ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_________________________ ĐẶNG DUY HƯNG
PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC Ở TRUNG QUỐC
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. LƯU NGỌC TRỊNH
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT
TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC 8
2.4.
58
2.4.1.
58
2.4.2. 60
2.4.3.
61
2.4.4. 62
2.4.5. 63
2.4.6.
63
Chương 3. VẬN DỤNG NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC
NHẰM PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM 65
3.1.
65
3.2. 67
3.2.1.
67
3.2.2.
71
3.2.3. 89
3.3.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUÂ
̣
N VĂN
ASEAN :
CAS :
CNC :
CNTT :
CNTT-TT : -
CNXH :
:
EIU : (Economic
Intelligence Unit)
FDI :
GDP :
HDI :
ICOR : H (Incremental Capital
Output Ratio)
IRP :
(Intellectual Property Rights)
KEI :
KH&CN :
NDT :
NSNN :
ODA :
(Official Development Assistance)
OECD : for
Economic Co-operation and evelopment)
PCT :
R&D :
cả các nước kém phát triển, đã và đang tích cực vạch ra chiến lượng tiếp cận,
ứng xử và tranh thủ các thời cơ và thách thức do thời đại kinh tế tri thức mang
lại. Biểu hiện rõ nhất là Trung Quốc và Ấn Độ. Trong đó điển hình là Trung
Quốc. Quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở Trung Quốc hơn
hai thập kỷ qua, đã làm cho sức mạnh tổng hợp của đất nước Trung Quốc tăng
mạnh, khoa học kỹ thuật, giáo dục, văn hóa, thông tin v.v… đều phát triển rất
nhanh, xây dựng được nhiều khu phát triển công nghệ cao, xuất hiện hàng loạt
xí nghiệp kỹ thuật cao tập trung tri thức, rất nhiều bộ phận kỹ thuật trong một số
lĩnh vực đã đạt được trình độ tiên tiến. Từ đó đã giúp Trung Quốc đạt được tốc
2
độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đưa vị thế kinh tế, chính trị của Trung
Quốc không ngừng được cải thiện trên trường quốc tế.
Việt Nam là một nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
với mục tiêu “…rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri
thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phát triển mạnh các ngành và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa
nhiều vào tri thức” [7, tr.87-88]. Thực chất quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở nước ta phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chuyển từ kinh tế nông
nghiệp lên kinh tế công nghiệp và chuyển từ kinh tế công nghiệp lên kinh tế tri
thức. Hai nhiệm vụ ấy phải được thực hiện đồng thời, lồng ghép vào nhau, hỗ
trợ bổ sung cho nhau, điều đó có nghĩa là phải nắm bắt các tri thức và công nghệ
mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nông nghiệp, đồng thời phát triển các
ngành công nghiệp và dịch vụ dựa vào tri thức, vào khoa học và công nghệ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành kinh tế tri thức.
Nếu không sớm xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, Việt Nam khó thu
hẹp khoảng cách với các nước phát triển. Mặt khác, đối với nước ta đang trong
thời kỳ quá độ từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa với mục đích cuối cùng là tiến lên xã hội cộng sản chủ
tranh luận, quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả nước ta:
Bài viết của Lê Văn Sang “Kinh tế tri thức - giai đoạn phát triển mới của
xã hội loài người” đăng trên Tạp chí Những Vấn đề kinh tế thế giới, số 3/2000.
Trong đó tác giả đã đưa ra các quan niệm về kinh tế tri thức và dự báo về giai
đoạn phát triển mới của xã hội loài người - giai đoạn phát triển kinh tế chủ yếu
dựa vào tri thức. Từ đó đưa ra những nhận định về xu thế phát triển mới của nền
kinh tế thế giới.
Bài viết của TS. Trần Đình Thiên “Kinh tế tri thức và vấn đề lựa chọn mô
hình phát triển ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 22, tháng 11/2000.
