Phân tích và đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại - Pdf 38

Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết rằng nội dung của bản khoá luận này chưa được nộp cho bất
kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào cũng như bất kỳ một chương trình đào
tạo cấp bằng nào khác.
Tôi cũng xin cam kết thêm rằng bản khóa luận này là nỗ lực cá nhân của tôi.
Các kết quả, phân tích, kết luận trong khoá luận này (ngoài các phần được trích dẫn)
đều là kết quả làm việc của cá nhân tôi.
Học viên

Hoàng Thanh Thủy


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Giải thích

SXKD

Sản xuất kinh doanh


Kết quả hoạt động kinh doanh

CĐKT

Cân đối kế toán

TSCĐ

Tài sản cố định

TSLĐ

Tài sản lưu động

GTGT

Giá trị gia tăng

LCTT

Lưu chuyển tiền tệ

TSDH

Tài sản dài hạn

TSNH

Tài sản ngắn hạn


Trách nhiệm hữu hạn

MMTB

Máy móc thiết bị

I


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

DANH MỤC CÁC BẢNG
Danh mục

Trang

Bảng 2.1. Kết quả hoạt động SXKD của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn 2010
– 2014
43
Bảng 2.2. Cân đối tài chính của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn 2010 - 2014
45
Bảng 2.3. Tình hình biến động và cơ cấu tài sản của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn
2010 - 2014
46
Bảng 2.4. Tình hình biến động và cơ cấu nguồn vốn của CTCP NĐ Phả Lại giai
đoạn 2010 – 2014
49
Bảng 2.5. Các chỉ tiêu kết quả SXKD chủ yếu của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn

74
Bảng 2.17. KNTT của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn 2010 – 2014
75
Bảng 2.18. Chỉ số nợ của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn 2010 – 2014
78
Bảng 2.19. KNTT lãi vay của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn 2010 – 2014
79
Bảng 2.20. Các thành phần trong Đẳng thức Dupont thứ nhất
80
Bảng 2.21. Các thành phần trong Đẳng thức Dupont thứ hai
81
Bảng 2.22. Đòn bẩy tài chính của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn 2010 - 2014
82
Bảng 3.1. Dự báo nhu cầu tiêu thụ và quy mô khai thác than
93

II


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Danh mục

Trang

Hình 1.1. Phân tích cân đối tài chính

đoạn 2010 – 2014

62

Biểu đồ 2.6. Tình hình biến động vòng quay TSLĐ của CTCP NĐ Phả Lại giai
đoạn 2010 – 2014

66

Biểu đồ 2.7. Tình hình biến động vòng quay TTS của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn
2010 – 2014

67

Biểu đồ 2.8. Tình hình biến động vòng quay hàng tồn kho của CTCP NĐ Phả Lại
giai đoạn 2010 – 2014

71

Biểu đồ 2.9. Tình hình biến động vòng quay các khoản phải thu của CTCP NĐ
Phả Lại giai đoạn 2010 - 2014

74

Biểu đồ 2.10. KNTT của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn 2010 -2014

76

Biểu đồ 2.11. Chỉ số nợ của CTCP NĐ Phả Lại giai đoạn 2010 - 2014


như những khó khăn ở hiện tại và tương lai. Do đó, việc phân tích tình hình tài
chính trong một doanh nghiệp nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, khắc phục
những thiết sót trong quản lý và sử dụng vốn, từ đó nâng cao hơn nữa hiệu quả
SXKD của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn nữa và
đó chính là yếu tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
hiện nay.
Ngoài ra những nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng,… cũng quan tâm đến
tình hình tài chính của công ty để có thể đưa ra quyết định đầu tư, hợp tác. Vì vậy,
việc phân tích tình hình tài chính có một ý nghĩa quan trọng, giúp cho những người
quan tâm biết được cụ thể tình hình tài chính và những lĩnh vực họ muốn biết về
công ty. Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải
pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại” để
làm đề tài luận văn thạc sỹ với mong muốn đưa ra một số giải pháp để cải thiện tình
hình tài chính của Công ty.

