ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ DƯƠNG THỊ TRÂM ANH
QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM – LÀO
TRONG LĨNH VỰC NÔNG - LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP TÁC PHÁT TRIỂN 9
NÔNG – LÂM NGHIỆP GIỮA VIỆT NAM VÀ LÀO 9
1.1. Một số khía cạnh lý luận về hợp tác và hợp tác nông lâm nghiệp 9
1.1.1. Một số khái niệm chủ yếu về hợp tác kinh tế quốc tế 9
1.1.2. Phân loại hợp tác quốc tế 15
1.1.3. Vai trò của hợp tác nông - lâm nghiệp giữa các nước 19
1.1.4. Nội dung hợp tác nông - lâm nghiệp giữa các quốc gia. 22
1.2. Kinh nghiệm hợp tác nông- lâm nghiệp giữa một số nước trên thế
giới 27
1.2.1. Kinh nghiệm hợp tác giữa Việt Nam và Senegal 27
1.2.2. Kinh nghiệm hợp tác giữa Trung quốc và một số nước châu Phi . 31
Chương 2 36
THỰC TRẠNG HỢP TÁC PHÁT TRIỂN NÔNG – LÂM NGHIỆP
GIỮA VIỆT NAM VÀ LÀO GIAI ĐOẠN 2001-2011. 36
2.1. Lợi thế so sánh của Việt Nam và Lào về hợp tác phát triển nông –
lâm nghiệp 36
2.1.1. Lợi thế so sánh của Việt Nam 36
2.2. Khái quát thực trạng phát triển kinh tế nói chung, nông – lâm
nghiệp nói riêng của Lào giai đoạn từ những năm 1990 đến nay 56
2.2.1. Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định 56
2.2.2. Nông nghiệp và lâm nghiệp của Lào đạt được nhiều thành tựu
khả quan 57
2.2.3. Một số nhận xét, đánh giá chung 64
2.3. Thực trạng hợp tác trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp giữa Việt
Nam và Lào giai đoạn 2001-2011. 66
2.3.1. Hợp tác về xây dựng cơ sở hạ tầng và quy hoạch phát triển nông
- lâm nghiệp 66
2.3.2. Hợp tác về khoa học-kỹ thuật và chuyển giao công nghệ 69
Nam sang Lào 106
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu và
chữ viết tắt
Nguyên nghĩa
ABD Ngân hàng phát triển Châu Á
AGOA Đạo luật cơ hội và tăng trưởng Châu Phi
ASEM Diễn đàn hợp tác Á- Âu
CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
CNSH Công nghệ sinh học
DRC Hệ số chi phí nguồn lực trong nước.
EU Hiệp hội Châu Âu
FAO Tổ chức lương thực thế giới
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
KHCN Khoa học công nghệ
KHKT Khoa học kỹ thuật
KHXH Khoa học xã hội
ODA Quỹ hỗ trợ phát triển chính thức
QHQT Quan hệ quốc tế
Nxb Nhà xuất bản
UN Liên hiệp quốc
nông – lâm nghiệp càng có tầm quan trọng đặc biệt, vì ngành này đóng vai trò
then chốt trong sản xuất, gắn bó mật thiết với văn hóa, phong tục tập quán
sinh hoạt của nhân dân hai nước; đồng thời đây là ngành kinh tế có tiềm năng
phát triển rất mạnh, phù hợp với trình độ sản xuất của Việt Nam - Lào trong
tiến trình đổi mới kinh tế và phát huy lợi thế so sánh.
Lào là quốc gia có quy mô dân số nhỏ. Số dân của nước Lào tính đến
năm 2012 ước khoảng 6,47 triệu người. Dân số phân bố rộng rãi và không
đều trên toàn bộ lãnh thổ. Mật độ dân số dao động khoảng 10 người/km2 tại
các vùng đồi núi ở phía Bắc tới khoảng 160 người/km2 ở Thủ đô Viêng Chăn
và mật độ dân số trung bình cả nước là 27 người/km2. Ngày nay, có khoảng
73% dân số Lào sống tại các vùng nông thôn.
