Một số giải pháp nâng cao chất lượng lao động ở Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại từ nay tới năm 2010 - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay các công ty nhà nước chuyển sang công ty cổ phần là rất lớn
trong đó có Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại đã chuyển sang Công ty Cổ phần
Nhiệt điện Phả Lại. Xu hướng trên theo các chuyên gia là điều tất yếu điều
này đã được thực tế chứng minh bằng kết quả hoạt động của các công ty
chuyển sang cổ phần và Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại cũng là một
trong những số đó. Từ khi chuyển sang chế độ tự hạch toán công ty đã giành
được nhiều kết quả tốt trong sản xuất như lợi nhuận tăng bên cạnh đó chúng
ta còn phải kể đến chất lượng lao động của công ty ngày càng được quan tâm
hơn.
Cùng với sự gia nhập WTO thì thị trường ngày có nhiều biến động và phức
tạp trong cạnh tranh. Để sống sót hay là duy trì vị thế của mình các doanh
nghiệp phải tăng cường nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để thực hiện
điều đó thì yếu tố mà các doanh nghiệp không thể không quan tâm tới là yếu
tố con người. Bên cạnh đó với một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng và có
công nghệ cao như ngành điện, yêu cầu đặt ra đối với lao động từ các cấp
quản lý cho tới lực lượng lao động trực tiếp đều vô cùng khắt khe. Vì vậy việc
nâng cao chất lượng lao động hiện tại của công ty để đáp ứng nhu cầu của
hiện tại và trong tương lai là hết sức cần thiết và cấp bách.
Được về thực tập ở công ty điện, một ngành không thể thiếu của mọi quốc
gia tôi thật tự hào. Với sự giúp đỡ một cách nhiệt tình của các bác trong cơ
quan và cô giáo hướng dẫn vì vậy tôi đã hiểu nhiều về hoạt động của công ty
một cách dễ dàng và thuận tiện hơn.
Từ những yêu cầu cần thiết và cấp bách cùng với quá trình tìm hiểu, hiểu
biết về công ty tôi đã lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng
lao động ở Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại từ nay tới năm 2010”.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kết cấu của chuyên đề gồm:

luôn được xem xét trên 2 mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng.
Theo khái niệm trên, nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm:
- Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm.
- Và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất
nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu
cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người
nghỉ hưu trước tuổi quy định).
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguồn lao động xét về mặt chất lượng, cơ bản được đánh giá ở trình độ
chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của người lao động.
1.1.2. Lực lượng lao động
Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO-
International Labour Organization) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động.
Theo quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp.
Ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau: lực lượng lao động là bộ
phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực
lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động
kinh tế (tích cực) và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của
xã hội.
Cũng cần chú ý là trong lực lượng lao động, chỉ có một bộ phận những
người đang làm việc mới là những người trực tiếp góp phần tạo ra thu nhập
cho xã hội.
1.2. Khái niệm về quản lý lao động
Quản lý nguồn nhân lực là hoạt động theo dõi, hướng dẫn, điều chỉnh kiểm
tra sự trao đổi giữa các yếu tố con người và các yếu tố tự nhiên trong quá
trình tạo ra của cải vật chất tinh thần để thoã mãn nhu cầu của con người
nhằm duy trì bảo vệ, sử dụng và phát triển sức tiềm năng vô tận của con
người. Vì vậy quản lý lao động có chức năng kế hoạch hoá nguồn nhân lực,

1.4. Chức năng của quản lý lao động
Quản lý lao động là công việc không thể thiếu ở bất kỳ một doanh nghiệp
nào. Vì quản lý nó có các chức năng sau:
- Sử dụng hiệu quả nguồn lao động trong doanh nghiệp. Lập kế hoạch sử
dụng lao động, phân tích công việc, tuyển dụng và bố trí lao động phù hợp với
công việc cuả họ. Hàng năm định kỳ đánh giá kết quả công việc, đánh giá
việc thực hiện cuả người lao động. Bên cạnh đó còn xem xét lợi ích cuả họ từ
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đó có chế độ thưởng, phạt phù hợp khuyến khích được người lao động hăng
say tham gia sản xuất.
- Tuyển dụng, thay đổi lao động phù hợp với môi trường kinh doanh trong
doanh nghiệp. Quá trình này sẽ giúp doanh nghiệp có được đội ngũ nhân viên
có năng lực, chẩn mực thái độ, hành vi cư sử đáp ứng yêu cầu công việc và
nền tảng văn hoá cuả mình.
- Hoạch định chính sách, lộ trình và triển khai các bước phát triển nguồn
lao động. Các cơ chế, chính sách về quản lý người lao động cần phải định
hướng và tạo dựng phương thức làm việc mới, dựa trên hệ thống các giá trị
chuẩn mực về thái độ, lối sống, hành vi văn hoá đúng đắn. Phát triển nguồn
lao động gắn liền với đổi mới và sắp xếp lại tổ chức, tạo ra sự phù hợp giữa
kỹ năng kiến thức cuả lao động sẵn có với các yêu cầu cuả doanh nghiệp.
Phân tích các yêu cầu đào tạo bồi dưỡng phát triển người lao động để họ có
thể đảm đương được công việc trên cơ sở những kỹ năng kiến thức chủ yếu.
1.5. Một số quan điểm về quản lý lao động
Muốn sử dụng có hiệu quả con người trong sản xuất, trong lao động, điều
quan trọng và có ý nghĩa quyết định là xác định chính sách quản lý nhân lực.
Chính sách quản lý nhân lực là một trong các chính sách lớn của Đảng và
Nhà nước Việt Nam.
Việc định ra chính sách trước hết phải phụ thuộc vào quan niệm về yếu tố

