Phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


LÊ VĂN SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Đề tài

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.10

Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Mã số: 60.31.10 Hà nội, 2009
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


LÊ VĂN SƠN

phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nhiều việc làm mới, nâng cao thu
nhập cho người lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cư
dân ở nông thôn đồng thời tạo ra những tiền đề quan trọng cho quá trình
phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội và xây dựng đời sống văn hoá
mới ở nông thôn.
Phát triển công nghiệp nông thôn là một trong những nhiệm vụ cơ
bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Ngày nay,
phát triển công nghiệp nông thôn là một vấn đề không chỉ thu hút sự quan
tâm của Việt Nam mà còn được nhiều nước đang phát triển coi trọng. Điều
đó chứng tỏ phát triển công nghiệp nông thôn có vị trí quan trọng trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội.
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở vùng
nông thôn, lực lượng lao động trong nông nghiệp chiếm khoảng 70% lực
lượng lao động toàn xã hội nhưng chỉ tạo ra 20,8% GDP. Thời gian nông
nhàn chiếm 21%/năm, gần 8 triệu lao động bị thất nghiệp. Khoảng cách
giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị ngày càng gia tăng, năm 1996 là
2,71 lần, năm 2001 là 3,45 lần đến năm 2005 thì con số này là 5 lần. Mặc
dù số lượng lao động lớn nhưng giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn chỉ
chiếm 22,35% giá trị sản xuất công nghiệp.[31, tr.1]
Phát triển công nghiệp nông thôn sẽ góp phần động viên những tiềm
năng của các nguồn lực trong các thành phần kinh tế, huy động và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước vào quá trình tăng trưởng
kinh tế. Nó cũng tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, phân công lại lao động xã hội theo hướng hiện đại, thúc đẩy kinh tế

4
hàng hoá ở nông thôn phát triển mạnh, cải thiện và nâng cao đời sống nhân
dân.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc khu vực trung Trung bộ, án ngữ
quốc lộ 1A xuyên qua là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, phát

đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy “Phát triển công nghiệp nông thôn
tỉnh Thừa Thiên Huế” được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ này.
2. Tình hình nghiên cứu
Công nghiệp nông thôn là khái niệm mới được quan tâm nghiên cứu
trong khoảng thập kỷ 50 của thế kỷ XX, song trong thực tế thì công nghiệp
nông thôn được hình thành như một thực thể kinh tế độc lập với các quá
trình phát triển khác nhau gắn liền với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn
từ rất lâu.
Ở Việt Nam, công nghiệp nông thôn đã được khá nhiều nhà khoa học
quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về công nghiệp nông
thôn ở nhiều cách tiếp cận khác nhau. Cho đến nay, một số công trình
nghiên cứu về công nghiệp nông thôn như:
Đề tài cấp nhà nước KX. 08-07 “Định hướng và chuyển giao công
nghệ thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn” do Nguyễn Văn Hường
(1992-1993), Đặng Ngọc Dinh (1994-1995) làm chủ nhiệm.
Luận án phó tiến sĩ của Vũ Thị Thoa (1999): “Phát triển công nghiệp
nông thôn ở đồng bằng sông Hồng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở nước ta hiện nay”; luận án tiến sĩ của Hà Văn Ánh (2000): “Phát triển
công nghiệp nông thôn ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh”; luận văn
thạc sĩ của Nguyễn Thanh Hùng (2005): “Phát triển công nghiệp nông thôn
huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Ngoài ra còn có một số đề tài liên quan mật thiết với vấn đề này như:
Luận án phó tiến sĩ “Phát triển tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần ở đô thị Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Hữu
Lục (1996); đề tài “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt
Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá” của Trần Minh Yến

6
(2003), “Phát triển thị trường làng nghề tiểu thủ công nghiệp vùng đồng
bằng sông Hồng” do PSG. TS. Trần Văn Chử (2003-2004) làm chủ nhiệm,

