Phát triển nông nghiệp bền vững ở Vĩnh Phúc - Pdf 25


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ……………………………………………… i
DANH MỤC CÁC BẢNG …………………………………………………………ii
DANH MỤC CÁC HÌNH …………………………………………………………iii
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3.1. Mục đích 6
3.2. Nhiệm vụ 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
6. Dự kiến đóng góp mới của luận văn 8
7. Bố cục của Luận văn: 8
Chƣơng 1: PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN ……………………………………….… ………… 9
1.1 Phát triển nông nghiệp bền vững 9
1.1.1 Khái niệm 9
1.1.2 Đặc trưng của nông nghiệp bền vững Error! Bookmark not defined.
1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp bền vững …………11
1.1.4 Nội dung phát triển nông nghiệp bền vững 16
1.1.5. Các tiêu chí đánh giá phát triển nông nghiệp bền vững 22
1.2 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững tại một số địa phƣơng và bài học kinh
nghiệm Error! Bookmark not defined.
1.2.1 Phát triển nông nghiệp bền vững ở Bắc NinhError! Bookmark not
defined.
1.2.2 Phát triển nông nghiệp bền vững ở Phú Thọ 28
1.2.3 Bài học kinh nghiệm Error! Bookmark not defined.

Vĩnh Phúc giai đoạn 2012 - 2015 và tầm nhìn đến năm 2020Error! Bookmark not
defined.
3.1.1 Bối cảnh kinh tế mới ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp bền vững ở
Vĩnh Phúc Error! Bookmark not defined.
3.1.2 Định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững Error!
Bookmark not defined.

3.2 Giải pháp và đề xuất với Nhà nƣớc và tỉnh Vĩnh Phúc nhằm đẩy mạnh phát triển
nông nghiệp bền vững ở Vĩnh Phúc Error! Bookmark not defined.
3.2.1 Giải pháp đối với tỉnh Vĩnh Phúc Error! Bookmark not defined.
3.2.2 Đề xuất với Nhà nước và các cơ quan liên quanError! Bookmark not
defined.
KẾT LUẬN
Error!
Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………….…………… …90
i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
CN
Công nghiệp
2
CNN
Cụm công nghiệp

13
NN
Nông nghiệp
14
NGO
Non-governmental organization – Tổ chức phi chính phủ
15
UBND
Ủy ban nhân dân
16
WHO
World Health Ỏganization – Tổ chức Y tế thế giới
17
XHCN
Xã hội chủ nghĩa ii

DANH MỤC CÁC BẢNG TT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Phát triển dân số tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 - 2011
38

DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Hình 2.1
Biểu đồ cơ cấu dân số Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 – 2011
38
2
Hình 2.1
Biểu đồ thể hiện cơ cấu sử dụng lao động toàn tỉnh giai
đoạn 2005 – 2011
39
3
Hình 2.3
Tăng trƣởng kinh tế tỉnh vĩnh Phúc giai đoạn 2001 - 2011
43
1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt, có vị trí trọng yếu trong cơ cấu nền
kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia, là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế,
cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho con ngƣời tồn tại. Trong quá trình phát triển
kinh tế, nông nghiệp cần đƣợc phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lƣơng
thực và thực phẩm của xã hội. Vì thế, sự ổn định xã hội và mức an ninh về lƣơng thực