giao.
- Có cơ chế hợp tác kiểm tra giám sát lẫn nhau.
- Đảm bảo đối xử công bằng đối với mọi thành viên.
- Có sự phù hợp giữa mức đóng góp và trách nhiệm của người lao động.
Nếu thực hiện tốt những biện pháp và nguyên tắc quản lý cơ bản trên thì sẽ
mang lại những kết quả chủ yếu như sau:
- Con người chịu đựng được những công việc mà họ được giao nếu được
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan tâm trả lương tương xứng và người chủ công bằng.
- Con người sẽ tự giác chấp hành tốt mọi nhiệm vụ được giao dưới sự kiểm
soát chặt chẽ của nhà quản lý.
- Nếu nhiệm vụ được đơn giản hóa và con người bị kiểm soát một cách
chặt chẽ có thể đạt được các mức sản xuất đã quy định.
Tuy nhiên trường phái này có những hạn chế cơ bản sau:
- Trong quá trình chia nhỏ công việc nếu không phân tích kỹ lưỡng thì có
thể xảy ra những phần việc đơn giản lặp đi lặp một cách nhàm chán. Không
tạo ra được sự hào hứng hay hứng thú làm việc của con người.
- Việc quản lý một cách thường xuyên còn làm người lao động mất sự tự
chủ trong hoạt động của mình dẫn đến hạn chế sự sáng tạo của họ trong công
việc. Và công tác quản lý thường xuyên cũng gây khó khăn cho người điều
hành.
- Đánh giá thấp con người là làm tổn thất tài nguyên của quốc gia.
1.5.2.Trường phái tâm lý xã hội:
Đại biểu cho trường phái này là Mayol và Goner. Theo trường phái này con
người được nhìn nhận như sau:
- Con người muốn cảm thấy mình có ích và quan trọng. Họ không muốn bị
coi là một cái máy, mà là một thực thể cảm xúc, tình cảm.
- Con người muốn được tham gia vào công việc chung và được nhìn nhận

định sự vụ, vụn vặt thoả mãn nhu cầu của người lao động. Làm cho họ cảm
thấy mình quan trọng.
- Hạn chế cơ bản sự chống đối của một số người lao động với những nhà
quản lý đồng thời tạo ra sự hợp tác tự nguyện và tương đối toàn diện của
người lao động.
- Tạo cho mọi người lao động cảm thấy luôn thoải mái trong quá trình thực
thi nhiệm vụ được giao.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.5.3. Trường phái hiện đại
Đại biểu là Simon, March. Theo trường phái này nhìn nhận con người dưới
quan điểm như sau:
- Bản chất con người không phải là không muốn làm việc. Mà họ luôn có
mong muốn được góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu mà bản thân
họ cũng được cùng xây dựng và đề ra.
- Đa số con người đều có những khả năng sáng tạo, tự quản tự kiểm tra tự
chịu trách nhiệm đối với những công việc mà họ được giao thậm chí khả năng
của họ còn có thể cao hơn cả những yêu cầu mà việc làm hôm nay của họ đòi
hỏi.
Các chính sách quản lý lao động cần phải tập trung thực hiện một cách
khoa học dựa theo những nguyên tắc chủ yếu sau:
- Cách thức tác động của người quản lý đối với doanh nghiệp và người lao
động phải mềm dẻo linh hoạt phù hợp với mỗi người lao động cụ thể.
- Tìm mọi biện pháp để không ngừng cải thiện điều kiện lao động nâng cao
chất lượng cuộc sống.
- Phải sử dụng những biện pháp để khuyến khích người lao động tham gia
vào việc thực hiện những nhiệm vụ tự quản, tự kiểm tra, tự chịu trách nhiệm.
- Phải xác định một kế hoạch và chiến lược làm việc khoa học.
Với quan điểm trên để đem lại hiệu quả trong công tác quản lý như sau:

Sức khỏe là trạng thái thoải mái về tinh thần, thể chất và xã hội chứ không
phải đơn thuần là không có bệnh tật. Sức khoẻ là tổng hòa nhiều yếu tố tạo
nên giữa bên trong và bên ngoài, giữa thể chất và tinh thần.
2.2.2. Trình độ văn hoá của người lao động
Trình độ văn hoá cuả người lao động là sự hiểu biết cuả người lao động đối
với kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội. Trong chừng mực nhất định,
trình độ văn hoá của dân cư biểu hiện bằng mặt bằng dân trí của quốc gia đó.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trình độ văn hoá được biểu hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ như:
- Số lượng người biết chữ và chưa biết chữ.
- Số lượng người có trình độ trung học.
- Số lượng người có trình độ phổ thông cơ sở.
- Số lượng người có trình độ phổ thông trung học.
- Số lượng người có trình độ đại học và trên đại học.
Trình độ văn hoá của dân số hay nguồn lực lao động là chỉ tiêu hết sức
quan trọng phản ánh chất lượng của lao động và có tác động mạnh mẽ tới phát
triển kinh tế - xã hội. Trình độ văn hoá cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng
một cách nhanh chóng những trình độ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn.
2.2.3. Trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn
nào đó. Nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên
nghiệp, cao đẳng, đại học, sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công
việc chuyên môn nhất định. Do đó, trình độ chuyên môn của người lao động
được đo bằng
Trong mỗi chuyên môn có thể chia thành những chuyên môn nhỏ hơn như
Đại học bao gồm kĩ thuật, kinh tế, ngoại ngữ ... Thậm chí trong từng chuyên
môn lại chia thành những chuyên môn nhỏ hơn nữa.
Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ của người lao

con người. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhu cầu của con người ngày
càng phong phú và đa dạng, sản phẩm sản xuất ra càng nhiều hơn và chất
lượng hơn. Do đó chỉ có thể đo được cho loại lao động có trình độ cao sản
xuất ra nên không thể tránh khỏi không chăm lo đối với việc nâng cao chất
lượng lao động.
Nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống tăng cường sức khỏe, mở rộng tri
thức, nâng cao trình độ tay nghề không chỉ do kết quả của sự phát triển sản
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
xuất mà nó còn xuất phát từ nhu cầu của chính bản thân con người muốn nâng
cao chất lượng cuộc sống. Do vậy việc nâng cao chất lượng lao động không
chỉ xuất phát từ nhu cầu sản xuất mà còn xuất phát từ chính nhu cầu của con
người điều đó tạo ra điều kiện tốt cho việc nâng cao chất lượng lao động hiện
nay.
Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là xu thế tất yếu của lịch
sử, là quá trình thiết bị công nghệ kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân.
Trong lĩnh vực lao động đã tạo ra sự chuyển biến về chất. Từ lao động thủ
công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ.
Nước ta tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hoá từ một mặt bằng kinh tế
thấp kém và đội ngũ cán bộ trình độ thấp vì vậy để tiến hành công nghiệp hoá
hiện đại hoá một đòi hỏi cấp bách là không thể không nâng cao chất lượng
nguồn lao động.
Đối với công ty: việc nâng cao chất lượng lao động đánh giá khả năng nâng
cao năng suất lao động trong việc sản xuất. Nó giúp cho công ty ngày càng
phát triển không chỉ về chiều rộng mà cả về chiêu sâu. Bên cạnh đó nâng cao
chất lượng lao động cao nó thể hiện bộ mặt của công ty giúp cho việc đầu tư
vào phát triển công ty sẽ thuận lợi vì các nhà đầu tư khi họ định đầu tư vào
bất kỳ một lĩnh vực ngành nào họ đều phải nghiên cứu xem lĩnh vực hay công
ty đó có triển vọng và phát triển mạnh trong tương lai hay không. Mà việc