Quy mô dân số và tăng trưởng dân số có mối liên quan mật thiết đến sự
phát triển của Lào. Dân số Lào đã tăng nhanh từ 4,6 triệu người năm 1995 lên
tới 5,6 triệu người năm 2005. Tháp dân số đã rộng hơn qua thập kỷ trên thể
hiện sự gia tăng trong tổng dân số. Trong hai thập kỷ qua, tăng trưởng dân số
phản ánh tình trạng tỷ lệ sinh cao kết hợp với tỷ lệ chết thô giảm. Mặc dù, tốc
độ tăng dân số giảm 2,5% trong những năm giữa thập kỷ 90 xuống 2,1% giữa
những năm 2000, dân số Lào vẫn duy trì ở mức khá trẻ. Ba phần năm dân số
tăng trong 10 năm qua rơi vào nửa đầu của thập kỷ và điều này chứng tỏ tốc
độ tăng dân số đã suy giảm mạnh.
2
Lào là một quốc gia có lịch sử lâu đời và giàu truyền thống dân tộc. Có
49 dân tộc anh em sống tại Lào với khoảng 200 tiểu nhóm tộc người
(Chamberlain và cộng sự, 1996) . Dân số Lào được chia thành 4 nhóm ngôn
ngữ-dân tộc chính: Lào-Thái, Môn-Khơme, H’mông-Miến và Trung Quốc-
Tây Tạng. Hầu hết các nhóm không thuộc dân tộc Lào - Thái sống tại các khu
vực vùng cao và có sự khác biệt lớn giữa các vùng về địa lý, kinh tế - xã hội
và điều kiện sống.
Còn Việt Nam, chủ yếu là người dân tộc Kinh, sống tập trung ở các vùng
có nông-lâm nghiệp. Điều đó không chỉ thể hiện ở chiến lược, chủ trương
chính sách mà còn ở các dự án và các hình thức hợp tác đa dạng thiết thực mà
hai bên đang quan tâm và thực hiện.
Dù vậy, việc hợp tác nông – lâm nghiệp giữa Việt Nam – Lào trong
những năm qua vẫn còn nhiều vấn đề cần phải trao đổi thảo luận. Đó là các
hình thức hợp tác chưa thật sự đa dạng, quy mô hợp tác nói chung cũng như
các dự án nói riêng vẫn còn khiêm tốn. Thực tế những kết quả hợp tác thời
gian qua là đáng khích lệ, song thực sự chưa tương xứng với tiềm năng, mong
đợi của hai nước. Vì thế việc mổ xẻ phân tích các vấn đề trên là rất cần thiết.
Hơn nữa, việc nghiên cứu các vấn đề về hợp tác nông - lâm nghiệp giữa Việt
Nam và Lào với mong muốn cung cấp một cách nhìn mới và các thông tin cần
thiết cho Chính phủ hai nước cũng như các nhà đầu tư, kinh doanh Việt Nam
có cơ hội lựa chọn và tìm kiếm cách thức hợp tác với phía Lào. Đặc biệt trong
bối cảnh mới khi hai nước tiếp túc khẳng định phát triển mối quan hệ đặc biệt,
sự hội nhập sâu rộng hơn vào hợp tác kinh tế quốc tế, khu vực và sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt hơn trong mọi lĩnh vực, trong đó có nông - lâm
nghiệp. Đây là những vấn đề không chỉ cần thiết phải làm sáng tỏ cả khía
cạnh lý luận mà còn cả thực tiễn.
4
Và, năm 2012 là “Năm đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào” để thể hiện
sự gắn bó keo sơn giữa hai dân tộc, các cấp các ngành đều có những hoạt
động thể hiện tình đoàn kết và sự hợp tác phát triển với Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào (CHDCND Lào).
