Phát triển nông nghiệp bền vững ở Hải Dương - Pdf 28



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
*
*
*
*
*
*
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=

HÀ NỘI - 2012 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=
=
=
=
=
=
=
=
=
=
*
*
*
*
*
*
=
=
=
=
=
=
=
=

5
MỤC LỤC
Trang

Mở đầu Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển bền vững
và phát triển nông nghiệp bền vững

1.1.
Khái quát chung về phát triển bền vững và phát triển nông nghiệp
bền vững

1.2.
Đặc trưng và tiêu chí của nền nông nghiệp phát triển bền vững Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền
vững ở Hải Dƣơng

2.1.
Vị trí, tiềm năng và thế mạnh có liên quan đến phát triển nông
nghiệp bền vững ở Hải Dương


6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

I. Danh mục bảng

Stt
Tên bảng
Trang
1.
Bảng 2.1. Dự báo dân số và nguồn nhân lực

2
Bảng 2.2. Đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn

3
Bảng 2.3. Tình hình sau khi giao đất cho hộ nông dân

4.
Bảng 2.4. Tổng hợp diện tích, sản lượng, năng xuất, giá trị sản
xuất cây lương thực

5.
Bảng 2.5. Biến động ngành nghề do tác động của các dự án
đầu tư

6.
Bảng 2.6. Chỉ tiêu GDP bình quân đầu người của cả nước và
các tỉnh đồng bằng sông hồng


Biểu đồ 2.5. Dân số và phân theo dân số nông thôn, thành
thị, lao động

6.
Biểu đồ 2.6. Bình quân lương thực đầu người (kg/người)

7.
Biểu đồ 2.7. Một số nguyên nhân làm nảy sinh tư tưởng dẫn
đến tình hình phức tạp ở cơ sở

8.
Biểu đồ 2.8. Cơ cấu vốn đầu tư xã hội
8
CHỮ VIẾT TẮT
DÙNG TRONG LUẬN VĂN

BCH: Ban chấp hành
CNH, HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
GTSX: Giá trị sản xuất
HTCT: Hệ thống chính trị
HTX: Hợp tác xã
KHCN: Khoa học công nghệ
LLXS: Lực lƣợng sản xuất
MTTQ: Mặt trận Tổ quốc

qui mô địa phương như một vùng, một tỉnh. Cũng như nhiều địa phương trên
tất cả các vùng miền đất nước, ở tỉnh Hải Dương trong nhiều năm qua sản xuất
nông nghiệp đã phát triển với những bước tiến ngoạn mục nhưng nếu xem xét
góc độ phát triển bền vững thì đang có những vấn đề bức xúc đặt ra. Đó là,
năng suất lao động đưa tới tăng trưởng về nông nghiệp so với các ngành kinh tế
khác rõ ràng là rất thấp trong khi các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp
như thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu có xu hướng ngày càng tăng giá, còn đầu
ra của các sản phẩm lại quá bấp bênh: được mùa thì mất giá, được giá thì mất
mùa. Đó là sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng đến môi trường sinh thái trong
khi an ninh xã hội ở cả vùng nông thôn rộng lớn vẫn đang xuất hiện nhiều việc
nổi cộm. Giải quyết được những vấn đề đang đặt ra bức thiết như thế là rất khó
khăn phức tạp bởi nó liên quan đến hệ thống các lĩnh vực trong đó trực tiếp là
phát triển nông nghiệp bền vững. Vậy nên tác giả đã lựa chọn vấn đề “Phát 10
triển nông nghiệp bền vững ở Hải Dương” làm đề tài luận văn Thạc sỹ của
mình với mục đích góp phần vào nhiệm vụ lớn lao đó.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vai trò đặc biệt quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân, nên được Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, địa
phương rất quan tâm, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu. Có thể nêu một số
văn bản, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như:
2.1. Về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách Nhà nước.
Trong những năm qua vấn đề phát triển bền vững nói chung, phát triển
nông nghiệp bền vững nói riêng đã trở thành quan điểm của Đảng và đường
lối chính sách của Nhà nước và được khẳng định trong nhiều Nghị quyết của
các Đại hội của Đảng . Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X là: “ Hiện nay và
trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn có tầm
chiến lược đặc biệt quan trọng ”. Tại đại hội XI của Đảng, 5 quan điểm phát