điện Phả Lại chính thức chuyển sang hạch toán độc lập từ ngày 01/07/2005.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sau một thời gian tiến hành cổ phần hóa, ngày 26/1/2006 công ty chính
thức hoạt động theo mô hình công ty cổ phần với tên gọi đầy đủ là Công ty cổ
phần Nhiệt điện Phả Lại.
1.2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty cổ phần Nhiệt điện Phả lại
Ngành nghề kinh doanh chính của công ty là:
- Hoạt động sản xuất, kinh doanh điện;
- Quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, thí nghiệm, hiệu chỉnh, cải tạo thiết
bị điện, các công trình Nhiệt điện, công trình kiến trúc của Nhà máy điện;
- Bồi dưỡng cán bộ công nhân viên về quản lý thiết bị vận hành, bảo dưỡng,
và sửa chữa thiết bị Nhà máy điện;
- Mua bán xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị;
- Sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng;
- Sản xuất, chế tạo các thiết bị, vật tư phụ tùng cơ - nhiệt điện;
- Kinh doanh các ngành nghề khác mà Luật pháp cho phép.
1.3. Dây chuyền sản xuất của công ty cổ phần Nhiệt điện Phả lại
Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại có 2 nhà máy với tổng công suất đặt là
1040MW.
1.3.1. Nhà máy phả lại 1
Nhà máy Phả Lại 1 được chính thức khởi công xây dựng tháng 5/1980 với
4 tổ máy do Liên Xô (cũ) chế tạo, công suất thiết kế là 440MW (4 x
110MW):
- Tổ máy số 1 với công suất thiết kế 110MW được đưa vào vận hành tháng
10/1983;
- Tổ máy số 2 với công suất thiết kế 110MW được đưa vào vận hành tháng
9/1984;
- Tổ máy số 3 với công suất thiết kế 110MW được đưa vào vận hành tháng

+ Công suất: 120MW
+ Nước sản xuất: Liên Xô
Mỗi tổ máy đã được đại tu 4 lần, chỉ riêng tổ máy 1 đã được đại tu 5 lần.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.4.2. Nhà máy Phả Lại 2:
Nhà máy 2 có 2 tổ máy với công suất mỗi tổ máy là 300 MW, được
thiết kế và lắp đặt hệ thống điều khiển phân tán Distributed Control System
(DCS) tự động 100%. Đây là một công nghệ điều khiển mới có độ tin cậy
cao, tiên tiến và hiện đại. Thiết bị chính chủ yếu là:
- Lò hơi:
+ Kiểu: Than phun, có QNTG, ngọn lửa chữ W
+ Năng suất hơi: 875 tấn/h
+ Áp lực hơi: 174,1 kg/cm
2
+ Nhiệt độ hơi quá nhiệt: 541ºC
+ Hiệu suất thô của lò: 88,5%
+ Nước sản xuất: Anh
- Tuabin:
+ Kiểu: 270 T-422/423
+ Công suất định mức: 300MW
+ Áp suất hơi nước: 169 kg/cm
2
+ Nhiệt độ hơi nước: 538ºC
+ Nước sản xuất: Mỹ
- Máy phát:
+ Kiểu: 290T 422/423
+ Công suất: 300MW
+ Nước sản xuất: Mỹ

Mô hình tổ chức bộ máy của Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại như sau:
- Đại hội đồng cổ đông
- Hội đồng quản trị: 05 người
- Ban kiểm soát: 03 người
- Ban Giám đốc Công ty: 03 người
- Khối các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ bao gồm: 06 đơn vị
+ Văn phòng: thực hiện các chức năng hành chính - quản trị - đời sống -
y tế - đối ngoại;
+ Phòng Tổ chức lao động: thực hiện các chức năng trong công tác tổ
chức, cán bộ, lao động tiền lương, đào tạo, thi đua khen thưởng, thanh tra bảo
vệ cán bộ và thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động;
+ Phòng Kế hoạch - Vật tư: thực hiện các chức năng kế hoạch, quản lý cung
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
20
Than
nguyên
Bình ngưng
Hệ thống nghiền
than
Trạm bơm
tuần hoàn
Ống
khói
Kênh thải
Kho
than bột
Dầu
FO
Trạm
điện

° Phân xưởng Sửa chữa Cơ - Nhiệt;
° Phân xưởng Sửa chữa Điện - Kiểm nhiệt;
° Phân xưởng Tự động - Điều khiển;
° Phân xưởng Sản xuất phụ.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
SƠ ĐỒ 2: TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHIỆT ĐIỆN
PHẢ LẠI
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
22
P.GIÁM ĐỐC KỸ THUẬT
(P.TRÁCH TRUNG TÂM
SỬA CHỮA VÀ DỊCH VỤ)
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
GIÁM ĐỐC CÔNG TY
P.GIÁM ĐỐC KỸ THUẬT
(P.TRÁCH SẢN XUẤT)
PX.VẬN
HÀNH 1
PX.VẬN
HÀNH 2
PX.NHIÊN
LIỆU
PX.HOÁ
VĂN
PHÒNG
P.TỔ CHỨC
LAO ĐỘNG