số, sử dụng quá mức các chất hoá học đang là vấn đề đƣợc đặt ra.
Xuất phát từ những vấn đề trên, cách tiếp cận mới về phát triển nông
nghiệp đƣợc hình thành đó là phát triển nông nghiệp bền vững. Nông nghiệp bền
vững là một nền nông nghiệp về mặt kinh tế bảo đảm đƣợc hiệu quả lâu dài cho
cả tƣơng lai; về mặt xã hội không làm gay gắt sự phân hoá giàu nghèo, nhằm bảo
hộ một bộ phận lớn nông dân, không gây ra những tệ nạn xã hội nghiêm trọng;
về mặt tài nguyên môi trƣờng, không làm cạn kiệt tài nguyên, không làm suy
thoái và huỷ hoại môi trƣờng.
Vĩnh Phúc là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và đƣợc
tái lập năm 1997. Trong những năm qua kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc đã có nhiều
nét khởi sắc; đã có nhiều chủ trƣơng và giải pháp đúng đắn, phù hợp với điều kiện
thực tế của tỉnh. Điều đó đã phát huy, khai thác tốt các yếu tố nội lực, mặt khác, thu
hút mạnh các nguồn lực đầu tƣ từ bên ngoài (kể cả đầu từ trong nƣớc và đầu tƣ trực
tiếp của nƣớc ngoài), thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH). Tốc độ tăng trƣởng giá trị sản xuất
nông lâm nghiệp, thủy sản bình quân 10 năm gần đây đạt trên 6,5%/năm, năng suất,
chất lƣợng cây trồng, vật nuôi, giá trị sản xuất, thu nhập trên đơn vị diện tích đất
canh tác tăng, cơ cấu chuyển dịch tích cực. Đạt đƣợc kết quả đó là do Vĩnh Phúc đã
chọn hƣớng đi đúng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Mặc dù vậy, phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền vững ở Vĩnh Phúc vẫn
còn nhiều bất cập, đó là:
Về kinh tế: Nông nghiệp tăng trƣởng thiếu bền vững và khả năng rủi ro còn
cao. Cơ sở đảm bảo cho tăng trƣởng bền vững và giảm thiểu rủi ro trong sản xuất
3

còn rất hạn chế, thể hiện: Hệ thống các công trình thuỷ lợi còn yếu kém; giá cả một
số vật tƣ nhập khẩu cho nông nghiệp thƣờng xuyên thay đổi, làm tăng chi phí các
yếu tố đầu vào, ảnh hƣởng hiệu quả sản xuất nhiều loại hàng hoá nông sản; thị
trƣờng tiêu thụ nông sản khó khăn và không ổn định; tín dụng cho nông dân mới chỉ
đáp ứng ở mức thấp so với nhu cầu.

- Công trình nghiên cứu “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi
mới”, Nhà xuất bản Thống kê, năm 2003 của PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc. Đây là
công trình nghiên cứu dài hơi rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có
tính thuyết phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm, công
trình còn cung cấp hệ thống tƣ liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta
nhƣ là một niên giám thống kê nông nghiệp thu nhỏ. Công trình đã luận giải rõ quá
trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta trong những
năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển
nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Những gợi mở về những vấn đề cần giải quyết
của phát triển nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta nhƣ vấn đề đầu tƣ, vấn đề phân hoá
giàu nghèo, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh, xuất khẩu nông sản đã đƣợc tác
giả lý giải với nhiều luận cứ có tính thuyết phục.
Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn
và phát triển bền vững nông nghiệp đã công bố nhƣ:
- “Nông nghiệp và nông dân trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp
tác hóa, dân chủ hóa”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, do Vũ Oanh chủ biên.
- “Con đường Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 do Ban Tƣ tƣởng văn hóa
Trung ƣơng và Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn biên soạn.
- “Vấn đề Nông nghiệp nông dân nông thôn - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh
nghiệm Trung Quốc”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
- “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau” của
TS. Đặng Kim Sơn - Viện trƣởng Viện Chính sách và chiến lƣợc phát triển nông
nghiệp nông thôn.
-“Bàn về một số vấn đề ở nông thôn nước ta hiện nay” của GS. Hồ Văn Thông.
- “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trong
thời kỳ mới” của TS. Lê Quang Phi.
5