1


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá được tình hình tài chính của CTCP NĐ Phả Lại (chỉ ra ưu nhược
điểm, nguyên nhân).
- Đề xuất một số giải pháp thích hợp để cải thiện tình hình tài chính của
CTCP NĐ Phả Lại.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Tình hình tài chính của CTCP NĐ Phả Lại trong giai đoạn 2010 - 2014.

PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản về tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm tài chính và tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm tài chính
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội
dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các
quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở
mỗi điều kiện nhất định. Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập
tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và
sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế.
1.1.1.2. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
TCDN là hệ thống các luồng giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hoá các
nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ
nhằm đạt mục tiêu kinh doanh.
Hay, TCDN là những mối quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy
động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn trong quá trình kinh doanh.
Các nguyên tắc trong quản lý TCDN:
- Lấy thu bù chi và có lãi: là nguyên tắc cơ bản của hạch toán kinh tế đồng
thời cũng là nguyên tắc cơ bản của quản lý TCDN.
- Rủi ro và lãi suất.
- Giá trị thực của đồng vốn: đồng tiền hôm nay khác đồng tiền ngày mai do
nhiều yếu tố như lạm phát, trượt giá,… đánh giá hiệu quả thực hiện trên đơn vị tiền
tệ cố định.
- Nguyên tắc cân bằng ngân quỹ.
1.1.2. Chức năng, vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1. Chức năng của tài chính doanh nghiệp
- Chức năng phân phối: là chức năng cơ bản của TCDN

3


Hai chức năng trên có quan hệ mật thiết hữu cơ với nhau. Chức năng phân
phối được thực hiện đồng thời cùng chức năng giám đốc.

4


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

1.1.2.2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp
TCDN là công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu
cầu vốn cho đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp.Vai trò của TCDN được ví như
những tế bào có khả năng tái tạo, hay còn được coi như “cái gốc của nền tài chính”.
Sự phát triển hay suy thoái của SXKD gắn liền với sự mở rộng hay thu hẹp nguồn
lực tài chính. Vì vậy vai trò của TCDN sẽ trở nên tích cực hay thụ động, thậm chí
có thể là tiêu cực đối với kinh doanh trước hết phụ thuộc vào khả năng, trình độ của
người quản lý; sau đó nó còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, phụ thuộc vào
cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước.
- TCDN có vai trò trong việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả.Cũng như
đảm bảo vốn, việc tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả được coi
là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong điều kiện của nền kinh tế
thị trường, yêu cầu của các quy luật kinh tế đã đặt ra trước mọi doanh nghiệp những
chuẩn mực hết sức khe khắt; sản xuất không phải với bất kỳ giá nào. Trong nền
kinh tế thị trường, mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp đều được phản ánh bằng
các chỉ tiêu giá trị, chỉ tiêu tài chính, bằng các số liệu của kế toán và bảng tổng kết
tài sản. Với đặc điểm này, người cán bộ tài chính có khả năng phân tích, giám sát
các hoạt động kinh doanh để một mặt phải bảo toàn được vốn, mặt khác phải sử
dụng các biện pháp tăng nhanh vòng quay vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn
kinh doanh.

nghiệp, bao gồm:
a) Cơ cấu vốn, cơ cấu tài sản, mối quan hệ giữa tài sản và vốn của doanh
nghiệp
Với một ngành nghề kinh doanh đã được chọn cùng với chiến lược kinh
doanh đã được vạch ra thì chủ doanh nghiệp buộc phải giải quyết những vấn đề đầu
tiên về tài chính, bao gồm:
- Cơ cấu vốn hợp lý.
- Chi phí vốn của doanh nghiệp bao nhiêu là hợp lý để giữ không làm thay
đổi số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu doanh nghiệp.
- Cơ cấu tài sản được đầu tư như thế nào thì hợp lý, mức độ hiện đại so với
đối thủ cạnh tranh đến đâu.
- Nguồn tài trợ được huy động từ đâu, có đảm bảo lâu dài và an toàn không.
Cơ cấu tài sản phản ánh tình hình sử dụng vốn, cơ cấu vốn phản ánh tình
hình huy động vốn, còn mối quan hệ giữa tài sản – nguồn vốn phản ánh chính sách
sử dụng vốn của doanh nghiệp. Chính sách huy động, sử dụng vốn của một doanh

