Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình ở Việt Nam thực trạng và giải pháp - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
_____

KIM NGỌC ANH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG LĨNH VỰC PHÁT THANH -
TRUYỀN HÌNH Ở VIỆT NAM: THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ XHCN
Mã số: 5. 02. 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Người hướng dẫn: TIẾN SỸ TẠ ĐỨC KHÁNH

1.1.1

Nguồn nhân lực
9
1.1.1.1

Quan niệm về nguồn nhân lực
9
1.1.1.2

Vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường
12
1.1.2

Phát triển nguồn nhân lực
14
1.1.2.1

Quan niệm về phát triển nguồn nhân lực
14
1.1.2.2

Đặc điểm của phát triển nguồn nhân lực
15
1.1.2.3

Nội dung phát triển nguồn nhân lực
19
1.2


1.2.2.3

Đài phát thanh Hà Lan - RNTC
37
Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG LĨNH VỰC PT - TH VIỆT NAM
40
2.1

KHÁI QUÁT VỀ PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH
VIỆT NAM
40

2.1.1

Vai trò của Phát thanh - Truyền hình trong hệ thống
của các phương tiện truyền thông đại chúng
40
2.1.2

Sơ lược về quá trình xây dựng và trưởng thành của
Phát thanh - Truyền hình Việt Nam
41
2.1.2.1

Các giai đoạn phát triển của Đài Tiếng nói Việt Nam
(TNVN) và Truyền hình Việt Nam (THVN)
41

Trong công tác tuyển dụng nguồn nhân lực
55
2.2.2.3

Về công tác bố trí, sử dụng lao động
58
2.2.2.4

Về công tác đào tạo, phát triển nhân lực
59
2.2.2.5

Công tác đào tạo nguồn nhân lực tại các Trường nghiệp
vụ PTTH
62
2.2.2.6

Về lương bổng và đãi ngộ vật chất đối với nhân lực tại
Đài TNVN và THVN
63
2.2.3

Những hạn chế
64
2.2.3.1

Về chất lượng nguồn nhân lực
64
2.2.3.2


2.2.4.3

Chính sách tuyển dụng nhân lực còn nhiều hạn chế
75
2.2.4.4

Chính sách sử dụng, bố trí nhân lực còn nhiều hạn chế
77
2.2.4.5

Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chưa hiệu
quả
78
2.2.4.6

Chế độ lương và đãi ngộ vật chất đối với nguồn nhân lực
còn bất cập
81
Chương 3

TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN PHÁT THANH -
TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC THỜI GIAN TỚI
85
3.1

TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA PHÁT THANH -
TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
85
3.1.1.

Quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng
về công tác phát triển nguồn nhân lực
97
3.2.2

Công tác phát triển nguồn nhân lực cần phải bám sát
chiến lược phát triển và đặc thù của ngành
98
3.2.3

Đổi mới cách nhận thức về vị trí và chức năng của
99

người làm phát thanh - truyền hình.
3.2.4

Đổi mới chính sách phát triển nhân lực tiến hành cùng
với việc đổi mới chính sách phát triển có liên quan chặt
chẽ và chi phối chính sách phát triển nhân lực.
99
3.2.4.1

Nghiên cứu đổi mới mô hình quản lý hệ thống PTTH Việt
Nam
99
3.2.4.2.

Tuyển dụng và sắp xếp lại nhân lực
100
3.2.4.3

Đổi mới chính sách tuyển dụng, sử dụng nguồn nhân
lực
106
3.3.2.1

Đổi mới tư duy quản lý nhân sự
106
3.3.2.2

Có chính sách sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực bên
ngoài xã hội
107
3.3.2.3

Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng nhân lực
108
3.3.3

Có chính sách điều tiết hợp lý trong chế độ tiền lương
và đãi ngộ vật chất đối với nguồn nhân lực
109
3.3.3.1

Tiến hành thí điểm khoán kinh phí cho các đơn vị sản
xuất
109
3.3.3.2

Nghiên cứu, đề xuất đổi mới chế độ lương và đãi ngộ
110


1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ABU

Asia Broadcasting Union - Hiệp hội phát thanh - truyền
hình Châu á Thái Bình Dương
ACCT

Cơ quan hợp tác Văn hoá, Khoa học kỹ thuật thuộc Đại sứ
quan Pháp
AFTA

Asean Free Trade Agency - Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN
AIBD

Asia Institus Broadcasting Development - Viện phát
triển phát thanh - truyền hình Châu á Thái Bình Dương
AIF

Tổ chức liên Chính phủ Pháp ngữ
ASEAN

Asian South east Acociation Nations - Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam á
CCTV