- “Thực trạng của nông thôn và đề xuất các chính sách phát triển nông


- xã hội bức xúc, đặc biệt là các vấn đề ở nông thôn đòi hỏi chúng ta phải giải quyết.
Kinh tế thị trƣờng đi liền với hoạt động cạnh tranh, tình trạng phân hóa giàu nghèo
đã và đang diễn ra, đói nghèo của một bộ phận nông dân, nhất là những vùng nông
thôn khó khăn trở thành một hệ lụy xã hội nhức nhối, đặc biệt là các hộ nông dân
mất đất sản xuất do phát triển công nghiệp và đô thị. Lao động nông thôn di cƣ ra
đô thị cũng làm tăng áp lực cho việc giải quyết các vấn đề xã hội. Có một thực tế là,
nông dân là lực lƣợng xã hội cơ bản trong cơ cấu xã hội, có đóng góp to lớn trong
sự nghiệp cải cách và đổi mới, nhƣng đƣợc hƣởng lợi ích chƣa tƣơng xứng.
Trƣớc những thách thức đặt ra cho sự phát triển bền vững nền nông nghiệp,
các tác giả cũng chỉ ra phƣơng hƣớng cơ bản để phát triển nông nghiệp bền vững đó
là: Thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; Xây dựng một hệ thống chính
sách phù hợp; Quản lý tài nguyên thiên nhiên nhằm hạn chế và xoá bỏ sự giảm cấp về tài
nguyên thiên nhiên; Đổi mới công nghệ và chƣơng trình nghiên cứu về nông nghiệp.
Tuy nhiên, đến nay chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu phát triển nông
nghiệp bền vững ở Vĩnh Phúc theo cách tiếp cận kinh tế chính trị gắn với đổi mới,
phát triển kinh tế ở địa phƣơng; Gắn với quá trình thực hiện chủ trƣơng, chính sách
của Đảng và Nhà nƣớc các cấp. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Phát triển nông
nghiệp bền vững ở Vĩnh Phúc” là cách tiếp cận kinh tế chính trị cụ thể một lĩnh
vực chƣa đƣợc đề cập một cách độc lập, hoàn chỉnh, toàn diện từ khung lý thuyết
tới thực tiễn ở địa phƣơng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục tiêu và cũng là động lực phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững là
quá trình vận hành đồng thời ba bình diện phát triển: kinh tế tăng trƣởng bền vững,
xã hội thịnh vƣợng, công bằng, ổn định, văn hoá đa dạng và môi trƣờng đƣợc trong
lành, tài nguyên đƣợc duy trì bền vững. Nói cách khác, muốn phát triển bền vững
thì phải cùng đồng thời thực hiện 3 mục tiêu: (1) Phát triển có hiệu quả về kinh tế;
(2) Phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mức sống, trình độ sống của các tầng
lớp dân cƣ và (3) Cải thiện môi trƣờng môi sinh, bảo đảm phát triển lâu dài vững

đƣợc coi là đối tƣợng nghiên cứu của luận văn.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
*Phạm vi không gian: Luận văn đƣợc nghiên cứu trong phạm vi địa bàn
nông nghiệp ở các huyện, thành, thị của tỉnh Vĩnh Phúc.
*Phạm vi thời gian: Từ năm 2000 đến năm 2011.
8

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Đề tài kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu đã công bố để làm rõ
hơn lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững.
- Tác giả đề tài tập hợp, phân tích các tài liệu của Bộ Nông nghiệp & Phát
triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc, các báo
cáo của UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc; kết hợp với việc khảo
sát thực tế ở địa phƣơng, từ đó tiến hành đánh giá tình hình phát triển nông nghiệp
theo hƣớng bền vững ở Vĩnh Phúc.
- Trên cơ sở những kiến thức đã học và những kinh nghiệm trong quá trình
công tác của bản thân, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển
nông nghiệp bền vững ở Vĩnh Phúc.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng kết hợp các phƣơng pháp
nghiên cứu kinh tế nhƣ: phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp phân tích - tổng hợp,
phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp lôgic kết hợp với lịch sử…
Tác giả có sử dụng các công cụ phân tích kinh tế nhƣ: dãy số liệu, chỉ số,
biểu đồ… để minh họa nội dung.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển nông nghiệp bền vững.
- Đánh giá hiện trạng phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền vững ở Vĩnh
Phúc, phát hiện những bất cập và nguyên nhân của tình hình.
- Đƣa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp bền vững
ở Vĩnh Phúc.
7. Bố cục của Luận văn:

Một nền nông nghiệp phát triển đƣợc hiểu là nền nông nghiệp có các đặc
điểm: Đa dạng về đầu ra; Phù hợp về cơ cấu; Thích ứng về tổ chức, thể chế, chính
sách; Thoả mãn tốt nhu cầu xã hội.
1.1.1.2 Phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững là nội dung trọng yếu của chiến lƣợc phát
triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của nhiều quốc gia. Nó là tiền đề cho đảm bảo các
mục tiêu phát triển KT-XH, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con ngƣời trong
khi tài nguyên nông nghiệp ngày càng khan hiếm.
10

Phát triển bền vững là quá trình phát triển trong đó có sự lồng ghép các quá
trình sản xuất- kinh doanh với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trƣờng:
đảm bảo thoả mãn những nhu cầu hiện tại mà không phƣơng hại đến khả năng đáp
ứng những nhu cầu của tƣơng lai.
Nhƣ vậy, có thể hiểu về phát triển bền vững, đó là:
Thứ nhất, phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng đƣợc yêu cầu của hiện
tại, nhƣng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau (Hội
đồng thế giới về môi trƣờng và phát triển của Liên hợp quốc - WCED, 1987);
Thứ hai, phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp
lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, bao gồm: phát triển kinh tế (đặc biệt là
tăng trƣởng kinh tế), phát triển xã hội (đặc biệt là thực hiện tiến bộ xã hội, công bằng
xã hội, giảm nghèo và giải quyết công ăn việc làm, công bằng về giới, hài hoà giữa
các thế hệ) và bảo vệ môi trƣờng (đặc biệt là bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, xử lý,
khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng, quản lý và giảm thiểu
thiệt hại của thiên tai, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).
Từ quan niệm về phát triển nông nghiệp, phát triển bền vững, phát triển nông
nghiệp bền vững đƣợc hiểu là: Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình quản
lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế cho nông nghiệp phát triển
nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và
dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau.

nghiệp, hoàn thiện tổ chức và thể chế thị trƣờng cần sự ổn định. Càng ổn định, nông
nghiệp càng bền vững. Ổn định không có nghĩa là giữ nguyên trạng thái cũ mà vẫn
có sự thay đổi theo xu hƣớng chung, thể hiện tính quy luật của sự phát triển.
Công bằng (Equity): Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp đạt đƣợc
sự công bằng trong phân bố, quản lý, sử dụng tài nguyên nông nghiệp, hƣởng thụ
lợi ích thu đƣợc từ nền nông nghiệp. Do vậy, vấn đề công bằng trong nền nông
nghiệp bền vững bao gồm sự giảm bớt chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo
trong dân cƣ, giữa các dân tộc thiểu số và đa số, giữa nam và nữ, giữa thế hệ hôm
nay với thế hệ mai sau.
1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.3.1 Hệ thống chính trị ổn định
Chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc
gia. Tuy nhiên, phát huy vai trò của chính trị với kinh tế để vừa đảm bảo các mục
12

tiêu của chính trị, vừa phát triển đƣợc kinh tế thị trƣờng lại là vấn đề vô cùng phức
tạp. Tính phức tạp thể hiện ở chỗ luôn có sự đòi hỏi chính trị phải đáp ứng các yêu
cầu của sự vận động kinh tế khách quan trong khi kinh tế luôn cần có sự biến đổi,
đồng thời chính trị lại chứa đựng nhiều yếu tố chủ quan.
Mặt khác, trong khi chính trị coi hƣớng tới các mục tiêu lợi ích kinh tế nhất
định là cái căn bản thì chính trị còn phải giải quyết nhiều mối quan hệ khác và giữa
các mối quan hệ ấy lại có những mối qua hệ qua lại, ảnh hƣởng lẫn nhau, có tác động
liên hoàn. Tác động của chính trị đến đời sống kinh tế, do đó, kéo theo sự vận động
của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi lựa chọn một quyết sách chính trị, thậm
chí phải hy sinh lợi ích kinh tế để đạt đƣợc các mục tiêu chính trị, xã hội khác.
Kinh tế là gốc của chính trị. Việc tăng quy mô và trình độ phát triển kinh tế ở
góc độ nào đó còn là thể hiện của chính trị phát triển, là thƣớc đo tính ƣu việt của
chính trị cũng nhƣ sự phù hợp của chính trị với kinh tế. Kinh tế xét đến cùng “là
nhân tố quyết định nhất đối với sự thắng lợi của trật tự xã hội” [V.I Lênnin: Toàn
tập, Nxb. Tiến bộ, M.1976, t33, ,tr.223].