6


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

nghiệp, một mặt nó phản ánh nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, mặt khác,
quan trọng hơn, nó có quan hệ trực tiếp đến an ninh tài chính, đến hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp hay chính là tình hình tài chính của doanh nghiệp. Cơ cấu
vốn mục tiêu chính là sự kết hợp giữa các nguồn tài trợ mà một doanh nghiệp muốn
duy trì, hướng đến nhằm đảm bảo gia tăng giá trị doanh nghiệp. Cơ cấu vốn tối ưu
góp phần làm cân bằng mối quan hệ lợi nhuận và rủi ro, duy trì được cơ cấu tài
chính hợp lý và tiến đến tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, đồng thời là chi phí sử

MMTB đã lỗi thời, hoặc do doanh nghiệp không có dự án đầu tư mới, dẫn đến nguy
cơ sụt giảm sản xuất, giảm sút năng lực cạnh tranh. Do vậy, yếu tố công nghệ là
một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất cũng như tình
hình tài chính của doanh nghiệp.
d) Trình độ đội ngũ cán bộ lao động sản xuất
Con người là yếu tố rất quan trọng, đó là các cán bộ quản lý và lực lượng lao
động trong doanh nghiệp.
- Trình độ tổ chức quản lý của lãnh đạo: vai trò của người lãnh đạo trong tổ
chức SXKD là rất quan trọng. Sự điều hành quản lý phải kết hợp được tối ưu các
yếu tố sản xuất, giảm chi phí không cần thiết, đồng thời nắm bắt được cơ hội kinh
doanh, đem lại sự phát triển cho doanh nghiệp.Cán bộ quản lý là những người có
toàn quyền quản lý và sử dụng toàn bộ TS, tiền vốn của doanh nghiệp và là người
chịu trách nhiệm quyết định mọi vấn đề tài chính của doanh nghiệp.
- Trình độ tay nghề của người lao động: nếu công nhân sản xuất có trình độ
tay nghề cao phù hợp với trình độ dây chuyền sản xuất thì việc sử dụng máy móc sẽ
tốt hơn, khai thác được tối đa công suất thiết bị làm tăng năng suất lao động, tạo ra
chất lượng sản phẩm cao. Điều này chắc chắn sẽ làm tình hình tài chính của doanh
nghiệp ổn định.
đ) Chiến lược phát triển, đầu tư của doanh nghiệp
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi kinh doanh đều đặt ra cho mình kế hoạch
để phát triển thông qua các chiến lược. Để tình hình tài chính của doanh nghiệp
được phát triển ổn định thì các chiến lược kinh doanh phải đúng hướng, phải cân
nhắc thiệt hơn vì các chiến lược này có thể làm biến động lớn lượng vốn của doanh
nghiệp.
Chiến lược kinh doanh được nói đến ở đây là cách phân chia những giới
khách hàng khác nhau trong tổng doanh thu của nó. Trên thực tế, một doanh nghiệp
phải luôn phụ thuộc vào khách hàng và các nhà cung cấp. Nếu một khách hàng quen
và luôn mua với số lượng nhiều nhưng chuyển sang mua của nhà cung cấp khác thì
tình trạng gì sẽ xảy ra, như vậy doanh nghiệp phải chấp nhận những điều kiện ưu


Trạng thái nền kinh tế có ảnh hưởng gián tiếp tới tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Khi nền kinh tế phát triển vững mạnh và ổn định sẽ tạo cho doanh
nghiệp có nhiều cơ hội trong kinh doanh như: huy động vốn, đầu tư vào các dự án
lớn, có cơ hội lựa chọn bạn hàng...
Khi nền kinh tế phát triển cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng được tăng theo. Bởi lẽ