- Trình bày một số mô hình phát triển công nghiệp nông thôn của các
nước, khu vực trên thế giới và một số địa phương có thể vận dụng vào việc
phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp cơ bản có tỉnh khả
thi nhằm phát triển công nghiệp nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế trong
những năm tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn tập
nghiên cứu các quan hệ kinh tế và chính sách của Nhà nước tác động đến
sự phát triển của công nghiệp nông thôn.
Phạm vi nghiên cứu:
- Các hoạt động sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở tiểu thủ
công nghiệp dưới các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đang tồn tại và
phát triển ở nông thôn trên đại bàn tỉnh.
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu sự phát triển của công nghiệp
nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến
nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận được sử dụng để nghiên cứu là duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử. Trên cơ sở kế thừa những yếu tố hợp lý của các công
trình nghiên cứu đã được công bố tác giả luận văn xây dựng cơ sở lý luận
và thực tiễn về phát triển công nghiệp nông thôn và sử dụng nó để phân
tích thực trạng và đề ra các giải pháp để phát triển công nghiệp nông thôn ở
Thừa Thiên Huế trong thời gian tới.

8
Phương pháp cụ thể là phân tích và tổng hợp, lôgic và lịch sử để tổng
hợp các tài liệu, điều tra, phân tích, so sánh, đối chiếu các số liệu liên quan
đến đề tài.
6. Đóng góp của luận văn

khóa hữu hiệu nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới giàu
có, công bằng, dân chủ, văn minh.
1.1. Những vấn đề lý luận chung về phát triển công nghiệp nông thôn
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Công nghiệp nông thôn được một số nước quan tâm phát triển khá
sớm, từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Một số nước như Hàn Quốc, Trung
Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Ấn Độ đã nghiên cứu, phát triển công nghiệp
nông thôn, xem đó là một nội dung quan trọng của công nghiệp hóa nông
thôn. Ở nước ta, công nghiệp nông thôn được nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
Công nghiệp nông thôn là vấn đề khá mới mẻ, tùy theo mục tiêu
nghiên cứu mà các tác giả có các cách tiếp cận khái niệm công nghiệp nông
thôn theo trên những bình diện khác nhau. Cho đến nay, có một số cách
tiếp cận tiêu biểu sau:[9, tr.31]

10
Thứ nhất, cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế lãnh thổ
Đây là quan niệm của một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonexia, theo cách tiếp cận này, công nghiệp nông thôn được xem là một
bộ phận của kinh tế nông thôn. Cách tiếp cận này chú trọng đến yếu tố lãnh
thổ. Trên bình diện kinh tế lãnh thổ, công nghiệp nông thôn được xét trong
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của địa phương, nó là một bộ
phận hữu cơ trong cơ cấu kinh tế địa phương góp phần khai thác triệt để, có
hiệu quả các nguồn lực tại chỗ nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế
xã hội. Cách tiếp cận này cho phép các nhà quản lý ở địa phương dễ thực
hiện quá trình quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và quản lý công
nghiệp nói riêng.
Tuy nhiên, cách tiếp cận này dễ đưa đến sự phát triển của công
nghiệp nông thôn bị tách ra khỏi sự phát triển công nghiệp, tách rời yếu tố

dẫn đến làm mất cân đối cơ cấu kinh tế ngành ở nông, không huy động và
sử dụng được những tiềm năng các nguồn lực ở địa phương vào quá trình
phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Thứ ba, cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế xã hội
Đây là cách tiếp cận đặc trưng của Đài Loan, theo cách tiếp cận này,
công nghiệp nông thôn được xem là toàn bộ những hoạt động sản xuất có
tính chất công nghiệp ở nông thôn, là biện pháp góp phần phát triển kinh tế
xã hội ở nông thôn. Cách tiếp cận này xuất phát từ thực trạng nghèo nàn,
lạc hậu của kinh tế xã hội ở nông thôn, đây là khu vực kém phát triển, lực
lượng sản xuất ở trình độ thấp, diện tích canh tác luôn có xu hướng thu hẹp
dần, khả năng thâm canh tăng vụ, hiệu quả sản xuất nông nghiệp thấp, cơ
cấu kinh tế biến đổi chậm trong lúc dân số tăng nhanh dẫn đến đời sống cư
dân nông thôn luôn ở gặp phải khó khăn, thiếu thốn. Những vấn đề đó làm
cho nông thôn rơi vào vòng lẩn quẩn của sự đói nghèo. Một trong những
hướng nhằm thoát khỏi vòng lẩn quẩn đó là đẩy mạnh phát triển lực lượng
sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động ở nông thôn
mà các hoạt động mang tính chất công nghiệp có vai trò đáng kể. Chọn giải