Với những lý do đó tác giả lựa chọn đề tài: “Quan hệ hợp tác Việt
Nam – CHDCND Lào trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp” làm đề tài nghiên
cứu của luận văn thạc sỹ. Hy vọng những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ
cung cấp một số thông tin cần thiết nhằm góp phần tăng cường sự hiểu biết
đầy đủ hơn về nông - lâm nghiệp hai nước Việt Nam - Lào, thực trạng hợp tác
và những vấn đề đang đặt ra đối với việc tăng cường hợp tác giữa hai bên
Quốc tế học: “Hội nhập khu vực: Quan điểm của EU & ASEAN”, Nxb Thế
giới, Hà Nội, 2012 v.v…
2. Đi sâu phân tích thực trạng quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào
trong một số lĩnh vực chủ yếu: thương mại, đầu tư, ODA, giáo dục đào tạo….
Không chỉ xem xét đánh giá các kết quả hợp tác, các công trình đã nêu lên
những hạn chế và các giải pháp tăng cường thúc đầy quan hệ hai bên. Đó là
các công trình như: 1) Nguyễn Đình Bá (2002): “Hợp tác đầu tư Việt Nam và
Lào – Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số
4/2002. 2) Trần Bảo Minh (2002): “Thực hiện hợp tác giúp đỡ của Việt Nam
dành cho Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2002. 3) Trương Duy
Hòa (2002): “Hợp tác kinh tế Việt Nam – Lào 25 năm qua: Thực trạng và
triển vọng”. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Thành
phố Vinh, 2002. 4) Trần Bảo Minh (2002): “Thực hiện hợp tác giúp đỡ của
Việt Nam dành cho Lào”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2002. 5)
Nguyễn Trần Quế, Kiều Văn Trung (2003): “Tăng cường hợp tác Việt Nam –
Lào trong phát triển Tiểu vùng Mê Kông mở rộng”, Tạp chí Những vấn đề
6
kinh tế thế giới, số 3/2003. 6) Nguyễn Sỹ Tuấn (2004): “Hợp tác giáo dục và
khoa học Việt Nam – Lào vì mục tiêu phát triển nguồn nhân lực”, Tạp chí
Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3/2004. 10) Nguyễn Thị Phương Nam (2007):
“Quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Lào từ 1991-2005”, Tạp chí Nghiên cứu
Đông Nam Á, số 8/2007. 12) Vatthana Pholsena (2006): “Post-war Laos: the
Politics of Culture, History and Identity”, Institute of Southeast Asian
Studies, Singapore, 2006, v.v
3. Tập trung phân tích và làm rõ thực trạng hợp tác trong lĩnh vực nông
- lâm nghiệp. Các công trình không chỉ làm rõ các lợi thế, khó khăn trong hợp
tác hai nước trong lĩnh vực này mà còn phản ánh đầy đủ thực trạng và những
nỗ lực của cả hai nước trong việc thúc đẩy hợp tác nông - lâm nghiệp. Nhiều
bài viết đã mạnh dạn đưa ra các giải pháp và khuyến nghị cho hai nước nhằm
- Phân tích các khái niệm liên quan đến hợp tác kinh tế quốc tế và hợp
tác trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Xem xét đánh giá và khái quát một số kinh nghiệm hợp tác trong lĩnh
vực nông nghiệp.
- Phân tích đánh giá các lợi thế của Việt Nam và Lào trong hợp tác
nông nghiệp.
- Đánh giá thực trạng hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực nông nghiệp
giai đoạn 2001-2011.
- Nêu các định hướng và đưa ra một số giải pháp góp phần thúc đẩy
hợp tác Việt Nam - Lào trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp hiện nay và trong
thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn nghiên cứu, tìm hiểu sự hợp tác phát triển trong lĩnh
vực nông - lâm nghiệp Việt Nam - Lào trong giai đoạn 2001-2011 và phương
hướng, giải pháp hợp tác để hai nước cùng nhau phát triển nông - lâm nghiệp
trong thời gian tới.
8
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,
phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, phương pháp thống kê để xử lý số
liệu, định tính, định lượng, phỏng vấn chuyên gia v.v…
6. Đóng góp mới của luận văn
- Phân tích và làm rõ một số khía cạnh lý luận và thực tiễn trong hợp
tác quốc tế nói chung, hợp tác nông - lâm nghiệp Việt Nam- Lào nói riêng.