9


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

khi khoa học công nghệ phát triển mạnh thì nó sẽ đặt doanh nghiệp vào môi trường
cạnh tranh gay gắt. Nếu như doanh nghiệp không thích ứng được môi trường này
chắc chắn sẽ không tồn tại được. Vì vậy, các doanh nghiệp luôn chú trọng việc đầu
tư vào công nghệ. Với những máy móc hiện đại không những tiết kiệm được sức lao
động của con người mà còn tạo ra được khối lượng sản phẩm cao với giá thành thấp
thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Do đó nó sẽ làm tăng doanh thu của doanh
nghiệp, lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên càng khuyến khích doanh nghiệp tích
cực sản xuất, tình hình tài chính của doanh nghiệp được cải thiện ngày càng tốt hơn.
Ngựơc lại, nếu trạng thái nền kinh tế đang ở mức suy thoái thì việc doanh nghiệp
muốn cải thiện tình hình tài chính là rất khó khăn.
d) Về cơ chế chính sách kinh tế
Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều không thể
thiếu. Điều này được quy định trong các Nghị quyết Trung ương Đảng. Các cơ chế,
chính sách này có tác động không nhỏ tới tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ví
dụ như từ cơ chế giao vốn, đánh giá lại tài sản, sự thay đổi các chính sách thuế (thuế
GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu...), chính sách cho vay,

đến sản lượng và giá cả, người ta thường phải đánh giá giá trị của các chi phí và các
khoản thu lợi đó qua các đơn vị tiền tệ và chúng được gọi là chi phí và thu nhập.
Các khoản chi phí và thu nhập đó lại xảy ra ở các mốc thời gian khác nhau, do đó
phải xét đến vấn đề thời giá của tiền tệ hay giá trị theo thời gian của đồng tiền, giá
trị theo thời gian của tiền được biểu hiện qua tiền lãi, tiền lãi là giá cả mà người đi
vay phải trả để sử dụng vốn vay trong khoảng thời gian nhất định hoặc là tiền thuê
vốn để sử dụng.
g)Tỷ giá
Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp.
Chênh lệch tỷ giá hối đoái là khoản chênh lệch dương hoặc âm giữa giá trị nợ phải
thu và nợ phải trả bằng đồng ngoại tệ chuyển đổi sang đồng nội tệ. Chênh lệch này
có thể làm lợi nhưng ngược lại cũng có thể là khoản lỗ cho doanh nghiệp.
1.2. Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát
sinh trong kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ. Phân tích tình hình tài

11


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện
hành với quá khứ. Thông qua việc phân tích tình hình tài chính, người sử dụng
thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong
tương lai và triển vọng của doanh nghiệp.


Hoàng Thanh Thủy

chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó. Quy trình thực hiện phân tích
tài chính ngày càng được áp dụng rộng rãi trong mọi đơn vị kinh tế được tự chủ
nhất định về tài chính như các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức, được áp dụng
trong các tổ chức xã hội, tập thể và các cơ quan quản lí, tổ chức công cộng. Đặc
biệt, sự phát triển của các doanh nghiệp, của các ngân hàng và của thị trường vốn đã
tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính chứng tỏ thực sự là có ích và vô cùng cần
thiết. Những người phân tích tài chính ở những cương vị khác nhau nhằm các mục
tiêu khác nhau:
- Cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các chủ nợ và những người
sử dụng thông tin khác nhau để họ có thể ra quyết định phương hướng và quy mô
đầu tư tín dụng và các quyết định khác. Thông tin phải dễ hiểu đối với người có
trình độ tương đối về kinh doanh về hoạt động kinh tế muốn nghiên cứu các thông
tin này.
- Cung cấp thông tin cho người sử dụng có thể đánh giá số lượng, thời gian
và rủi ro của các khoản thu nhập dự kiến của doanh nghiệp.
- Cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp, nghĩa vụ
của doanh nghiệp tới các nguồn lực này và tác động làm thay đổi những nguồn lực
cũng như các nghĩa vụ đó.
1.2.1.3. Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Tình hình TCDN được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm cũng như nhà quản
lý doanh nghiệp, chủ sở hữuvốn, khách hàng, nhà đầu tư, các cơ quan quản lý chức
năng…Tuy nhiên, mỗi cá nhân, tổ chức sẽ quan tâm ở những khía cạnh khác nhau
khi phân tích tình hình TCDN. Vì vậy, phân tích tình hình tài chính cũng sẽ có ý
nghĩa khác nhau đối với cá nhân, tổ chức:
- Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp: Mối quan
tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, các nhà
quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục tiêu như tạo công ăn việc làm,

rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, KNTTvốn…Vì vậy, họ cần những thông tin
về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và các tiềm năng
tăng trưởng của doanh nghiệp. Đồng thời, họ cũng quan tâm tới việc điều hành hoạt
động và tính hiệu quả của công tác quản lý. Những điều đó nhằm đảm bảo sự an
toàn và tính hiệu quả cao cho các nhà đầu tư.
- Các nhóm khác: Bên cạnh các chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu), các nhà
quản lý, các nhà đầu tư, chủ ngân hàng cón có nhiều nhóm khác cũng quan tâm tới
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đó là các cơ quan tài chính, thuế, chủ quản,
các nhà phân tích tài chính, người lao động…Những nhóm người này có nhu cầu

14


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

thông tin về cơ bản giống như các chủ ngân hàng, các nhà đầu tư, các chủ doanh
nghiệp…bởi nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và
tương lai của họ.
1.2.2. Tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp và các loại hình
phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1. Tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tùy theo loại
hình tổ chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng nhu
cầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra quyết định. Công
tác tổ chức phân tích tài chính phải làm sao thỏa mãn cao nhất cho nhu cầu thông
tin của từng loại hình quản trị khác nhau.
- Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt dưới
quyền kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc. Theo

+ Phân tích trước khi kinh doanh: còn gọi là phân tích tương lai, nhằm dự
báo, dự toán cho các mục tiêu trong tương lai.
+ Phân tích trong khi kinh doanh: còn gọi là phân tích hiện tại (hay tác
nghiệp) là quá trình diễn ra cùng quá trình kinh doanh. Hình thức này rất thích hợp
cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh, chấn chỉnh những sai lệch
lớn giữa kết quả thực hiện với mục tiêu đề ra.
+ Phân tích sau khi kinh doanh: là phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh
doanh (hay phân tích quá khứ). Quá trình này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa
thực hiện so với kế hoạch hoặc định mức đề ra. Từ kết quả phân tích cho ta nhận rõ
tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đề ra và làm căn cứ để xây dựng kế
hoạch tiếp theo.
- Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo thì phân tích được chia thành phân tích
thường xuyên và phân tích định kỳ.
+ Phân tích thường xuyên: được đặt ra ngay trong quá trình kinh doanh. Kết
quả phân tích giúp phát hiện ra sai lệch, giúp doanh nghiệp đưa ra được các điều
chỉnh kịp thời và thường xuyên trong quá trình hoạt động kinh doanh, tuy nhiên
biện pháp này thường công phu và tốn kém.
+ Phân tích định kỳ: được đặt ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi các báo cáo
đã được thành lập. Phân tích định kỳ là phân tích sau quá trình kinh doanh, vì vậy
kết quả phân tích nhằm đánh giá tình hình thực hiện KQHĐKD của từng kỳ và là cơ
sở để xây dựng kế hoạch kinh doanh kỳ sau.
- Căn cứ theo nội dung phân tích