4
Trong bài viết này, tác giả đã làm rõ về định nghĩa về kinh tế tri thức, về quy trình
thực tiễn hóa tri thức và vai trò của nó, nêu ra các đặc điểm cơ bản của kinh tế tri
thức. Tác giả đã khẳng định rằng sự xuất hiện của kinh tế tri thức không vượt khỏi
sơ đồ của K.Marx về sự tiến hóa của lịch sử thông qua “lược đồ ba hình thái của
K.Marx”. Từ đó đưa ra một số gợi ý về lựa chọn mô hình phát triển của Việt Nam
dưới tác động của xu hướng chuyển sang nền kinh tế tri thức.
Cuốn “Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI”, Nxb Chính trị
quốc gia, năm 2000 do Ngô Quý Tùng biên soạn; Người dịch: Nguyễn Đình
Phong, Trần Văn Long, Nguyễn Thị Tiểu Như. Tác giả đã trình bày về nguồn
gốc, nội hàm và đặc điểm của kinh tế tri thức, xu thế mới - tri thức hóa kinh tế
thế giới; Công nghệ kỹ thuật cao - trụ cột hàng đầu của kinh tế tri thức; Phân
tích tám ngành công nghệ kỹ thuật cao chủ yếu của nền kinh tế tri thức như:
Công nghệ thông tin; Công nghệ sinh học; Công nghệ nguồn năng lượng mới và
năng lượng tái sinh; Công nghệ vật liệu mới ; Mối quan hệ giữa kinh tế tri thức
với các vấn đề trọng đại của thế giới; Chính sách phát triển kinh tế tri thức.
Cuốn sách“Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức ở một số nước trên thế
giới hiện nay”, Nxb Giáo dục, năm 2002, do PGS. TS Lưu Ngọc Trịnh chủ biên.
Đây là công trình nghiên cứu công phu, với sự tham gia của nhiều nhà nghiên
cứu, trong đó các tác giả đã đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau về cách hiểu
ở Việt Nam.
Ngoài ra cũng cần phải kể đến những công trình nghiên cứu của các tác
giả về nền kinh tế tri thức, trong đó đã đề cập ở những mức độ khác nhau về nền
kinh tế tri thức như: Chu Hảo, Đặng Ngọc Dinh, Đỗ Quốc Sam, Nguyễn Quang
Thái, Lê Đình Tiến, Nguyễn Đình Lộc, Nguyễn Văn Đạo… Các công trình này
được chúng tôi kế thừa và sử dụng như là chất liệu, là những ý kiến gợi mở cho
sự nghiên cứu của mình.
6
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn:
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về phát triển nền
kinh tế tri thức. Từ đó nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế tri
thức ở Trung Quốc và đưa ra một số quan điểm vận dụng kinh nghiệm của Trung
Quốc nhằm góp phần từng bước phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
* Nhiệm vụ của luận văn:
Để thực hiện được mục tiêu này, luận văn có nhiệm vụ:
- Trình bày sự xuất hiện và xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức
như là sự phát triển tất yếu trong tiến bộ kinh tế của xã hội loài người.
- Trên cơ sở đó nghiên cứu quá trình đón bắt và xây dựng nền kinh tế tri
thức ở Trung Quốc, đặc điểm, chính sách, vấn đề và kinh nghiệm của nó;
- Nghiên cứu những vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong việc tiếp cận và
hướng tới xây dựng nền kinh tế tri thức, từ đó đưa ra một số quan điểm vận
dụng kinh nghiệm của Trung Quốc nhằm từng bước xây dựng nền kinh tế tri
thức ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc xây dựng nền kinh tế tri thức ở
Trung Quốc.
Để có điều kiện đi sâu nghiên cứu nền kinh tế tri thức ở Trung Quốc, chúng
tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở chỗ: chỉ nghiên cứu quá trình xây dựng và phát
Chương 2: Thực trạng phát triển nền kinh tế tri thức ở Trung Quốc.
