ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------
NGUYỄN PHƯƠNG LÊ
HỢP TÁC VIỆT NAM - LÀO TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO
CÁN BỘ CHO ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC LÀO TẠI HỌC VIỆN
CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2001 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
HÀ NỘI – 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------
NGUYỄN PHƯƠNG LÊ
HỢP TÁC VIỆT NAM - LÀO TRONG LĨNH VỰC ĐÀO TẠO
CÁN BỘ CHO ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC LÀO TẠI HỌC VIỆN
CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2001 - 2010
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
1.2.2.2. Tại hệ thống các trường Đoàn thể TW và các cơ sở đào tạo.................... 29
1.2.2.3. Tại các tỉnh, thành phố ……….………......……………………………..................….…….....……..31
1.2.2.4. Đào tạo cán bộ Lào tại hệ thống các trường Đảng…………………..….....…...35
Tiểu kết chương 1…………………......…...…………….…………………………..………………….….………..…37
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HỢP TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ CHO
ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC LÀO TẠI HVCT-HCQG HCM (2001 - 2010)
.................................................................................................................................................................................................................
39
2.1. Thoả thuận đào tạo cán bộ cho Đảng và nhà nước Lào
39
3
……….…...….…...
2.2. Quá trình đào tạo cán bộ Lào tại Học viện (2001 - 2010) ……...…...…...… 45
2.2.1. Các loại hình đào tạo cán bộ ....................................................................................... ................... 45
2.2.1.1. Đào tạo, bồi dưỡng cao cấp lý luận chính trị ........................................................... 46
2.2.1.2. Đào tạo đại học chính trị và hoàn chỉnh kiến thức đại học chính
trị........................................................................................................................................................................................................... 46
2.2.1.3. Đào tạo cao học, nghiên cứu sinh………………………………...…………………….…… 47
2.2.1.4. Bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành, cập nhật kiến thức cho các cán
bộ cao cấp ……………………………....................................................……………………………………………………..48
2.2.1.5. Bồi dưỡng giáo viên các trường chính trị Lào …………….…..……..…………… 49
2.2.1.6. Đào tạo tiếng Việt …………………………..……………………………………….………………….. 49
2.2.2. Về số lượng đào tạo
4
CHƯƠNG 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỢP TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ
LÀO TẠI HVCT-HCQG HCM
……..........................................................................…….…………….
75
3.1. Quan điểm chỉ đạo………………………..……………………………………………..…………………. ...75
3.2. Kiến nghị, giải pháp ....................................................................................................................................... 76
3.2.1. Về phía các cơ quan chức năng của Việt Nam
.........................................................
76
3.2.2. Về phía HVCT-HCQG HCM........................................................................................................... 79
3.2.2.1. Cần tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình đào tạo........................................ 80
3.2.2.2. Không ngừng nâng cao chất lượng công tác quản lý đào tạo ..... .......... 81
3.2.2.3. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu, giáo
trình
cho
học
viên
CĐ
CH
CHDCND
CHXHCN
CNH, HĐH
CNXH
CT-HC
CTQG
CT-XH
DCCH
ĐCS
ĐCSĐD
ĐCSVN
ĐH
ĐHQG
ĐLĐVN
ĐNDCM
ĐSQ
ĐTNCS HCM
GD
GD&ĐT
GS
HCM
HV
HVBC&TT
HVCT-HC
HVCT-HCKV
HVCT-HCQG
Ban chấp hành
Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia
6
HVCTQG HCM
HVHC
HTQT
KHKT
KHXH
KH&ĐT
KT
KT-XH
KTX
NCKH
NCS
Nxb
PGS
PTTH
QHQT
QLNN
TBCN
ThS
TS
TW
VH
VH-XH
XHCN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Học viện Hành chính
Bảng 2.4: Số lượng học viên Lào tại hệ thống HVCT-HCQG HCM từng
năm, từ năm 2001 - 2010……................................................................ 110
Bảng 2.5: Số lượng học viên Lào tại Trung tâm Học viện (2001 - 2010)
.................................................................................................................111
Bảng 2.6: Số lượng học viên Lào tại HVBC&TT (2001 - 2010) ……...112
Bảng 2.7: Số lượng học viên Lào tại HVHC (2001 - 2010) ...................113
Bảng 2.8: Số lượng học viên Lào tại HVCT-HCKV I (2001 - 2010) ....114
2. Danh mục các biểu
Biểu đồ 2.1: Các loại hình đào tạo cán bộ Lào tại hệ thống HVCT-HCQG
HCM (2001-2010) ....................................................................................45
Biểu đồ 2.2: Số lượng học viên Lào tiếp nhận và tốt nghiệp tại HVCTHCQG HCM (2001-2010) ........................................................................50
Biểu đồ 2.3: Tỉ lệ % học viên Lào tiếp nhận tại các đơn vị đào tạo của
HVCT-HCQG HCM (2001-2010) ...........................................................51
Biểu đồ 2.4: Sự gia tăng số lượng học viên Lào tại HVCT-HCQG HCM
(2001-2010) ..............................................................................................63
8
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam và Lào là hai dân tộc có mối quan hệ láng giềng lâu đời. Từ
khi có ĐCSĐD ra đời, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng hai nước, hai dân tộc
Việt Nam và Lào đã xây đắp nên tình đoàn kết chiến đấu và mối quan hệ hữu
nghị đặc biệt. Tình hữu nghị truyền thống Việt - Lào do Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Chủ tịch Cayxỏn Phômvihẳn đặt nền móng, được Đảng, Chính phủ
và nhân dân hai nước dày công vun đắp, đã không ngừng đơm hoa kết trái.