16


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy




Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

- Bên nguồn vốn: Phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh
nghiệp đến thời điểm lập báo cáo. Đó là vốnCSH (vốn tự có) và các khoản nợ.
- Nợ bao gồm:
+ Nợ ngắn hạn: nợ phải trả cho nhà cung cấp, các khoản phải nộp, phải trả
khác, nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác.
+ Nợ dài hạn: nợ vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác, vay bằng cách phát hành trái phiếu.
-VốnCSH thường bao gồm: vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, phát
hành cổ phiếu mới.
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản, bên
nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập về tài
chính của doanh nghiệp.
Bên tài sản và nguồn vốn của bảng CĐKT đều có các cột chỉ tiêu: Số đầu kỳ,
số cuối kỳ. Ngoài các khoản mục trong nội dung bảng còn có một số khoản mục
ngoài bảng như: một số tài sản thuê ngoài, vật tư hàng hóa giữ hộ, nhận gia công,
hàng hóa nhận bán hộ, ngoại tệ các loại…
Nhìn vào bảng CĐKT, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh
nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Bảng CĐKT là một tư
liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân
bằng tài chính, KNTT và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp.
b) Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo KQHĐKD là một BCTC phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và
kết quả của các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. Ngoài ra, báo cáo này
còn phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với nhà nước cũng

các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu cho doanh nghiệp và các hoạt động khác
không phải hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Nó cung cấp thông tin cơ bản
để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động để trang trải các
khoản nợ; duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới
mà không cần đến các nguồn tài chính bên ngoài.
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc
mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý TSDH và các khoản đầu tư khác không
thuộc các khoản tương đương tiền, còn luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là
luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy mô kết cấu của vốnCSH và vốn
vay của doanh nghiệp.

19


Lớp QTKD 01 – 2013B

Hoàng Thanh Thủy

1.2.3.2. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính là hệ thống các công cụ, biện pháp nhằm
tiếp cận, nghiên cứu sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài,
các nguồn dịch chuyển và biến đổi về tài chính, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu
chi tiết, các chỉ tiêu tổng quát nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Về lý thuyết, có rất nhiều phương pháp phân tích TCDN. Trong đề tài nghiên
cứu này, em xin giới thiệu các phương pháp sau:
a) Phương pháp so sánh
- Định nghĩa: Là phương pháp được sử dụng để xác định xu hướng phát triển
và mức độ biến động của các chi tiêu phân tích.
- Tiêu chuẩn so sánh: Là chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh. Tùy theo
yêu cầu của phân tích mà chọn làm căn cứ thích hợp như: khi đánh giá tốc độ tăng

phục vụ nhiều khía cạnh phân tích khác nhau trên một bài phân tích. Các chiều có
thể phân chia trên một báo cáo phân tích tài chính
- Chi tiết theo yếu tố cấu thành yếu tố cần nghiên cứu: phân tách các chỉ tiêu
nhỏ trong một chỉ tiêu lớn cần phần tích
- Chi tiết theo thời gian phát sinh và kết quả: phân tách theo dòng thời gian
của một chi tiêu cần phân tích để khái quát sự biến động chỉ số thông qua các giai
đoạn phát triển khác nhau trong doanh nghiệp
- Chi tiết theo không gian: phân tách các chỉ tiêu phân tích theo khu vực địa
lý, để có được sự so sánh khác nhau giữa các vùng, miền phát sinh chỉ tiêu cần phân
tích
c) Phương pháp liên hệ, đối chiếu
Phương pháp này kết hợp với các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị để có
được mối tương quan liên hệ với nhau, cân đối các yếu tố, luận chứng sẽ làm cho
phân tích TCDN trở nên chính xác hơn về thông tin và có giá trị với các nhà quản
trị, nhà đầu tư.
d) Phương pháp phân tích nhân tố
Đây là phương pháp sử dụng các nhân tố liên quan với nhau xác lập thành
một công thức toán học logic để đánh giá sự tác động qua lại giữa các nhân tố ảnh
hưởng đến tài chính trong doanh nghiệp.
Ví dụ: Nguồn vốn = Vốn chủ sở hữu + Nợ vay
Sự cố định hoặc gia tăng không đáng kể của nguồn vốn thì sẽ có một sự biến
động tương quan giữa vốn chủ sở hữu và nợ vay. Qua đó xác định được mức độ ảnh

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status