lao động trong nhiều ngành nghề, từ nông lâm ngƣ nghiệp đến tiểu thủ công nghiệp
và thƣơng mại, dịch vụ, nhất là lao động ở nông thôn. Tuy nhiên, kinh tế cá thể và
tiểu chủ còn những hạn chế nhƣ: tính tự phát, manh mún, hạn chế về vốn, khoa học
công nghệ, kỹ thuật, về thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm… Vì vậy, rất cần sự hỗ trợ của
kinh tế nhà nƣớc để kinh tế tƣ nhân phát huy tác dụng trong thời đại ngày nay.
1.1.3.3 Cơ cấu kinh tế ngành hợp lý và hiện đại
Một vùng hay một quốc gia có lợi thế so sánh so với vùng khác hay quốc gia
khác trong việc sản xuất ra sản phẩm nào đó khi chi phí cơ hội để sản xuất ra sản
phẩm của vùng đó hay quốc gia đó thấp hơn so với vùng khác hay quốc gia khác.
Quan điểm về lợi thế so sánh đƣợc hoàn thiện theo sự phát triển kinh tế và xã
hội. Các quan điểm truyền thống cho rằng nguồn gốc cơ bản của lợi thế so sánh của
một quốc gia hay một vùng là sự khác nhau về lƣợng và cơ cấu về tài nguyên thiên
nhiên nhƣ đất đai, nguồn nƣớc, các điều kiện sinh thái khí hậu của quốc gia đó hay
vùng đó. Tuy nhiên, hiện nay các nƣớc tham gia vào vùng hóa và toàn cầu hoá để
thực hiện các hoạt động thƣơng mại quốc tế của mình trong sự hòa nhập đó, quan
điểm về lợi thế so sánh đã thay đổi. Lợi thế so sánh không chỉ phụ thuộc vào số
lƣợng, cơ cấu và lợi thế tài nguyên thiên nhiên mà còn phụ thuộc nhiều vào nguồn
14

nhân lực của quốc gia hay của mỗi vùng. Nguồn nhân lực bao gồm nguồn lao động
gắn liền với trình độ văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Nhân tố
này rất động và đƣợc phát triển theo thời gian. Vì thế, lợi thế so sánh của một quốc
gia hay một vùng không thể coi là cố định. Vì vậy, tài nguyên nông nghiệp quy
định lợi thế so sánh về nông nghiệp của mỗi vùng và quốc gia, do đó, ảnh hƣởng
trực tiếp đến sự phát triển nông nghiệp.
Nguồn lực là yếu tố cơ bản để tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
của bất cứ ngành kinh tế nào nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng. Quy mô và
chất lƣợng của các nguồn lực quy định quy mô và hiệu quả của ngành nông nghiệp.
Khi cơ cấu kinh tế ngành phù hợp, gắn với lợi thế so sánh của từng vùng, từng quốc
gia sẽ tạo nên trạng thái cân bằng của của vùng và toàn ngành nông nghiệp, tạo điều