Chương 3: Vận dụng những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc nhằm
phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về nền kinh tế tri thức
1.1.1. Khái niệm nền kinh tế tri thức
- Quá trình hình thành nền kinh tế tri thức
Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ cao, đặc
biệt là công nghệ thông tin, công nghệ năng lượng, công nghệ sinh học,… từ
những năm 1990 đến nay, nền kinh tế thế giới đang có những biến đổi sâu sắc,
mạnh mẽ về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động, làm xuất hiện nhiều
thuật ngữ để giải thích cho nền kinh tế mới này. Năm 1990, tổ chức nghiên cứu
của Liên hợp quốc đưa ra khái niệm “kinh tế tri thức” (Knowledge economy) để
xác định tính chất của loại hình kinh tế mới này. Năm 1996, Tổ chức Hợp tác và
phát triển kinh tế (OECD) gọi nền kinh tế mới này là “kinh tế lấy tri thức làm cơ
sở” (knowledge based economy). Năm 1998, Ngân hàng Thế giới trong “báo
cáo phát triển thế giới” đã đặt tên cho nền kinh tế mới này là “tri thức cho phát
triển” (Knowledge for development). Như vậy, có thể có nhiều tên gọi khác
nhau nhưng cho đến nay nhân loại đang bước vào một thời đại kinh tế mới - nền
kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức là một khái niệm mới dùng để nói về nền
kinh tế đạt trình độ phát triển cao, là nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất,
chứ không phải nói tới một hình thái kinh tế - xã hội mới.
Như vậy, xét về mặt lịch sử phát triển lực lượng sản xuất của xã hội loài
Xét dưới góc độ đóng góp của tri thức vào phát triển kinh tế:
Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 2000
đã đưa ra định nghĩa: Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra,
truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo
10
ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế [19, tr.43-44]. Đây là
quan niệm được nhiều người đồng tình, bởi lẽ nó đã phản ánh được những nét
cơ bản của một nến kinh tế với mô hình tổ chức lao động hiện đại lấy việc sự
sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất để tạo ra của cải,
tăng trưởng kinh tế và nâng cao cuộc sống của con người. Tuy nhiên với quan
điểm này, họ đã nhấn mạnh vai trò của tri thức đến sự phát triển kinh tế, nhưng
đã bỏ qua cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế tri thức.
Xét dưới góc độ từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế tương ứng với trình độ phát triển cao
của lực lượng sản xuất. Trong đó lực lượng sản xuất bao gồm hai bộ phận chính:
công cụ sản xuất và con người. Theo cách hiểu này thì nền kinh tế tri thức chỉ là
một nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất chứ không phải tương ứng với
một hình thái kinh tế - xã hội mới. Đây là quan niệm chủ yếu chú trọng đến cơ
sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế tri thức.
Nếu theo cách tiếp cận bao trùm:
Với cách tiếp cận này, thì nền kinh tế tri thức có nhiều khía cạnh bao gồm
cả hai quan niệm đầu. Nền kinh tế tri thức theo quan điểm này được hiểu là một
loại môi trường kinh tế - xã hội. Nhấn mạnh nhiều đến việc tạo dựng một môi
trường kinh tế - xã hội tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự sản sinh, phổ biến và
sử dụng tri thức. Ở trong môi trường kinh tế đó, tri thức vừa là cơ sở, vừa là
nhân tố quan trọng nhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế và phát triển kinh tế
bền vững vì tri thức là nguồn tài nguyên vô tận, khác hẳn với các nền kinh tế
trước đây chủ yếu dựa vào sức lao động cơ bắp trong nền kinh tế nông nghiệp và
nguồn tài nguyên có hạn trong nền kinh tế nông nghiệp.
công cụ khuyếch đại sức mạnh của não, giống như công nghệ của cuộc cách
mạng công nghiệp khuyếch đại sức mạnh của cơ bắp” [26, tr.24]. Các nguồn tài
nguyên như lao động, tư bản hữu hình… chiếm vị trí quan trọng trong phát triển
12
kinh tế ở nền kinh tế công nghiệp thì nay đang dần được thay thế bằng nguồn tài
nguyên tri thức.