Trải qua các chặng đường lịch sử của hai dân tộc, sự hợp tác giữa hai
nước ngày càng phát triển sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
đối ngoại, an ninh quốc phòng... Đặc biệt, hai bên hết sức coi trọng giúp nhau
nước.
Là một người công tác tại đơn vị trực thuộc HVCT-HCQG HCM, nơi
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Lào, đối với bản thân tôi, việc nghiên cứu về vấn
đề này lại càng trở nên cần thiết và có ý nghĩa.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn: “Hợp tác Việt Nam - Lào
trong lĩnh vực đào tạo cán bộ cho Đảng và Nhà nước Lào tại HVCTHCQG HCM giai đoạn 2001 - 2010” làm đề tài luận văn thạc sỹ, chuyên
ngành QHQT cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, ở trong nước có các đề tài, sách, báo, tài liệu
đề cập đến mối quan hệ Việt – Lào, trong đó có công tác đào tạo cán bộ như:
- Lê Đình Chỉnh: Quan hệ đặc biệt hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào
trong giai đoạn 1954 - 2000 (Nxb CTQG, Hà Nội, 2007).
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Quan hệ giữa Việt Nam và Lào trong giai
đoạn hiện nay của Viện QHQT, HVCTQG HCM (Hà Nội, 2000).
10
- Vũ Dương Huân: “Thành tựu hợp tác đặc biệt, toàn diện Việt- Lào
trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8 - 2007.
- Nguyễn Thị Phương Nam: “Quan hệ hợp tác giáo dục và đào tạo Việt Lào từ 1986 đến nay”, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 5(74) - 2005.
Mỗi công trình nghiên cứu và bài viết trên đều có cách tiếp cận, phạm vi
nghiên cứu và sự đánh giá khác nhau trên các lĩnh vực hợp tác, song đều nhấn
mạnh về mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam và Lào, có
giá trị tham khảo hữu ích liên quan đến vấn đề hợp tác trong lĩnh vực đào tạo.
Tuy nhiên, nghiên cứu về Hợp tác Việt Nam - Lào trong lĩnh vực đào tạo cán
bộ Lào là đề tài mới mẻ, đặc biệt là trong phạm vi hệ thống HVCT-HCQG
HCM.
Tại Hội thảo khoa học quốc tế “Quan hệ hợp tác hữu nghị đặc biệt giữa
HVCT-HCQG HCM và HVCT-HCQG Lào, thành tựu và triển vọng” diễn ra
tại HVCT-HCQG HCM năm 2007, có rất nhiều tham luận của các nhà khoa
Việt Nam - Lào trong đào tạo cán bộ cho Đảng, Nhà nước Lào tại HVCTHCQG HCM.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự hợp tác đặc biệt giữa Việt Nam
- Lào trong lĩnh vực đào tạo cán bộ giúp Lào trên hai khía cạnh: Quan điểm,
đường lối, chủ trương, chính sách và thực tiễn triển khai thực hiện sự hợp tác
đó trong thực tế.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu hợp tác Việt Nam - Lào trong lĩnh vực đào tạo
cán bộ cho Đảng, Nhà nước Lào.
12
Về không gian: Nghiên cứu, đánh giá, khảo sát các cơ sở đào tạo cán bộ
Lào thuộc HVCT-HCQG HCM bao gồm Trung tâm HV, HVBC&TT, HVHC
và HVCT-HCKV I.