Hội nhập kinh tế quốc tế một mặt cho phép nông nghiệp tiếp cận đƣợc tới
những thành tựu mới nhất về khoa học công nghệ; mặt khác, cho phép quốc gia đó
phát huy đƣợc lợi thế tuyệt đối và tƣơng đối trong việc nông nghiệp tham gia vào
phân công lao động quốc tế.
Trong khuôn khổ WTO, những cam kết có ảnh hƣớng trực tiếp đến lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở mỗi quốc gia tham gia tổ chức WTO. Các
cam kết này đang từng bƣớc tác động đến tiến trình phát triển lĩnh vực nông nghiệp,
đời sống nông thôn và lợi ích của ngƣời nông dân ở mỗi quốc gia.
Trong bối cảnh giá cả nông sản trên thế giới ngày càng tăng, một nƣớc có lợi
thế so sánh cao về sản xuất hàng hoá nông nghiệp, có đội ngũ lao động trẻ với trình
độ học vấn tƣơng đối tốt có thể tham gia thị trƣờng lao động xuất khẩu, cung cấp
dịch vụ việc mở rộng thị trƣờng quốc tế là cơ hội lớn. Tuy nhiên, đối với các nƣớc
đang phát triển, khi sản xuất còn ở trình độ thấp, chi phí cao, chất lƣợng hàng hóa
nông sản chƣa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế nên rất khó khăn khi nhập khẩu vào nƣớc
khác, vừa khó cạnh tranh với nông sản nhập khẩu ở thị trƣờng nội địa. Trong điều
kiện hàng rào thuế quan bị hạ thấp, nông dân sẽ gặp khó khăn khi tiêu thụ sản phẩm
trong nƣớc, đồng thời phải nỗ lực rất nhiều mới có thể hƣởng lợi từ đẩy mạnh xuất
khẩu. Vì vậy, để tăng năng lực cạnh tranh, nông dân cần có sự hỗ trợ tăng cƣờng
của Nhà nƣớc theo những cách mà WTO không cấm.
Ở quy mô hàng triệu nông hộ, mỗi ngƣời nông dân không có vị thế thỏa
thuận tốt với các tổ chức tiêu thụ đầu ra của ngành nông nghiệp, do đó, đƣợc chia sẻ
16

phần giá trị không đáng kể trong chuỗi giá trị của ngành. Chính vì thế, Nhà nƣớc
cần hỗ trợ để nông dân tự liên kết với nhau theo ngành nghề nhằm tạo sức mạnh và
vị thế lớn hơn, có sức mạnh trong cạnh tranh trên thị trƣờng quốc tế, qua đó tự bảo
vệ lợi ích của mình. Nhà nƣớc cũng hỗ trợ nông dân có đƣợc những thông tin dự
báo quan trọng nhằm giúp nông dân vừa giảm thiểu tổn thất trong giao dịch mua
bán, vừa chủ động thích nghi với biến động thị trƣờng tốt hơn.
1.1.4 Nội dung phát triển nông nghiệp bền vững

đai để vừa làm tăng năng suất đất đai vừa giữ gìn và bảo vệ đất đai. Quỹ đất phải
đƣợc bảo tồn cả cho lợi ích trƣớc mắt cũng nhƣ mục tiêu lâu dài.
Khi nói đến quy hoạch nông nghiệp không thể tách rời quy hoạch phát triển
nông thôn. Quy hoạch phát triển nông thôn là quy hoạch tổng thể trên vùng không
gian sống và sinh hoạt của mọi sinh vật gồm loài ngƣời, động vật thực vật. Mục tiêu
của quy hoạch là đáp ứng sự phát triển liên lạc và bền vững của con ngƣời trên các
mặt kinh tế văn hoá, xã hội, môi trƣờng và nâng cao giá trị cuộc sống.
Chính vì vậy, muốn có sự phát triển lâu dài và bền vững thì phải có quy
hoạch, trƣớc khi lập quy hoạch phải xây dựng mục tiêu cần đạt tới. Phát triển nhằm
đem lại lợi ích chung cho cộng đồng và phải có phƣơng pháp quy hoạch tốt. Muốn
cho sự phát triển đem lại lợi ích cho đại đa số ngƣời dân trong vùng, trong một quốc
gia cần thiết phải có sự quy hoạch phát triển bền vững. Bên cạnh việc quy hoạch,
xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ nhƣ: đƣờng sá, hệ thống thông tin, hệ thống thủy
lợi, nhà văn hóa, trƣờng học, bệnh viện…là những điều kiện cần thiết cho phát triển
nông nghiệp, nông thôn bền vững.
1.1.4.2. Tổ chức sản xuất trong nông nghiệp
Chủ thể cơ bản của mọi nền nông nghiệp là các tổ chức kinh tế trong nông
nghiệp. Tổ chức kinh tế trong nông nghiệp, theo nghĩa chung nhất, là đơn vị cơ bản
của nền KT-XH, đƣợc tổ chức dƣới các loại hình tổ chức khác nhau nhƣ hộ nông dân,
trang trại, doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) và nông lâm trƣờng, phù hợp với hệ thống
luật pháp của nhà nƣớc, tham gia vào quá trình sản xuất - kinh doanh, tái sản xuất và
tiêu dùng trong nông nghiệp hoặc các hoạt động liên quan vì mục tiêu kinh tế - xã
hội của từng loại hình tổ chức đó. Một loại hình tổ chức kinh tế trong nông nghiệp
bao gồm chủ thể của tổ chức đó (nông dân, chủ trang trại, doanh nhân, ) với mục tiêu
sản xuất - kinh doanh xác định, tổ chức các nguồn lực phù hợp với quy định của pháp
18

