong cách
công nghiệp, linh hoạt, tinh thần trách nhiệm cao … Những yếu tố này chịu ảnh hưởng
của phong tục, tập quán, truyền thống văn hoá của địa phương – nơi người lao động sinh
sống. Đồng thời, nó cũng được tạo ra từ quá trình giáo dục, quá trình công nghiệp hoá
và phát triển kinh tế thị trường.
Người lao động Việt Nam nói chung và LĐKT nói riêng có đức tính cần cù, chịu

sẽ bị thua thiêt, mất việc làm, tác động không nhỏ đến KT - XH đất nước. Nền kinh tế
đang phát triển nếu phụ thuộc vào tiền vốn, lao động bên ngoài thì nến kinh tế đó sẽ
không phát triển bền vững, sớm muộn nền kinh tế đó không còn tính độc lập tự chủ
trong điều kiện thế giới phẳng. Vì vậy, để thích ứng hội nhập, thích ứng với sự phát
triển của KH - CN thế giới và nhất là để đáp ứng yêu cầu đặt ra của sự nghiệp phát triển
kinh tế đất nước, việc nâng cao chất lượng LĐKT - nguồn lực đóng vai trò hàng đầu của
sự phát triển nên kinh tế bền vững là tất yếu. Tính tất yếu này là do sự chi phối của một
số tác động sau:
a. Sự phát triển của KH – KT đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng LĐKT.
Bước vào thế kỷ XXI, cuộc cách mạng KH - CN tiếp tục phát triển với những bước
tiến nhảy vọt, trở thành động lực của sự phát triển KT - XH, kéo theo những biến đổi
đột biến, mạnh mẽ và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, đã đưa xã hội
loài người chuyển sang một thời đại văn minh mới với nền tảng của nó là phát triển nền
kinh tế tri thức. Cách mạng KH - CN đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp

14
sang kỷ nguyên thông tin; ở đó, các ngành sản xuất và dịch vụ chủ yếu dựa vào tri thức
và công nghệ. Cách mạng KH - CN làm cho nhiều ngành, nghề cũ, truyền thống mất đi
và cũng xuất hiện nhiều ngành nghề mới; cơ cấu ngành nghề và tỉ trong cuả nó trong các
lĩnh vực dịch vụ ngày càng thay đổi nhanh chóng. Trước điều kiện đó, yêu cầu về nguồn
nhân lực ngày càng phải cao, trong đó LĐKT là lực lượng nòng cốt.
Nền kinh tế tri thức là giai đoạn phát triển mới của lực lượng sản xuất loài người, từ
dựa chủ yếu vào nguồn nhân lực vật chất sang nguồn nhân lực trí tuệ (nguồn lực con
người) và làm thay đổi căn bản tính chất lao động. Tỷ trọng lao động trực tiếp giảm
mạnh, lao động gián tiếp và dịch vụ tăng nhanh, xuất hiện và gia tăng nhanh chóng công
nhân trí thức. Lúc này, đòi hòi người lao động không chỉ có kỹ năng nghề nghiệp ở trình
độ cao mà còn phải có nhiều kỹ năng khác nhau. Vì vậy, đào tạo LĐKT để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực là nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục nghề nghiệp. Ở Việt
Nam hiện nay, nếu không tập trung vào đào tạo và nâng cao chất lượng LĐKT sẽ dẫn
đến hậu quả nghiêm trọng là không đảm bảo được nhu cầu cung cấp LĐKT cho nền

ngành và lĩnh vực then chốt, mũi nhọn của nền kinh tế để tạo ra sự nhảy vọt về công
nghệ và kinh tế, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những sản phẩm và dịch vụ chủ lực
(công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học…) trên cơ sở hình
thành các khu công nghệ cao.
Như vậy nhu cầu đào tạo ứng dụng các công nghệ nhập khẩu và cung cấp cho các
khu công nghiệp cao sẽ ngày càng tăng, đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và đào tạo đội ngũ
LĐKT tương ứng.
Trong quá trình hội nhập, xuất khẩu lao động và chuyên gia cũng là hướng mũi
nhọn tạo việc làm và tham gia vào thị trường lao động quốc tế và khu vực của Việt
Nam; trong đó chủ yếu là xuất khẩu lao động có nghề và chuyên môn trình độ cao.
Như vậy, việc đào tạo nhằm nâng cao chất lượng lao động nói chung và LĐKT nói
riêng trong quá trình hội nhập là một yêu cầu cấp bách trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế.
c. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu LĐKT đặt ra yêu cầu nâng cao chất
lượng LĐKT.