OIJ

Organization International Journalists - Tổ chức Quốc
tế cỏc Nhà bỏo
PTTH

Phát thanh - Truyền hình
RMT

Đài Phát thanh - Truyền hình Malaisia 2
RNTC

Trung tâm Đào tạo phát thanh Hà Lan
SEF

Tổ chức Quỹ Môi trường Thụy Điển
SIDA

Cơ quan phát triển quốc tế Thuỵ Điển
UNESCO

Tổ chức Giáo dục, Văn hoá và Khoa học của Liên hợp
quốc
UNICEF

Tổ chức chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em của Liên
hiệp quốc


3
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ cuối năm 1986, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, trọng tâm là
lĩnh vực kinh tế. Công cuộc đổi mới đã đem lại nhiều thành tựu quan trọng trên
các mặt kinh tế xã hội. Những thành tựu đó đã khắc phục được tình hình khủng
hoảng kinh tế xã hội, tạo các tiền đề để nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, văn hoá - xã hội, báo chí nước nhà đã có
sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Sự phát triển đó là kết
quả của những thành tựu chung của công cuộc đổi mới diễn ra hết sức sâu rộng,
nhưng đồng thời bản thân báo chí cũng tự đổi mới vươn lên mạnh mẽ và đã có
những đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp đổi mới của đất nước. Báo chí đã
vượt lên những yếu kém để hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình. Bước trưởng
thành quan trọng của báo chí không chỉ thể hiện về số lượng mà còn thể hiện rõ
ở nội dung và những đóng góp của báo chí đối với công cuộc đổi mới. Đó là
luôn tuyên truyền, cổ vũ cho đường lối đổi mới của Đảng, góp phần quan trọng
vào thắng lợi chung của cách mạng, vào việc thực hiện những nhiệm vụ thường
xuyên và đột xuất, về đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước, vào việc nâng
cao dân trí, bảo vệ và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, lựa

mới, công nghệ cao, sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất khác trong quá
trỡnh sản xuất xó hội, trở thành lực lượng xung kích, đi đầu trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập, đi tới nền kinh tế tri thức. Phát triển
nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa
ở Việt Nam là một trong những giải phỏp đột phá nhằm thực hiện thắng lợi
chiến lược phát triển cả ở cấp cơ sở (doanh nghiệp, đơn vị kinh tế, địa phương)
và cấp quốc gia.
Phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân
lực trong lĩnh vực phát thanh - truyền hỡnh Việt Nam tỏc giả thấy cũn bộc lộ
nhiều hạn chế và bất cập: Với phương thức tổ chức và quản lý nguồn nhân lực
như hiện nay sẽ không giải quyết được nhiệm vụ tập trung trí lực của rộng rãi
các thành phần sáng tạo trong xã hội nhằm làm các chương trình phát sóng có 5
chất lượng cao. Phải chuyển từ cơ chế quản lý nhân lực theo mô hình của đơn vị
hành chính là chủ yếu sang mô hình đơn vị sản xuất đặc thù. Nói cách khác,
phải có cơ chế sử dụng có kế hoạch, phù hợp với đặc điểm riêng biệt về chính trị
cũng như nghiệp vụ của phỏt thanh truyền hình, các nguồn nhân lực từ xã hội.
Mặt khác, thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Đài phát thanh và Đài Truyền
hỡnh quốc gia cũng cũn nhiều điều phải bàn: có quá ít các chuyên gia đầu
ngành, mới có 0,3% tiến sỹ; chưa đến 2% có trỡnh độ thạc sỹ; Phát thanh -
truyền hỡnh đũi hỏi một đội ngũ nhân lực có tri thức cao, trong khi vẫn cũn cú
29,7% tổng số nhân lực cú trỡnh độ trung cấp, công nhân (tỷ lệ này là quá cao so
với cơ cấu trỡnh độ thực tế đũi hỏi) và chỉ cú 21,7% cú trỡnh độ ngoại ngữ trong
khi yêu cầu này ngày càng đũi hỏi cao trước xu thế hội nhập; cơ cấu lao động có
đến 36,4% dưới 30 tuổi cho thấy lực lượng lao động xung kích khá đông đảo
nhưng lại báo động về chất lượng công tác, vỡ lực lượng này chưa có tích luỹ
nhiều về kinh nghiệm,
Những vấn đề vừa trình bày ở trên cho thấy, công tác phát triển nguồn