12
pháp phát triển công nghiệp nông thôn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn là một trong những
giải pháp cơ bản có ý nghĩa quan trọng.
Tuy nhiên, nếu lấy việc phát triển kinh tế nông thôn để phát triển
kinh tế xã hội ở nông thôn thì lại là khiếm khuyết lớn vì chính sự phát triển
bản thân công nghiệp nông thôn sẽ không chỉ tác động đến nông thôn mà
sự phát triển đó tất yếu tác động đến thành thị, tác động đến ngành công
nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Do đó cách tiếp cận này
chưa thể hiện tính hệ thống trong chiến lược phát triển công nghiệp nói
riêng và tổng thể nền kinh tế nói chung.
Thứ tư, cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế tổ chức

thôn nói riêng và của cả nước nói chung; phải đảm bảo yếu tố kinh tế kỹ
thuật, kinh tế tổ chức và kinh tế xã hội; phải đảm bảo tính đặc thù lãnh thổ
của nông thôn đồng thời phải nằm trong tổng thể của quá trình vận động
phát triển của ngành công nghiệp.
Ở Việt Nam, tùy theo mục đích nghiên cứu mà các tác giả có quan
niệm khác nhau về công nghiệp nông thôn.
Có tác giả cho rằng công nghiệp nông thôn là toàn bộ các hoạt động
kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn. Điều này có nghĩa là các hoạt động
phi nông nghiệp được đồng nhất với công nghiệp nông thôn bao gồm công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ. Cơ sở của quan điểm
này xuất phát từ việc cho rằng phát triển công nghiệp là nói đến tính chất
của sản xuất hàng hóa. Điều này dẫn đến sự trao đổi giữa các ngành làm
cho thương mại, dịch vụ ra đời là tất yếu và các ngành đó luôn nằm trong
một tổng thể thống nhất hữu cơ. Quan điểm này có ý nghĩa trong việc phát
triển kinh tế nông thôn với mục tiêu là chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần
nông sang cơ cấu tiến bộ hơn bằng cách tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ. Song cách tiếp cận này lại không thống nhất được khi đồng nhất khái
niệm công nghiệp nông thôn với các hoạt động phi nông nghiệp vì giữa

14
chúng có sự khác nhau căn bản theo tiêu chí kinh tế ngành: công nghiệp là
ngành sản xuất vật chất tạo ra các loại hàng hóa hữu hình trong lúc thương
nghiệp dịch vụ là ngành sản xuất phi vật chất tạo ra hàng hóa vô hình. Do
đó không thể gộp thương nghiệp và dịch vụ vào công nghiệp nông thôn.
Có tác giả cho rằng công nghiệp nông thôn là tiểu thủ công nghiệp
được phân bố ở nông thôn với tư cách là một bộ phận của kinh tế địa
phương nhằm cung cấp, bổ sung các sản phẩm hàng hoá cho khu vực nông
thôn khi công nghiệp quốc doanh hoặc công nghiệp ở đô thị không cung
cấp đủ hay không thể cung cấp. Trong trường hợp này công nghiệp nông
thôn có vai trò bổ sung cho công nghiệp quốc doanh khi năng lực công

vào nền kinh tế quốc dân nói riêng cũng như nền kinh tế thế giới nói chung.
Với sự phân tích nói trên cho thấy không thể xét công nghiệp nông
thôn một cách phiến diện mà phải đặt nó trong tổng thể phát triển kinh tế
xã hội của nông thôn, của ngành công nghiệp và của sự phát triển của chính
bản thân nó.
Tổng hợp các quan điểm nói trên có thể đi đến khái niệm công
nghiệp nông thôn như sau:
Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp cả nước
được phân bố ở nông thôn bao gồm các cơ sở sản xuất công nghiệp với quy
mô vừa và nhỏ là chủ yếu, cùng với các ngành tiểu thủ công nghiệp thuộc
nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác nhau gắn
bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn do chính quyền địa
phương quản lý về mặt nhà nước.
Với khái niệm này, công nghiệp nông thôn được hiểu là một bộ phận
của ngành công nghiệp phân bố ở địa bàn nông thôn, phân biệt với công
nghiệp thành thị. Công nghiệp nông thôn phân bố ở nông thôn không phải
chỉ đứng chân ở nông thôn mà còn phải có quan hệ chặt chẽ với quá trình
phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn thông qua các yếu tố đầu vào của quá
trình sản xuất cũng như đầu ra cho thị trường sản phẩm.