luật (Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, các chủ trƣơng đƣờng lối của Nhà nƣớc ),
tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối, tiêu thụ, marketing nông sản phẩm.
Các tổ chức kinh tế trong nông nghiệp tồn tại một cách khách quan phù hợp

Công nghệ trong nông nghiệp là tập hợp các tri thức về khoa học nông
nghiệp áp dụng vào nông nghiệp, phù hợp với điều kiện kinh tế, sinh thái, xã hội, tổ
chức của từng địa phƣơng. Công nghệ liên quan đến các quá trình sản xuất, chế
biến, marketing các sản phẩm nông nghiệp và gắn liền với trình độ phát triển nhất
định về lực lƣợng sản xuất, về một xã hội hay một cộng đồng.
Ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong nông nghiệp bao gồm: Thứ
nhất, đƣa máy móc vào sản xuất nông nghiệp để thực hiện cơ giới hóa trong nông
nghiệp. Đặc biệt cơ giới hóa tập trung vào những khâu nặng nhọc (làm đất, thu
hoạch), khâu trực tiếp ảnh hƣởng tới chất lƣợng sản phẩm và hiệu quả sản xuất (chế
biến). Thứ hai, thủy lợi hóa. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên,
vì vậy, để hạn chế tác động tiêu cực của thiên nhiên, việc xây dựng hệ thống thủy
lợi để chủ động tƣới tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thứ ba, điện khí hóa. Điện
khí hóa vừa nâng cao khả năng chế ngự của con ngƣời đối với thiên nhiên, vừa nâng
cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Thứ tư, phát
triển công nghệ sinh học. Đây là lĩnh vực khoa học và công nghệ mới bao gồm
nhiều ngành khoa học và kỹ thuật, trƣớc hết là sinh học, di truyền học, hóa sinh học.
Những thành tựu này của khoa học công nghệ sinh học đã đem lại lợi ích lớn,
không chỉ tạo ra sản phẩm mới, làm cho sản xuất nông nghiệp có năng suất cao hơn
và chất lƣợng tốt hơn, mà còn tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng. Phát triển
công nghệ sinh học là đòi hỏi tất yếu của sự phát triển nông nghiệp bền vững.
1.1.4.5. Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, tái tạo môi trường sinh thái
Trong nông nghiệp, bên cạnh việc xem xét các yếu tố lao động, vốn và công
nghệ, cần phải tính đến tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng. Phát triển nông
nghiệp những thập kỷ qua trên thế giới đã chứng tỏ: nếu phát triển nông nghiệp mà
không coi tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng là những nguồn lực quan trọng sẽ
dẫn đến tình trạng hiệu ứng nhà kính, giảm cấp môi trƣờng, mất cân bằng sinh thái,
mất đa dạng sinh học và thiên tai.
Tài nguyên thiên nhiên là sản phẩm của tự nhiên ban cho con ngƣời để tiến
hành sản xuất hay con ngƣời dùng nó là môi trƣờng để sản xuất. Tài nguyên thiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status