- Nêu ra các định hướng và đề xuất giải pháp đẩy mạnh hợp tác giữa
Việt Nam và Lào trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp hiện nay và trong thời
gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
gắn với chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất trên địa bàn từng quốc gia và
giữa các nước.
Lợi thế so sánh không chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên mà còn được chi
phối bởi nhiều điều kiện khác, trong đó quyết định nhất là sự phát triển về
trình độ công nghệ, kỹ thuật tay nghề trong sản xuất. Nhờ đó, nâng cao được
năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm và tạo được
lợi thế cạnh tranh.
Qua nghiên cứu quá trình quốc tế hóa kinh tế các nước, ta có thể rút ra
mấy nhận xét sau:
10
- Quốc tế hóa đời sống kinh tế là một xu thế khách quan đối với tất cả
các quốc gia, là qui luật phát triển kinh tế của cả thế giới.
- Quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế gắn chặt sự phát triển về kinh tế
của từng quốc gia với các nước và các quan hệ quốc tế. Các nước tham gia vào
xu hướng đó đều phát triển nhưng với tốc độ khác nhau. Trong quá trình đó sự
phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng và đây là một tất yếu khách quan.
- Các quốc gia nào lợi dụng được lợi ích của phân công lao động quốc
tế (dựa trên lợi thế so sánh, phát triển khoa học-công nghệ) đều có thể nhanh
chóng phát triển lên ngang trình độ thế giới và được đứng vào hàng các nước
công nghiệp phát triển giàu mạnh. Còn nước nào không biết tận dụng lợi ích
của sự phân công và hợp tác quốc tế thì khó vượt qua được tình trạng lạc hậu,
kém phát triển.
Quốc tế hóa đời sống kinh tế, phân công lao động là tiền đề cơ bản của
sự ra đời kinh tế thế giới và thị trường thế giới. Quá trình này phát triển dưới
sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ (KHCN) hiện đại đã
thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa kinh tế.
Như vậy, “Xu thế toàn cầu hóa xuất hiện và phát triển như một tất yếu
khách quan dưới tác động của những biến đổi trong nền sản xuất của loài
người. Nó được thúc đẩy bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất với sự tác
đang bị xóa nhòa, sự giao lưu quốc tế đang phát triển, những hình thức tổ
chức chung mang tính quốc tế về sản xuất, lưu thông, về văn hóa, chính trị xã
hội đang được đẩy mạnh; các quốc gia dù lớn hay nhỏ đều nằm trong mối
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với mức độ và chiều hướng khác nhau. Đó là một
xu hướng không thể đảo ngược được trong thời đại ngày nay.
Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, mỗi nước có thể sử dụng được lợi thế
của mình và tìm thấy lợi ích trong mối quan hệ đó.
12
+ Hợp tác kinh tế quốc tế
Hợp tác (Cooperation) đã tồn tại ngay từ đầu lịch sử loài người với sự
hình thành các cộng đồng sơ khai như bầy đàn, công xã, thị tộc, bộ lạc, liên
minh bộ lạc. Cho đến khi quốc gia và dân tộc hình thành, tức là xuất hiện chủ
thể quan hệ quốc tế (QHQT), hợp tác đã trở thành hợp tác quốc tế. Hợp tác
quốc tế là một hiện tượng hằng xuyên của lịch sử. Nó tồn tại trong mọi giai
đoạn lịch sử bất chấp thế giới đầy rẫy xung đột và chiến tranh. Cho đến nay,
hợp tác quốc tế đã trở thành xu thế lớn trong QHQT và lôi cuốn mọi quốc gia
và con người khắp nơi trên thế giới cùng tham gia.