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu từ năm 2001 - 2010 (theo mốc
thời gian Việt Nam và Lào ký Chiến lược hợp tác KT, VH, KHKT giai đoạn
2001 - 2010). Tuy nhiên, luận văn còn đề cập đến giai đoạn trước năm 2001
để có cái nhìn hệ thống, liên tục.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả dựa trên quan điểm phương pháp luận
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về thời đại và quan hệ giữa các quốc gia,
dân tộc; tư tưởng HCM về đoàn kết quốc tế. Luận văn bám sát các quan điểm,
đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam và Lào; chủ trương nhất quán
trước sau như một của hai Đảng, hai Nhà nước về hợp tác hữu nghị đặc biệt
giữa hai nước láng giềng anh em, trong công tác đào tạo cán bộ cho Đảng,
nhân dân và cách mạng Lào. Đây là căn cứ lý luận, định hướng tư tưởng quan
trọng của quá trình thực hiện đề tài luận văn.
HVCT-HCQG HCM từ năm 2001 - 2010. Thông qua tìm hiểu về số lượng,
chương trình, giáo trình đào tạo, về chế độ chính sách, cơ sở vật chất, điều
kiện ăn ở sinh hoạt và học tập của học viên…, chương 2 đánh giá tình hình
hợp tác trong mười năm, chỉ ra những thành tựu chủ yếu đạt được và hạn chế
còn tồn tại trong quá trình hợp tác đào tạo cán bộ Lào tại HVCT-HCQG
HCM.
Chương 3: Nâng cao hiệu quả hợp tác đào tạo cán bộ Lào tại HVCTHCQG HCM.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Bạn tại HVCT-HCQG HCM
luôn được lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam quan tâm chỉ đạo và sự giúp
14
đỡ, phối hợp tích cực của các bộ, ban, ngành, tuy nhiên không thể tránh khỏi
những hạn chế. Xuất phát từ thực tiễn thực hiện, chương 3 đưa ra những giải
pháp đối với các cơ quan chức năng của Việt Nam và Lào, với bản thân HV
cũng như lưu học viên, nhằm khắc phục những tồn tại, phát huy hơn nữa
những thành tựu đạt được, nâng cao hiệu quả hợp tác, đảm bảo thực hiện tốt
nhiệm vụ chính trị lâu dài, phù hợp với thực tế, đáp ứng được nhu cầu đào tạo
cán bộ cho Bạn.
15
CHƯƠNG 1: TRUYỀN THỐNG HỢP TÁC VIỆT - LÀO TRONG LĨNH
VỰC ĐÀO TẠO CÁN BỘ CHO ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC LÀO
1.1. Quan điểm của hai Đảng, hai Nhà nước về mối quan hệ đặc biệt
Việt - Lào và hợp tác đào tạo cán bộ cho Lào
1.1.1. Quan điểm về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào là mối quan hệ hữu nghị truyền
thống đoàn kết đặc biệt, trải dài trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc
tranh chống sự đô hộ, áp bức, bóc lột của chế độ phong kiến, thực dân diễn ra
ở khắp nơi, trong đó có những phong trào yêu nước gắn kết nhân dân hai
nước Việt - Lào.
Dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đứng
đầu, liên minh chiến đấu giữa các nước Đông Dương nói chung, giữa Lào và
Việt Nam nói riêng đã làm cho cuộc đấu tranh của hai dân tộc tiến lên giành
thắng lợi có tính chất lịch sử: Tuyên bố độc lập và thành lập nước Việt Nam
DCCH vào ngày 2/9/1945 và tuyên bố độc lập ở Lào vào ngày 12/10/1945.
Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại Đông Dương, do
có sự giúp đỡ tận tình và phối hợp chặt chẽ với nhau, quân và dân hai nước đã
giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chiến thắng lẫy lừng Điện Biên
Phủ đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, công
nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông
Dương.
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Nhân dân Lào đã đương đầu với thử
thách mới: tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Trong tình hình hết sức khó khăn và phức tạp đó, hai Đảng đã tiếp tục đoàn
kết, tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ suốt 20 năm liền để giải phóng
17
đất nước vào năm 1975 và hơn 30 năm qua cùng nhau tiến lên xây dựng đất
nước theo con đường XHCN.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Cách mạng Lào không thể thiếu sự
giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể
thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào. Việc nước Việt Nam DCCH thiết lập
quan hệ ngoại giao với Vương quốc Lào vào ngày 5/9/1962 là bước ngoặt hết
sức quan trọng trong lịch sử ngoại giao của mỗi nước, góp phần quan trọng
thúc đẩy tiến trình thắng lợi của cách mạng mỗi nước, đồng thời là một điều
đỡ lẫn nhau, hợp tác chặt chẽ nhằm tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ
độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, chống mọi âm mưu và hành động phá
hoại của đế quốc và lực lượng phản động nước ngoài.
Sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng
sản quốc tế lâm vào khủng hoảng. Chủ trương củng cố, tăng cường tình đoàn
kết, hợp tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước đã thể hiện rõ
lập trường kiên định trước sau như một của ĐCSVN và ĐNDCM Lào. Trong
bối cảnh quốc tế hiện nay, việc tăng cường quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau,
vì lợi ích nhân dân hai nước trở thành chiến lược cách mạng của mỗi nước, là
tình cảm và trách nhiệm của mỗi Đảng, liên quan đến vận mệnh của hai Đảng,
hai Nhà nước, nhân dân hai nước. Điều này không chỉ vì lợi ích kinh tế đơn
thuần, mà còn có ý nghĩa rất quan trọng về mặt chính trị và an ninh cho mỗi
quốc gia, liên quan đến nền độc lập dân tộc và CNXH mà hai nước đang cùng
nhau xây dựng.
Trong giai đoạn hiện nay, dù tình hình chính trị trên thế giới có nhiều
diễn biến phức tạp, nhiều ĐCS tan rã hoặc mất vai trò cầm quyền; các thế lực
thù địch sử dụng mọi âm mưu phá hoại, chia rẽ các ĐCS và các nước XHCN
còn lại, nhưng mối quan hệ hữu nghị, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác
toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Lào không những không phai nhạt mà
19
còn được tăng cường, vun đắp với chất lượng mới, cao hơn trên tinh thần tôn
trọng độc lập, chủ quyền, giúp đỡ lẫn nhau và đôi bên cùng có lợi. Đặc biệt
sau khi hai Đảng khởi xướng đường lối đổi mới từ năm 1986, mối quan hệ
hữu nghị Việt - Lào vẫn tiếp tục được tăng cường, phát triển cả chiều rộng lẫn
chiều sâu trong mọi lĩnh vực.
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, Việt Nam và Lào đã có những đổi
mới quan trọng về đường lối đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng
hóa QHQT, song một vấn đề có tính nguyên tắc mà cả hai nước cùng quan
Nam - Lào, phối hợp trao đổi về lý luận và thực tiễn công cuộc đổi mới; kinh
nghiệm xây dựng Đảng, tăng cường các hoạt động giao lưu giữa các địa
phương hai nước. Trên cơ sở các hoạt động đó, hợp tác về kinh tế, thương
mại, đầu tư phù hợp với tình hình thực tế của hai bên được đẩy mạnh. Hợp tác
theo dự án, theo kế hoạch đã ký kết hàng năm giữa hai Chính phủ, đề ra chiến
lược hợp tác đầu tư lâu dài giai đoạn từ 2001 - 2010, hợp tác có trọng điểm…
đã làm cho hợp tác kinh tế - thương mại gần đây đã có bước tiến triển rõ rệt.
Nhằm gìn giữ những giá trị lịch sử, góp phần vun đắp và nâng cao hiệu
quả mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước, Bộ Chính trị ĐCSVN (khóa
X) và Bộ Chính trị ĐNDCM Lào (khóa VIII) đã tổ chức hợp tác cùng biên
soạn và công bố công trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; Lào Việt Nam (1930 - 2007)”. Công trình góp phần thiết thực trong công tác tuyên
truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là
đối với thế hệ trẻ; đồng thời, nâng cao ý thức giữ gìn, vun đắp và phát triển
mãi mãi mối quan hệ tốt đẹp, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt - Lào; đấu
tranh chống lại sự xuyên tạc, bóp méo lịch sử của các thế lực thù địch chia rẽ
tình đoàn kết của nhân dân hai nước anh em Việt - Lào.