16
Về ngành nghề, công nghiệp nông thôn bao gồm các cơ sở sản xuất
công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống cư dân ở nông thôn
như các ngành chế tạo, sửa chữa nông cụ, chế biến nông sản, sản xuất hàng
gia dụng, sản xuất vật liệu xây dựng… ở nông thôn.
Xét về sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, các cơ sở
công nghiệp nông thôn tồn tại trong nhiều thành phần kinh tế với các hình
thức tổ chức sản xuất chủ yếu là hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp tư
nhân hay công ty trách nhiệm hữu hạn.
Xét về quy mô, các cơ sở công nghiệp nông thôn tồn tại ở quy mô

trong công nghiệp nông thôn.
- Tạo ra quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.
- Thúc đẩy tiến trình phân công lại lao động trên địa bàn nông thôn
theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân ở nông thôn.
- Bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng nông thôn mới văn minh,
hiện đại.
1.1.2. Những tiền đề phát triển công nghiệp nông thôn
Phát triển công nghiệp nông thôn là nhiệm vụ quan trọng của phát
triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới, để đảm bảo cho quá
trình đó cần có các tiền đề cơ bản sau:
Thứ nhất, công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch
phát triển công nghiệp.
Công nghiệp nông thôn là một bộ phận kinh tế không thể tách rời của
kinh tế nông thôn. Do đó, việc quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nói
chung và quy hoạch phát triển công nghiệp nói riêng sẽ đảm bảo cho công
nghiệp nông thôn phát triển hài hoà với sự phát triển kinh tế xã hội của địa
phương. Nếu không có công tác quy hoạch tổng thể sẽ dẫn đến sự phát
triển mang tính tự phát, lệch lạc, không hiệu quả, không khai thác được

18
tiềm năng của địa phương và có thể dẫn đến mất cân đối trong cơ cấu kinh
tế.
Thứ hai, sự phát triển của kết cấu hạ tầng nông thôn
Sự phát triển của công nghiệp nông thôn chịu sự tác động mạnh mẽ
của kết cấu hạ tầng nông thôn. Kết cấu hạ tầng ở nông thôn tạo tiền đề thúc
đẩy cho công nghiệp nông thôn phát triển. Thực tế đã chứng tỏ, ở đâu đầu
tư tốt cho kết cấu hạ tầng thì ở đó kinh tế phát triển nhanh và ở đâu có kết
cấu hạ nông thôn lạc hậu sẽ cản trở lớn cho sự phát triển của công nghiệp

giúp công nghiệp phát triển có hiệu quả. Việc chủ động nguyên liệu sẽ
nâng cao hiệu quả sản xuất, giúp cho công nghiệp nông thôn phát triển ổn
định.
* Thị trường vốn
Vốn là yếu tố cơ bản để phát triển sản xuất. Thị trường này bao gồm
vốn của các tổ chức tín dụng nhân dân, vốn từ các ngân hàng và nguồn vốn
từ trong dân. Thị trường vốn phát triển sẽ giúp cho công nghiệp nông thôn
dễ tiếp cận và huy động vốn cho việc duy trì và phát triển sản xuất. Ngược
lại, thị trường vốn không phát triển sẽ là bất lợi cho công nghiệp nông thôn.
Ngoài ra, vốn co thể huy động từ các nguồn khác như tài trợ của các chính
phủ, tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội nghề nghiêp.
* Thị trường sản phẩm
Thị trường sản phẩm công nghiệp nông thôn được tiếp cận dưới giác
độ sản xuất hàng hóa, do đó thị trường sản phẩm rất quan trọng trong việc
giải quyết đầu ra của sản xuất. Thị trường sản phẩm công nghiệp nông thôn
chủ yếu là địa bàn nông thôn. Sự phát triển cảu hệ thống các chợ ở nông
thôn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường này phát triển của. Một số sản
phẩm có khả năng cạnh tranh cao mới có khả năng tâm nhập ra thị trường
bên ngoài. Nếu cơ sở nào nhận được hợp đồng thì gia công theo hợp đồng,
đối tác sẽ bao tiêu sản phẩm.