Hợp tác quốc tế là một hình thức tương tác trong QHQT. Về mặt hành
vi, đó là sự tương tác hoà bình giữa các chủ thể QHQT, tức là trong đó bạo
lực được loại ra. Về mặt mục đích, hợp tác là cách thức phối hợp nhằm thực
hiện các mục đích chung, lợi ích chung. Sự phối hợp rất đa dạng từ nhân lực,
vật lực đến tài lực. Về mặt kết quả, sự hợp tác thường đem lại kết quả như
nhau cho các bên tham gia hợp tác, tức là hoặc cùng được, hoặc cùng không
thoả mãn. Hợp tác thường có mẫu hình “win-win”, tức là cả hai bên cùng
được. Mẫu hình này ngược với mẫu hình xung đột “win-lose”, tức là cái được
của bên này là cái mất của bên kia. Điều này cho thấy hợp tác cũng là một
tính chất trong QHQT. Tính chất này ngược với tính chất xung đột.
Dựa vào các đặc trưng mang tính bản chất nói trên, có thể đưa ra khái
niệm chung về hợp tác quốc tế như sau: “Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hoà
vốn đầu tư gián tiếp thường qua các tổ chức chính phủ và tổ chức quốc tế,
như các khoản tài trợ phát triển chính thức (ODA) của các tổ chức liên hiệp
quốc (UNDP, FAO, UNICEF…), các khoản viện trợ của các tổ chức chính
phủ và phi chính phủ, các khoản cho vay của các chính phủ, các tổ chức tài
chính quốc tế (IMF, WB, ADB…). Nước nhận đầu tư gián tiếp được ưu đãi
14
lãi suất thấp, vay dài hạn cho nên có thể sử dụng vốn này vào các dự án có
mức vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn đầu tư dài như các dự án về năng
lượng, giao thông vận tải, xây dựng cơ sở hạ tầng, v.v… 2) Đầu tư trực tiếp
FDI là những khoản đầu tư do các tổ chức kinh doanh, các cá nhân người
nước ngoài đưa vốn vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc góp vốn liên
doanh với các tổ chức và cá nhân trong nước theo quy định của luật đầu tư
nước ngoài của nước sở tại, người nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý toàn
phần hay một phần công trình đầu tư đó. Đầu tư trực tiếp ít lệ thuộc vào mối
quan hệ chính trị giữa hai bên hơn so với đầu tư gián tiếp. Tuy nhiên nó vẫn
chịu sự chi phối của Chính phủ, mức độ khả thi của dự án khá cao, quyền lợi
của hai bên gắn liền với kết quả của dự án.
Hợp tác đầu tư nước ngoài là hình thức kinh tế đối ngoại quan trọng
trong việc thực hiện chính sách “mở cửa” nền kinh tế. Đối với bên đầu tư, hợp
tác đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn nhằm thực
hiện mục tiêu của nền kinh tế quốc dân, thu nhận kỹ thuật-công nghệ tiên tiến,
học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài khai thác tối ưu các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và tiềm năng của nền kinh tế trong nước, tạo việc làm cho
người lao động, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Hợp tác đầu tư còn
nhằm hòa nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, tham gia sâu hơn
vào phân công lao động quốc tế, giành vị trí nhất định trên thị trường thế giới.
Tuy nhiên, hợp tác đầu tư nước ngoài cũng có thể tác động xấu đối với
nước nhận đầu tư: có thể bị thiệt, bị phụ thuộc, chịu ảnh hưởng của văn hóa
và lối sống tiêu cực từ bên ngoài… Hợp tác đầu tư nước ngoài đóng vai trò
+ Cách phân loại thứ ba căn cứ trên số lượng chủ thể tham gia. Theo
cách này, có hai loại là hợp tác song phương giữa hai chủ thể và hợp tác đa
16
phương với sự tham gia của từ ba chủ thể trở lên. Ngoài ra, cũng dựa trên số
lượng chủ thể tham gia, còn có cách gọi chi tiết hơn như hợp tác ba bên, hợp
tác bốn bên, v.v… Ví dụ, hợp tác Việt Nam - Thái Lan là hợp tác song
phương, hợp tác giữa 10 nước trong ASEAN là hợp tác đa phương.