hội nhõn văn quốc gia do NXB Khoa học Xó hội xuất bản năm 2003; “Phát triển
nhân lực khoa học công nghệ ưu tiên ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá” của Đặng Bá Lâm và Trần Khánh Đức, do NXB Giáo dục
xuất bản năm 2002; “Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở
Việt Nam hiện nay” của TS. Hồ Anh Dũng, NXB Khoa học xã hội 2002; “Sử
dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” của tiến sỹ Nguyễn Hữu
Dũng, NXB Lao động - xó hội 2003,…
Ngoài ra còn một số bài viết trên các báo, tạp chí đề cập tới vấn đề phát
triển nguồn nhân lực, song vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
đầy đủ, có hệ thống về chính sách phát triển nguồn nhân lực phỏt thanh - truyền
hình Việt Nam. Mọi nghiên cứu chỉ dừng ở mức báo cáo kinh nghiệm hay thực
hiện một cách bị động, định lượng, thiếu tính hệ thống chưa có cơ sở khoa học
vững chắc. Do đó đề tài hy vọng góp phần làm sáng tỏ thêm về vấn đề này.
3. Mục đích nghiờn cứu
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng chất lượng nguồn nhân
lực, cũng như thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực phát thanh - 7
truyền hình Việt Nam, luận văn đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm phát triển
nguồn nhân lực trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiờn cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng nguồn nhân lực và công tác phát triển
nguồn nhân lực trong lĩnh vực PTTH Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Nguồn nhân lực và công tác phát triển nguồn nhân
lực nguồn nhân lực tại Đài TNVN và THVN trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ
năm 1993 trở lại đây, năm Chính phủ ban hành Nghị định 52/CP và 53/CP về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Đài THVN và Đài
TNVN, đánh dấu cho sự phát triển mạnh mẽ của hai loại hình báo chí: phát
thanh và truyền hình. Việc nghiên cứu đưa ra những giải pháp phát triển nguồn

Truyền hỡnh Việt Nam thời gian qua.
- Đề xuất những giải phỏp cơ bản nhằm phỏt triển nguồn nhõn lực trong
lĩnh vực phát thanh - truyền hình thời gian tới.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC TẠI ĐÀI TNVN VÀ ĐÀI THVN THỜI GIAN QUA.
Chương 3: TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA PHÁT THANH -
TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC PHÁT THANH –
TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM.

9

Chương 1
NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

người.
Nguồn nhân lực ở dạng tiềm năng là ở trạng thái tĩnh, mặc dù nguồn nhân
lực lực luôn luôn được phát triển. Nguồn lực đó phải được chuyển sang trạng
thái động, tức là được phân bố hợp lý và sử dụng cú hiệu quả. Ở đây phải làm
thế nào để chuyển nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng đó thành “vốn con
người - vốn nhân lực - Human Capital”. Điều căn bản nhất ở đây là phải làm thế
nào để không ngừng nõng cao tính năng động xó hội của con người, thông qua
các chính sách, thể chế và giải pháp giải phóng triệt để tiềm năng con người
(trong đó quan trọng nhất là giải phóng sức lao động). Con người với tiềm năng
vô tận, nếu được tự do phát triển, tự do tư duy sáng tạo và cống hiến, được đánh
giá đúng giá trị lao động, giá trị sáng tạo và cống hiến thỡ tiềm năng vô tận đó
của nguồn nhân lực sẽ được khai thác và phát huy, trở thành nguồn vốn vô cùng
to lớn. Khai thác tối đa tiềm năng con người, đặc biệt là tiềm năng trớ tuệ và tay
nghề là một trong những chỉ bỏo quan trọng phản ỏnh trỡnh độ phát triển của
một quốc gia. Kinh nghiệm các nước, ngay cả các nước phát triển, cho thấy việc
khai thác tiềm năng con người cũn rất hạn chế.
Như vậy, nguồn lực con người được hiểu là tổng hoà trong thể thống nhất
hữu cơ giữa năng lực xó hội của của người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính
năng động xó hội của con người. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trỡnh
biến nguồn lực con người thành vốn con người. Có thể biểu diễn mối quan hệ
này bằng mụ hỡnh sau:
Nguồn
nhõn
lực
Năng lực xó hội của con người
Tính năng động xó hội của con người
Nguồn