Với một nền kinh tế mà chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên tri thức thì giá
trị của gia tăng chủ yếu được tạo ra do tri thức. Cơ cấu kinh tế bắt đầu thay đổi,
nhiều ngành kinh tế có sử dụng nhiều tri thức ra đời và ngày càng phát triển. Sản
phẩm và dịch vụ làm ra ở những ngành này có khả năng cải tạo và hiện đại hóa
các lĩnh vực khác trong nền kinh tế và có đóng góp rất lớn cho phát triển kinh tế.
Với khoa học và công nghệ cao cho phép khai thác hiệu quả các nguồn tài
nguyên và các nguồn lực xã hội đang dần khan hiếm, nhưng lại có chi phí không
tốn kém. Đây là động lực cho sự phát triển kinh tế bền vững.
Nhìn từ góc độ tổng quát thì nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức khoa
học và công nghệ, nhất là công nghệ cao có xu hướng sử dụng ngày càng tăng
trong các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao. Xu thế của sự phát triển sẽ ngày
càng lan rộng ra tất cả các ngành và xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng giảm tỷ trong nông nghiệp tăng nhanh dịch vụ, đặc biệt là những ngành
sử dụng nhiều hàm lượng tri thức. Chính vì vậy có thể nó rằng đầu tư cho phát
triển tri thức là đầu tư chủ yếu trong nền kinh tế tri thức.
Hai là, không ngừng sáng tạo ra tri thức mới và nhanh chóng được ứng
dụng vào thực tiễn
Một đặc trưng khá nổi bật trong nền kinh tế tri thức đó là tốc độ sản sinh
ra tri thức, biến đổi và ứng dụng các phát minh khoa học vào thực tiễn ngày
càng nhanh. Kết quả là làm cho sự biến đổi đời sống xã hội loài người trên mọi
phượng diện của cuộc sống ngày càng cao.
Ngày nay, tốc độ sản sinh ra tri thức ngày càng nhanh, thời gian để có thể
tăng gấp đôi lượng tri thức của nhân loại có xu hướng ngắn lại. Một số nhà
Trong nền kinh tế tri thức thì tri thức là một loại hàng hóa đặc biệt, việc
thực hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất tri thức trở nên khó khăn, vì vậy dẫn
đến hệ quả là quan hệ sản xuất trong nền kinh tế này mang tính xã hội hóa ngày
14
càng cao trên cả ba mặt: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý và phân phối
sản phẩm. Điều này đã được thấy rất rõ khi C.Mác nghiên cứu về các hình thức
công ty cổ phần tư bản chủ nghĩa, C.Mác cho rằng đây là một hình thức quá độ
từ phương thức sản xuất tư bản tư nhân sang phương thức sản xuất tập thể. Tức
là “sự thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân ở trong những giới hạn của
bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa” [22, tr.667].
Mặt khác, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn lực tri
thức để phát triển kinh tế. Với các công nghệ hiện đại cho phép khai thác, sử
dụng các nguồn lực một cách hiệu quả và tạo ra các sản phẩm thân thiện với môi
trường, không những thế lại có khả năng cải tạo và phục hồi mô trường. Từ đó
xử lý hài hòa mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Chính vì lý do đó nền
kinh tế tri thức có cơ sở tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững.
Năm là, nền kinh tế tri thức luôn đòi hỏi, tạo điều kiện và thúc đẩy việc
học tập của mỗi thành viên trong xã hội.
Đối với mỗi một giai đoạn phát triển của nền kinh tế, thì con người vẫn là
yếu tố cơ bản, là nhân tố cho sự phát triển. Nền kinh tế tri thức cũng không là
một ngoại lệ, nhân tố con người vẫn là nhân tố quyết định sự phát triển, nhưng
không phải con người với bất kỳ tri thức nào và kỹ năng nào, mà buộc phải là
con người có tri thức khoa học, có khả năng sáng tạo. Chính khả năng sáng tạo
của con người là mới là nhân tố quyết định đối với quá trình phát triển.