Ngoài ra, còn một số cách phân loại khác dựa trên tính chất hay mục
đích hợp tác. Ví dụ, hợp tác mở hay đóng, hợp tác lỏng hay chặt, hợp tác phát
triển hay hợp tác an ninh… Tuy nhiên, các cách phân loại này không được sử
dụng phổ biến mà thường chỉ dùng để nhấn mạnh tính chất hay mục đích nào
đó của hợp tác.
Theo đó, có khá nhiều hình thức hợp tác đang tồn tại như:
+ Hợp tác sản xuất
Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất bao gồm gia công, xây dựng xí nghiệp
chung, chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất quốc tế… Hình thức hợp tác này
có tác dụng góp phần giải quyết việc làm, du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, làm biến đổi cơ bản nền kinh tế bản địa.
Có những hình thức hợp tác chủ yếu sau:
Nhận gia công và hợp tác về lao động:
Nhận gia công cho nước ngoài là một hình thức hợp tác quốc tế nhằm
tạo việc làm, sử dụng hợp lý nguồn lao động và công suất máy móc, thiết bị
hiện có. Nhiều nước trên thế giới, kể cả những nước NICs châu Á, rất quan
tâm phát triển hình thức hợp tác này.
Trong quá trình phát triển kinh tế, các nước đều thiếu lao động ở những
khía cạnh khác nhau; có thể thiếu lao động giản đơn ở các nước công nghiệp
phát triển, hoặc thiếu lao động có trình độ kỹ thuật-công nghệ cao ở các nước
đang phát triển. Do đó, phải có sự hợp tác lao động giữa các nước để điều hòa
lao động từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho các bên đều có lợi.
đan kết vào nhau.
18
+ Hợp tác về khoa học - công nghệ:
Hợp tác về khoa học công nghệ là một loại hoạt động bao gồm các hình
thức phối hợp giữa các nước để cùng nhau tiến hành nghiên cứu, sáng chế,
thiết kế, thử nghiệm, trao đổi các kết quả nghiên cứu, thông tin về khoa học
công nghệ, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất.
Đây là một đòi hỏi khách quan trong thời đại ngày nay khi khoa học
công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, những thành tựu khoa học
công nghệ trở thành tài sản chung của nhân loại. Hiện nay, không có một
quốc gia nào có khả năng tự mình giải quyết mọi vấn đề khoa học công nghệ;
mà phải có sự hợp tác nghiên cứu của nhiều cơ quan khoa học nhiều nước thì
mới có thể giải quyết nhanh chóng và có hiệu quả những vấn đề khoa học
công nghệ do cuộc sống đặt ra. Hơn nữa, mỗi nước có thể khai thác thế mạnh
của mình trong nghiên cứu một lĩnh vực khoa học, một công nghệ nào đó và
trao đổi kết quả nghiên cứu hoặc sản phẩm công nghệ với nước khác dưới
nhiều hình thức mà chủ yếu là chuyển giao công nghệ.
Sự chuyển giao công nghệ, nhất là giữa các nước phát triển và các nước
đang phát triển diễn ra sôi động. Các nước đang phát triển rất cần các nguồn
vốn và công nghệ tiên tiến để tổ chức khai thác các tiềm năng vốn có của
mình, nhất là nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên. Trong khi đó, các
nước công nghiệp phát triển lại muốn chuyển giao các công nghệ đã lỗi thời,
tốn nhiều lao động, nguyên liệu và năng lượng. Mặt khác, các nước phát triển
cũng muốn đưa các ngành sản xuất của mình gắn với nguồn nguyên liệu và
thị trường tiêu thụ sản phẩm nên việc chuyển giao công nghệ sang các nước
đang phát triển ngày càng tăng.
Nội dung chuyển giao công nghệ bao gồm chuyển giao cả phần cứng
và phần mềm. Có ba phương thức được thực hiện trong quá trình chuyển giao
công nghệ theo hợp đồng với nước ngoài: 1) Chuyển giao công nghệ không