trường pháp luật, thể chế và chính sách, cơ chế giải phóng sức lao
động, tạo động lực để con người phát triển, phát huy tài năng và sức
sáng tạo của mỡnh trong nền kinh tế thị trường định huớng xó hội chủ
nghĩa. 12
- Cuối cùng, nhóm yếu tố cấu thành nguồn nhân lực liên quan đến
truyền thống lịch sử và nền văn hoá một quốc gia, một tổ chức kinh
tế, Nó bồi đắp và kết tinh trong mỗi con người và cả cộng đồng, hun
đúc nên bản lĩnh, ý chớ, tỏc phong của con người trong lao động.
1.1.1.2. Vai trò của nguồn nhõn lực trong phỏt triển kinh tế thị trường
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển sang nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri
thức và trong xu thế toàn cầu hoỏ, hội nhập kinh tế quốc tế, chỳng ta ngày càng
nhận thức rừ hơn về vai trũ quyết định của nguồn nhân lực trong phát triển. Các
lý thuyết tăng trưởng kinh tế gần đây đó chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng
trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất 3 trụ cột cơ bản là: Áp dụng
công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Trong đó, yếu tố và cũng là động lực quan trọng nhất của sự tăng
trưởng kinh tế bền vững chính là con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất
lượng, tức là con người được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức, tay
nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo để trở thành “nguồn vốn - vốn con người,
vốn nhân lực”. Bởi vỡ, trong một nền kinh tế toàn cầu đầy biến động và cạnh
tranh quyết liệt lúc này ưu thế cạnh tranh nghiêng về các quốc gia có nguồn
nhân lực chất lượng cao, môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và một xó hội
ổn định. Một số nước đang phát triển và phát triển trong khu vực Đông Nam Á
(Singapore, Mailaisia) hay Hàn Quốc, đang điều chỉnh chiến lược cạnh tranh
trong tương lai, khi phát triển nền kinh tế tri thức, đó xỏc định phát triển nguồn
vốn nhân lực như là yếu tố cạnh tranh cơ bản nhất.
Nếu xem xét dưới góc độ phát triển bền vững, bao gồm tăng trưởng kinh

Chớnh vỡ vậy, ngay khi khởi xướng công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà
nước ta đó nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của yếu tố con người và xác định:
“Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển” (Nghị quyết Đại
hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam). Nghị quyết Đại hội Đảng VIII cũng nhấn
mạnh “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát
triển nhanh và bền vững”. Tổng kết thực tiễn 15 năm đổi mới và nghiên cứu lý
luận, Đảng và Nhà nước ta một lần nữa khẳng địng trong Nghị quyết Đại hội IX: 14
“Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực
1.1.2.1. Quan niệm về phát triển nguồn nhân lực
Cho đến nay, xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau nên khi bàn về phát
triển nguồn nhân lực vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau. Sau đây xin được trình
một số quan niệm về phát triển nguồn nhân lực:
UNESCO sử dụng khỏi niệm phỏt triển nguồn nhõn lực theo nghĩa hẹp
và quan niệm rằng, phát triển nguồn nhân lực đó là làm cho toàn bộ sự lành
nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất
nước.
CÁC NHÀ KINH TẾ: Cú quan niệm phỏt triển nguồn nhõn lực gần với
quan niệm của UNESCO là phải gắn với phát triển sản xuất và chỉ nên giới hạn
phát triển nguôn nhân lực trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thích
ứng với yêu cầu về việc làm.
ILO: lại cho rằng phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn.
Không chỉ là sự chiếm lĩnh trỡnh độ lành nghề hoặc bao gồm ngay cả vấn đề
đào tạo nói chung, mà cũn là phỏt triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con
người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thoả món nghề nghiệp và

chuyển các xã hội công nghiệp sang xã hội tri thức: từ lao động chân tay sang
lao động trí óc; từ sản xuất kiểu vật chất sang sản xuất kiểu phi vật chất; từ tính
khép kín, tính khu vực sang tính mở, tính toàn cầu. Bên cạnh đó, là sự chuyển
biến to lớn và cơ bản về quản lý và tổ chức sản xuất và các quy trình công nghệ
khác. Những điều này sẽ làm thay đổi lực trong các ngành dịch vụ, đặc biệt là
dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao như xử lý thông tin, giao dịch tài chính ngân
hàng, bưu chính viễn thông và các dịch vụ tri thức khác. Và do vậy, đòi hỏi có
sự đổi mới mang tính cách mạng về phát triển nguồn nhân lực ở hầu hết các
quốc gia.
Sự phát triển của kinh tế - xã hội nƣớc ta. Đất nước ta đang trong giai
đoạn chuyển đổi mạnh mẽ sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà 16
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu mà công cuộc đổi mới
đem lại trong thời gian vừa qua là hết sức to lớn và đáng khâm phục, đó là
chúng ta đã hạn chế được đến mức tối thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực, duy trì được mức tăng trưởng
kinh tế ổn định ở mức cao, điều kiện làm việc, điều kiện sống và sinh hoạt của
nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
ngày càng được nâng cao.
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập hiện nay, Việt Nam đã chủ động và
tích cực tham gia vào tiến trình hội nhập với khu vực và trên phạm vi toàn thế
giới. Năm 1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
(ASEAN) và hiện nay đang tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (gọi tắt
là AFTA) và đang có những bước chuẩn bị để gia nhập Tổ chức thương mại thế
giới (WTO). Khó có thể kể hết những cơ hội mà quá trình hội nhập mang lại cho
nền kinh tế nước ta, nhưng những thách thức đi kèm theo là không nhỏ. Đồng
thời với tiến trình hội nhập, chúng ta cũng đang phải chịu rất nhiều thách thức từ
cả bên trong lẫn bên ngoài đối với việc cải cách hơn nữa nền hành chính quốc