21
Lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Lào luôn khẳng định
quyết tâm tiếp tục giữ gìn, bảo vệ và phát triển mối quan hệ hữu nghị, tình
đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và
nhân dân hai nước. Điều đó càng thể hiện rõ quan điểm nhất quán, lâu dài của
ĐCSVN và ĐNDCM Lào, cũng như trong các văn kiện của hai Đảng từ trước
đến nay, mà gần đây là văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
ĐCSVN và Văn kiện Đại hội đại biểu ĐNDCM Lào lần thứ IX năm 2011.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của ĐCSVN (năm 2011) đã nhấn
mạnh: “Tiếp tục tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng
giềng, nhất là các nước có chung đường biên giới, trong đó đặc biệt nhấn
việc, vì vậy việc bồi dưỡng đào tạo cán bộ trở thành vấn đề gốc của Đảng”
[44, tr.269]. Chủ tịch Cayxỏn Phônvihẳn cũng quan niệm: “Cán bộ là vốn quý
của quốc gia”. Tiếp tục các quan điểm nêu trên, trong mọi thời kỳ cách mạng,
ĐCSVN và ĐNDCM Lào luôn luôn chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ.
Trong quá trình đấu tranh cách mạng, ĐLĐVN, nay là ĐCSVN, luôn
quan tâm giúp Lào đào tạo cán bộ, đáp ứng yêu cầu cách mạng của nhân dân
các bộ tộc Lào, coi đây là một nhiệm vụ quốc tế đặc biệt, đồng thời là nhiệm
vụ quốc gia quan trọng của mình. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng,
ĐNDCM Lào luôn quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc ĐNDCM Lào lần thứ IV (1986) đã đề
ra đường lối đổi mới. Để xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới, ĐNDCM Lào chỉ rõ phải đổi mới công
tác cán bộ, đặc biệt là khâu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Đại hội đại biểu lần thứ VII ĐNDCM Lào chỉ rõ: “Việc đào tạo cán bộ
phải dựa vào nhu cầu thực tế của công việc trước mắt và lâu dài của mọi
ngành và lĩnh vực công tác. Đặc biệt là chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
23
lãnh đạo có lập trường tư tưởng cách mạng vững vàng, cán bộ trẻ, khỏe, năng
động, có trình độ, năng lực, có nghiệp vụ chuyên môn, được quần chúng tin
cậy, quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc và cán bộ
nữ” [31]. Cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội, Hội nghị BCHTW ĐNDCM Lào lần
thứ 6 (khóa VII) khẳng định: “Chúng ta phải đổi mới công tác cán bộ, đổi mới
từ quan điểm cho đến cơ chế lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sắp xếp, bố trí,
sử dụng cán bộ, đặc biệt phải đổi mới quan điểm của người làm công tác tổ
chức - cán bộ” [30]. Chỉ thị số 04, ngày 25/7/1994 của Bộ chính trị TW
ĐNDCM Lào về rà soát lại đội ngũ cán bộ và quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ nêu rõ: “Các cấp ủy Đảng, Ban lãnh đạo các cấp phải khẩn trương tiến
ĐNDCM Lào luôn coi cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề mấu chốt, là
mắc xích quan trọng trong mọi giai đoạn cách mạng, là nhân tố cơ bản của sự
nghiệp bảo vệ và xây dựng, phát triển đất nước, là yếu tố quyết định kết quả
việc tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Nguyên Chủ tịch
Cayxỏn Phômvihẳn đã từng quan niệm Cán bộ là vốn quý báu nhất của Đảng,
là người lãnh đạo nhân dân, là người phục vụ nhân dân, là cầu nối giữa Đảng
và quần chúng, sau khi Đảng đã có đường lối đúng đắn, công việc của Đảng
sẽ tốt hay xấu, sẽ thắng lợi hay thất bại thì tất cả là do cán bộ của Đảng quyết
định. Chính vì vậy, ĐNDCM Lào luôn nỗ lực chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng,
rèn luyện để có đội ngũ cán bộ với phẩm chất cách mạng vững vàng, có lối
sống của giai cấp công nhân, có tinh thần yêu nước, hết lòng phục vụ tổ quốc,
phục vụ nhân dân. Suốt thời gian qua, Đảng, Chính phủ Lào cũng như Đảng,
Chính phủ Việt Nam đã hợp tác về đào tạo cán bộ ở tất cả các trình độ, đáp
ứng nhu cầu thiết yếu về đào tạo cán bộ cho cho Đảng và Nhà nước Lào.
Trong thời kỳ đấu tranh cứu quốc cũng như thời kỳ bảo vệ và xây dựng
đất nước Lào, đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý, cán bộ KHKT còn thiếu nhiều
về số lượng, yếu về chất lượng, điều kiện tài chính, cơ sở vật chất bồi dưỡng
25