16
Chiến lược phát triển KT - XH giai đoạn 2001 – 2010 nêu rõ: phát triển kinh tế,
CNH - HĐH là nhiệm vụ trung tâm. Vấn đề quan trọng nhất trong nội dung CNH -
HĐH là chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH -
HĐH tác động đến việc nâng cao chất lượng LĐKT trên các mặt sau:
- Chuyển quá trình sản xuất vào việc áp dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao,
làm thay đổi cơ cấu giá trị các ngành trong GDP. Chiến lược phát triển KT - XH 10 năm
2001 – 2010 đã xác định đến 2010 tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp là 16 – 17%,
công nghiệp – xây dựng là 40 – 41%, dịch vụ là 42 – 43%. Tương ứng cơ cấu lao động
là 50% - 23% - 27% và tỷ lệ qua đào tạo là 40%, trong đó đào tạo nghề là 26% [3,
tr.127]. Sự tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến cơ cấu lao động và đào tạo
LĐKT là sự tác động khách quan và ràng buộc lẫn nhau trong tổng thể kinh tế vĩ mô
không thể tách rời, vừa là điều kiện, vừa là tiền đề của nhau.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH theo các ngành, thực chất là

lượng LĐKT trên các mặt:
- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải dựa trên sự
hình thành cơ bản về thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để tạo lập khung
khổ pháp lý và tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường, trong đó có thị trường lao
động. Lao động tham gia vào thị trường lao động với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt.
Người lao động sẽ có nhiều cơ hội việc làm và thắng trong cạnh tranh là người có năng
lực nghề nghiệp và phẩm chất vượt trội phù hợp với yêu cầu của công việc mà người sử
dụng đang cần. Cơ chế cạnh tranh của thị trường lao động sẽ tạo ra động lực khuyến
khích người lao động học tập suốt đời, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt: Sức
khoẻ, trình độ tay nghề, … Có thể nói, cơ chế thị trường tạo ra nhu cầu về đào tạo
LĐKT của chính người lao động. Đó là nhu cầu khách quan và không ngừng phát triển.
Tiền công, tiền lương trong kinh tế thị trường là giá cả của lao động, là sự biểu hiện
bằng tiền của giá trị lao động. Lao động càng có trình độ cao càng có khả năng nâng cao
NSLĐ, giảm chi phí lao động trong giá trị đơn vị sản phẩm, làm cho tỉ trọng chi phí tiền
lương trong giá trị gia tăng có xu hướng giảm và do đó càng được trả lương, trả công
cao hơn, khi mà sản phẩm có khả năng cạnh tranh hơn trên thị trường. Hơn nữa, theo
quy luật tối đa hoá lợi nhuận, với một trình độ kỹ thuật và công nghệ nhất định, tổng cầu
lao động phụ thuộc vào độ co giãn của lao động với đầu ra và tương quan giữa chi phí

18
tiền lương với các yếu tố đầu vào khác. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại dựa trên
nền tảng kỹ thuật và công nghệ cao, xu hướng tiền lương tăng lên, dẫn đến việc lựa chọn
sử dụng nhiều tư bản hơn lao động, tức là tăng cầu LĐKT cao, giảm cầu về lao động
không có trình độ LĐKT. Đây cũng là yếu tố khách quan làm tăng cầu LĐKT trình độ
cao trong cơ chế thị trường, dẫn đến tăng nhu cầu đào tạo LĐKT trình độ ngày càng cao
để đáp ứng được yêu cầu của công nghệ mới - hiện đại và sự phát triển của các khu kinh
tế trọng điểm, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao.
e. Nhu cầu về LĐKT là cầu dẫn xuất.
Nhu cầu về LĐKT nói riêng và lao động nói chung là nhu cầu dẫn xuất, do nhu cầu
về sản xuất sản phẩm quyết định; nhu cầu về sản xuất sản phẩm lại xuất phát từ nhu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status