của công ty bao gồm: Chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho những sản phẩm công việc, lao vụ đã
hoàn thành. Giá thành sản xuất cũng là căn cứ để tính giá trị hàng tồn kho, giá
vốn hàng bán và lãi gộp của công ty.
- Lưới điện: Lưới điện bao gồm lưới truyền tải và phân phối làm nhiệm vụ
đưa điện từ các nhà máy điện tới tận nơi các hộ tiêu thụ. Giá truyền tải và
phân phối điện chính là một trong những cơ sở định giá bán điện từ các công
ty truyền tải cho các công ty phân phối và từ các công ty phân phối tới các hộ
tiêu thụ điện.
- Hộ tiêu thụ: Khác với rất nhiều sản phẩm thông thường khác người tiêu
dùng có thể tới nơi sản xuất để mua sản phẩm, còn người tiêu dùng điện
thường mua điện tại hộ tiêu thụ tức là trong giá bán điện phải bao gồm chi phí
sản xuất, truyền tải và phân phối điện.
2.1.2 Đặc điểm cung - cầu trong ngành điện
Điện được phân biệt với các sản phẩm hàng hóa khác bởi khả năng đáp ứng
nhanh chóng những biến đổi của nhu cầu tại mọi thời điểm. Điều này là đặc
điểm khác biệt với các sản phẩm năng lượng khác. Điện năng hầu như không
thể dự trữ được dưới dạng thành phẩm hay sản phẩm dở dang như một số
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng hoá khác. Do đó tất cả các dây truyền sản xuất, truyền tải và phân phối
phải luôn luôn ở trong trạng thái sẵn sàng đáp ứng nhu cầu phụ tải. Vì các
phương tiện sản xuất rất khác nhau cả về tính năng, khả năng mang tải, độ
linh hoạt... nên người ta dễ dàng nhận thấy chi phí cho việc cung cấp một
kWh phụ thuộc rất lớn vào thời điểm mà hệ thống yêu cầu.
a. Một nhu cầu không ổn định, chịu sự tác động của các kỳ cao điểm
Nhu cầu tiêu thụ điện dao động khá nhạy theo trong vòng một ngày đêm
(giờ cao điểm buổi sáng thường vào 9h sáng, buổi chiều vào 18h) và trong
một năm: ở các nước phương Tây, mùa đông là mùa tiêu thụ điện nhiều nhất

cao điểm trong năm.
Từ hơn 30 năm nay, việc san phẳng đồ thị phụ tải ít nhiều đã nói lên sự
thay đổi nhu cầu tiêu thụ điện hàng ngày của người dân trong thời gian qua.
Việc áp dụng các biểu giá khác nhau giữa các giờ trong ngày, giữa các mùa
trong năm đã góp phần vào việc san phẳng đồ thị phụ tải, do yếu tố giá cả
chính là một trong những yếu tố quan trọng có tác động trực tiếp đến nhu cầu.
b. Cung phải đáp ứng cầu vào bất cứ thời điểm nào
Tại mỗi thời điểm, năng lực cung cấp cho hệ thống bao gồm sản lượng điện
năng của tất cả các nhà máy điện khác nhau hiện đang có trong hệ thống và
vận hành. Vì điện năng là loại năng lượng không thể dự trữ được, chính vì
vậy nên theo lý thuyết thì năng lực sản xuất của hệ thống ít nhất cũng phải
đáp ứng được nhu cầu phụ tải vào thời kỳ cao điểm nhất trong năm. Tuy
nhiên về một mặt nào đó, người ta vẫn có thể dự trữ điện một cách gián tiếp
như: dự trữ nước để sản xuất điện (ví dụ đã được áp dụng cho nhà máy thủy
điện tích năng...). Một quốc gia có nguồn thủy năng dồi dào và có các phương
tiện hữu hiệu để điều tiết phụ tải giữa các mùa sẽ gặp ít khó khăn trong việc
cung cấp điện vào giờ cao điểm hơn là những nước chỉ dựa chủ yếu vào các
nhà máy nhiệt điện chạy than, chạy dầu hay điện nguyên tử.
Trần Thị Tuyết Lớp: Kế hoạch 45A
25

Trích đoạn Giải quyết đúng đắn và đầy đủ chế độ chính sách đối với số lao động dôi dư, tinh giảm và nâng cao hiệu quả quản lý của công ty Nâng cao sức khỏe cho người lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status