Vì vậy trong nền kinh tế tri thức đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải có những
thay đổi căn bản nhằm đảm bảo phát huy năng lực sáng tạo cho người học.
Trong nền kinh tế tri thức không chỉ đòi hỏi mà còn tạo điều kiện và thúc
đẩy việc học tập, sao cho việc học tập được thực hiện thuân lợi và có hiệu quả
cao. Điều này được thể hiện ở một số điểm sau:
kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến
16
nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển
lực lượng sản xuất” [7, tr.13]. Như vậy, kinh tế tri thức sẽ có tác động mạnh mẽ
đến sự phát triển kinh tế - xã hội đối với nước ta thể hiện trên cả hai mặt sau:
1.1.3.1. Một số tác động tích cực của nền kinh tế tri thức tới sự phát triển
kinh tế - xã hội ở các nước đang phát triển
Một là, phát triển nền kinh tế tri thức là cơ hội để rút ngắn khoảng cách
lạc hậu
Thực tế lịch sử cho thấy, sự phát triển kinh tế - xã hội ở các nước, các khu
vực khác nhau diễn ra không đều. Song trong nền kinh tế tri thức, quá trình “tri
thức hóa” và “tin học hóa” sẽ tạo điều kiện để các nước sử dụng tài nguyên thiên
nhiên một cách hợp lý, khoa học và có hiệu quả nhất; với một ít tài nguyên thiên
nhiên có thể tạo ra sản phẩm giá trị cao, nghĩa là giá trị cao tạo ra chủ yếu do tri
thức và thông tin. Với hệ thống công nghệ mới của nền kinh tế tri thức, các lĩnh
vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ truyền thống đều có thể được “tri thức
hóa”, “tin học hóa” [39, tr.75]; máy móc, phương tiện kỹ thuật do con người tạo
ra không những thay thế lao động cơ bắp mà còn cả một phần lao động trí óc,
làm cho con người thông minh hơn, có nhiều khả năng sáng tạo ra cái mới. Các
nước đi sau có thể tận dụng những thành tựu mới đó của khoa học và công nghệ
áp dụng vào điều kiện cụ thể ở trong nước từ đó rút ngắn khoảng cách lạc hậu.
Nếu có thể chế chính sách tốt, có nguồn nhân lực được đào tạo tốt, thì các
nước đang phát triển có thể tạo ra những bứt phá ngoạn mục nhằm khắc phục hố
sâu khoảng cách giàu - nghèo và sự tụt hậu về trình độ phát triển so với các
nước công nghiệp tiên tiến.
Kinh tế tri thức cho phép các nước chậm và đang phát triển thực hiện chủ
trương đa phương hóa quan hệ kinh tế cũng như mở rộng quan hệ về khoa học
và công nghệ với thế giới. Trên nền tảng quan hệ kinh tế, các nước chậm và
đang phát triển có thể chủ động khai thác các thành tựu khoa học và công nghệ
tỷ trọng ngày càng nhiều trong tổng giá trị sản phẩm quốc dân. Từ đó làm cho
18
công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng cao, tuy rằng nông nghiệp vẫn tồn tại và
phát triển nhưng chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ. Nhờ đó, trong những năm gần
đây, tỷ lệ đóng góp của KHCN vào tăng trưởng GDP là trên 3% (giai đoạn 1996
- 1999) [18, tr.174]. Điều đó phản ánh xu thế phát triển phù hợp với khuynh
hướng tác động của nền kinh tế tri thức.
Bên cạnh đó, sự hình thành những ngành mới dựa trên nền tảng áp dụng
công nghệ cao tạo ra khả năng hiện đại hóa những ngành nông nghiệp truyền
thống sẽ giảm số người lao động và chuyển sang các ngành phi nông nghiệp.