20
Thứ tư, trình độ phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn
Công nghiệp nông thôn gắn bó chặt chẽ với nông thôn, do đó sự phát
triển của kinh tế xã hội ở nông thôn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển
của nó. Khi nông nghiệp phát triển nó sẽ tạo ra nguồn nguyên liệu phong
phú cho công nghiệp nông thôn, thu nhập người dân tăng lên sẽ làm tăng
sức mua của thị trường nông thôn là điều kiện tốt cho công nghiệp nông
thôn phát triển, đồng thời sự phát triển của nông nghiệp tất yếu dẫn đến
việc phân công lại lao động xã hội ở nông thôn, cung cấp lực lượng lao

ngành tiểu - thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nông
nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ tất cả có quan hệ hữu cơ với
nhau trong cơ cấu kinh tế vùng và lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
Kinh tế nông thôn có nội dung rất rộng, bao gồm nhiều ngành nghề
sản xuất, nhiều thành phần kinh tế ở các quy mô khác nhau, trong đó chủ
yếu là quy mô vừa và nhỏ. Tất cả các nhân tố đó có quan hệ và tác động
qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển.
Sự phát triển của công nghiệp nông thôn tạo ra nhiều ngành nghề sản
xuất vật chất phi nông nghiệp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng hiệu quả, tăng tỷ trọng công nghiệp trong tổng thể kinh tế nông
thôn. Sự phát triển của công nghiệp nông thôn sẽ khôi phục và phát triển
các ngành thủ công truyền thống đồng thời tạo ra nhiều ngành nghề mới
đáp ngày cáng tốt hơn ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ở nông thôn. Sự
phát triển đa dạng của ngành nghề ở nông thôn sẽ tạo tiền đề cho sự phát
triển ngành dịch vụ ở nông thôn. Sự phát triển của công nghiệp nông thôn
sẽ cung cấp nông cụ, nâng cao năng suất lao động sản xuất nông nghiệp,
đồng thời giúp cho quá trình thu hoạch, bảo quản, chế biến nông sản tốt
hơn, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

22
Sự phát triển của công nghiệp nông thôn sẽ giúp nông dân chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng chuyên môn hoá, thực hiện thâm
canh tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế xã hội.
1.2.2. Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn
Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn hiện nay, phát triển công nghiệp nông thôn là nội dung
quan trọng đặc biệt vì nó làm biến đổi cơ bản cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng đa dạng hoá ngành nghề nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực

nghiệm sản xuất có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đa
dạng của sản xuất và đời sống. Các làng nghề đã góp phần tạo việc làm, thu
nhập thường xuyên cho người lao động. Hiện nay, ở nước ta có khoảng
2.790 làng nghề với 53 nhóm nghề, gần 12 triệu lao động tham gia.[28;1]
Riêng ở tỉnh Thừa Thiên Huế có khoảng 90 làng nghề tạo việc làm thường
xuyên cho khoảng 10.150 lao động thường xuyên và khoảng 5.900 lao
động thời vụ [3, tr.156].
Có thể nói công nghiệp nông thôn mà trung tâm của nó là các làng
nghề truyền thống đã tạo nên sự lan toả trong quá trình phát triển, đa dạng
hoá ngành nghề trong công nghiệp nông thôn. Các làng nghề không những
tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân mà còn bảo tồn được
nét văn hoá truyền thống văn hoá dân tộc được thể hiện trong từng sản
phẩm thủ công mỹ nghệ qua bàn tay tài hoa của nghệ nhân.
1.2.4. Hạn chế chênh lệch trong phát triển giữa nông thôn và
thành thị
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần phải chú ý đến
việc phát triển nông thôn, bởi vì đây là khu vực luôn chịu nhiều thiệt thòi
nhất. Nông thôn chiếm hơn 70% dân số cả nước, lại là thị trường chủ yếu
của công nghiệp hoá hiện đại hoá, vì thế nếu chỉ tập trung phát triển công
nghiệp ở đô thị thì không những lãng phí nguồn lực sản xuất mà còn không
đảm bảo cho sự công bằng xã hội giữa nông thôn và thành thị. Do đó, phát

24
triển công nghiệp nông thôn là cơ hội để nông thôn nhận thêm sự đầu tư
của xã hội, phát triển sản xuất nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân khu vực nông thôn, giảm dần sự chênh lệch quá xa giữa nông
thôn và thành thị.
1.3. Kinh nghiệm phát triển công nghiệp nông thôn ở một số
quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phƣơng và bài học rút ra cho Thừa
Thiên Huế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status