của khoa học và công nghệ. Hiện nay, chúng ta đang triển khai thực hiện Đề án
tin học hoá quản lý hành chính nhà nước (gọi tắt là Đề án 112) với tổng kinh phí
hàng chục ngàn tỷ đồng, thời gian thực hiện từ năm 2001 đến 2005 với mục tiêu
nâng cao một bước đáng kể hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước,
tiến tới mục tiêu Chính phủ điện tử.
Để phát huy tối đa những tính ưu việt của các tiến bộ khoa học, công nghệ
đòi hỏi trình độ của đội ngũ nguồn nhân lực phải được nâng cao một cách tương
xứng và phải không ngừng được bổ sung, cập nhật theo kịp với yêu cầu nhiệm
vụ và sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Phát triển nguồn nhân lực là tất yếu để thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá hƣớng tới nền kinh tế tri thức. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
con đường tất yếu để đưa đất nước, nhất là những nước đang phát triển thoát
khỏi tình trạng lạc hậu, trở thành các quốc gia văn minh, hiện đại. Trong thời đại
ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá không thể tách rời hội nhập và xu thế
toàn cầu hoá. Chỉ có như thế chúng ta mới có thể đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng 18
cách phát triển với thế giới vì thế giới đã đang trong thời kỳ quá độ chuyển từ
nền kinh tế công nghiệp truyền thống sang nền kinh tế mới mà các nhà khoa học
gọi là Nền kinh tế tri thức.
Nền kinh tế tri thức có nhiều tên gọi khác nhau nhưng đều nhằm diễn đạt
một nội dung cơ bản: Ngày nay sản xuất và truyền tải thông tin - tri thức trở nên
quan trọng hơn nhiều so với sản xuất và phân phối hàng hoá công nghiệp. Vì
thế có thể nói là nền kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa vào tri thức, vì các nguồn
lực đầu vào của quá trình sản xuất như vốn và tài nguyên thiên nhiên đều có
hạn, trong khi tri thức là vô hạn.
Tri thức trở thành nguồn vốn quý nhất, quyền sở hữu tri thức trở thành
quan trọng nhất. Trong nền kinh tế truyền thống, người sở hữu xí nghiệp và tư
liệu sản xuất là người nắm tư bản, còn kỹ thuật, tài năng của người lao động đều

từng bước được xây dựng, hình thành, bộ mặt nhiều ngành kinh tế, nhiều vùng
kinh tế đã có những đổi thay. Đặc biệt gần 20 năm đổimới vừa qua, công cuộc
xây dựng và phát triển kinh tế ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có
ý nghĩa rất quan trọng: đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, cơ cấu
kinh tế đã có bước chuyển tích cực, kết cấu hạ tầng kỹ thuật phát triển nhanh,
nền kinh tế có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất, tạo thêm những điều
kiện để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Tuy nhiên, để sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời gian tới
được triển khai mạnh mẽ hơn, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh hơn, có
hiệu quả và bền vững thì còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu, giải đáp, kể cả điều
kiện vật chất, thể chế chính sách, trình tực thực hiện.
Bên cạnh đó, phát triển đầu tư cho lực lượng sản xuất phát triển cũng là yêu
cầu khách quan làm động lực thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển.
1.1.2.3. Nội dung phát triển nguồn nhân lực
Nội dung cơ bản về phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường
cần phải được xem xét dựa trên những nhận thức mới của lý thuyết phát triển
trong thế giới hiện đại (mô hỡnh phỏt triển, phỏt triển con người, phát triển bền
vững).

Trích đoạn Kinh nghiệm của một số nƣớc về phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực phát thanh truyền hình Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc CCT Chưa làm tốt công tác quy hoạch nhân lực Chính sách sử dụng, bố trí nhân lực còn nhiều hạn chế Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chưa có hiệu quả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status