Các ngành truyền thống, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp cần được nâng
trình độ tương ứng với trình độ phát triển chung của xã hội. Chẳng hạn, “sản
phẩm nông nghiệp là sản phẩm không thể thay thế trong việc đáp ứng nhu cầu
ăn của con người, nhưng những sản phẩm ấy có những chất lượng khác và sẽ
được sản xuất với các phương tiện, phương pháp khác hẳn phương tiện, phương
pháp truyền thống đã tồn tại hàng nghìn năm nay” [37, tr.28]. Hơn nữa, trình độ
của người lao động làm việc trong các lĩnh vực được nâng lên tương thích với
trình độ KH&CN đã được nâng lên. Như vậy dưới sự tác động của kinh tế tri
thức, số lượng lao động tri thức đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp
ngày càng cao trong tổng số lực lượng lao động của nền kinh tế.
Bốn là, thúc đẩy việc nâng cao đời sống xã hội, hướng đến một xã hội văn
minh hơn.
Tất cả các nước, dù muốn hay không, đều phải tham gia vào cuộc cách
mạng tri thức, nghĩa là tham gia vào một cuộc cạnh tranh toàn cầu, tham gia vào
một thị trường toàn cầu, trong đó hàm lượng tri thức trong tất cả các lĩnh vực
đều rất lớn và đang gia tăng nhanh chóng. Các nước đi sau nếu có chiến lược
thích hợp sẽ có thể truy cập vào kho tri thức toàn cầu, vận dụng có hiệu quả và
tạo ra tri thức mới của riêng mình để tăng cường năng lực trong các khu vực
truyền thống của mình. Từ đó có thể tạo ra những khu vực mới có tính cạnh
thuật cao. Nghĩa là các ngành truyền thống không những không mất đi mà còn
20
được phát triển trên cơ sở công nghệ kỹ thuật cao hơn (đây được gọi là quá trình
tri thức hóa ở các ngành truyền thống) [5, tr.135]. Việc phát triển các ngành
truyền thống trên cơ sở như vậy, nó sẽ đòi hỏi sử dụng nhiều lao động có trình
độ chuyên môn cao. Khi đó, lực lượng lao động phổ thông hay những lao động
có trình độ chuyên môn thấp sẽ không tìm được việc làm và họ sẽ trở thành
những người thất nghiệp.
Ba là, Sự cạnh tranh không bình đẳng
Các nước đang phát triển là những nước có trình độ khoa học và công
nghệ thấp, phụ thuộc nhiều vào các nước phát triển. Do đó, khi thực hiện phát
triển nền kinh tế tri thức với mong muốn sử dụng tri thức để phát triển các ngành
kinh tế trong khi việc sáng tạo ra tri thức và sử dụng nó chưa trở thành phổ biến.
Khi tham gia vào thị trường thế giới, lợi thế cạnh tranh về công nghệ, kinh
nghiệm quản lý sẽ tất yếu thuộc về các nước phát triển.
1.1.4. Những tiền đề cần thiết cho sự hình thành và phát triển nền kinh
tế tri thức
Kinh tế tri thức thực chất không phải là một bước nhảy đột biến, mà là
một hình thái phát triển cao hơn, có tính tiến hóa của một nền kinh tế thị trường
phát triển cao. Cùng với sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa đến
mức cao độ ở các nước công nghiệp phát triển đã tạo tiền đề cho sự ra đời của
nền kinh tế tri thức ở các nước đó và các nước đang phát triển muốn tiến đến
nền kinh tế tri thức thì cũng không có cách nào khác là phải chuẩn bị và cố gắng
tạo cho mình những tiền đề đó.
Từ kinh nghiệm thực tế cho thấy có những tiền đề cơ bản mà bất cứ một
quốc gia nào, dù nước đó đã và đang tiến thẳng vào nền kinh tế tri thức hay đang
tìm cách hướng tới nền kinh tế tri thức cũng cần phải tạo ra là:
- Một nền kinh tế thị trường phát triển cao với các thị trường tài chính
hoạt động hữu hiệu trên cả bình diện quốc tế lẫn trong nước