đồng bằng Bắc bộ trong quá trình phát triển, xây dựng các khu công nghiệp,
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. Đề tài đã đề cập đến
phát triển bền vững nói chung ở vùng đồng bằng Bắc bộ, chưa nêu cụ thể về
phát triển nông nghiệp bền vững.
- Cuốn CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam, con đường và
bước đi” Đề tài KX-02-07 do GS.TS Nguyễn Kế Tuấn làm chủ nhiệm. Đây là
công trình đề cập chủ yếu đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn ở nước ta thời gian qua; đề xuất phương hướng thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời gian tới.
Tuy nhiên công trình mới chỉ đề cập đến khía cạnh phát triển nông nghiệp
nông thôn bền vững trong quá trinh công nghiệp hóa, chưa đi sâu nghiên cứu
về phát triển nông nghiệp bền vững.
- Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (2003), do PGS. TS 12
Nguyễn Sinh Cúc chủ biên, Nxb Thống kê. Công trình này đã khái quát một
cách tổng quan quá trình đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn từ 1986
đến năm 2002; đặt ra một số vấn đề cần quan tâm trong phát triển nông
nghiệp, nông thôn thời gian tới.
- Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững, Nxb Chính trị quốc
gia (2004), do TS Nguyễn Từ chủ biên. Đây là cuốn sách với nhiều bài viết có
giá trị bàn về vị trí và vai trò của ngành nông nghiệp trong sự phát triển kinh
tế bền vững chung của đất nước.
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu nhưng chỉ ở dạng những
bài báo đăng trên các báo, tạp chí, những báo cáo trong các hội thảo khoa học.
Các công trình khoa học nêu trên mặc dù có đề cập đến phát triển nông
nghiệp bền vững ở các góc độ khác nhau nhưng đều nói về phát triển nông
nghiệp hoặc phát triển nông nghiệp bền vững nói chung, ít nghiên cứu về một
vùng miền cụ thể, đặc biệt chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu cụ

- Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở Hải Dương và
dự báo tình hình.
- Đề xuất những định hướng và giải pháp khả thi bảo đảm cho sự phát
triển nông nghiệp bền vững ở Hải Dương.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
Luận văn được chia thành 3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển bền vững và
phát triển nông nghiệp bền vững
Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Hải
Dƣơng 14
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp phát triển nông nghiệp bền
vững ở Hải Dƣơng
15
Chƣơng 1
NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
1.1. Quan niệm về phát triển bền vững và phát triển nông nghiệp bền
vững
1.1.1. Phát triển bền vững
Hiện nay loài người đang đứng trước những thách thức to lớn về sự sống
còn của mình do sự phá hủy môi trường và tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn
tài nguyên thiên nhiên. Muốn vượt qua những thách thức đó, không còn cách
nào khác là phải xây dựng và thực hiện một chiến lược phát triển mới, mang

kinh tế, văn hoá - xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng
cao chất lượng sống của con người.
Sự phát triển hài hòa trong phát triển bền vững thể hiện, kinh tế có tốc độ
tăng trưởng cao, ổn định trong thời gian dài, tất yếu kéo theo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Đến lượt chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực sẽ dẫn
đến cơ cấu ngành nghề thay đổi (xuất hiện ngành nghề mới, việc làm mới),
thay đổi kết cấu dân cư Sự phát triển đó lại kéo theo bảo đảm các điều kiện
vật chất và tinh thần giải quyết những vấn đề xã hội như lao động, việc làm,
văn hóa, thể dục thể thao Như vậy, bản thân phát triển bền vững về kinh tế
đã bao hàm cả phát triển bền vững về xã hội. Để có tăng trưởng và phát triển
kinh tế lâu dài thì các yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất luôn phải
được sử dụng có hiệu quả và tái tạo thường xuyên, mà các yếu tố này chủ yếu
tồn tại trong môi trường và chỉ được tái tạo trong môi trường. Nếu môi trường
không tốt lên mà xấu đi, thì không thể sử dụng có hiệu quả và không thể tái
tạo được các yếu tố của quá trình sản xuất.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển bền vững đã được
kết tinh và phản ánh đầy đủ nhất trong Chương trình nghị sự 21 của Việt 17
Nam: “Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về
vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân
và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát
triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh
tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”. Trong mục 4, điều 3 bộ Luật Bảo
vệ môi trường của Quốc hội, phát triển bền vững được xác định: “ phát triển
bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai trên cơ sở
kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và
bảo vệ môi trường”.

không những gắn liền với các quá trình kinh tế, mà cũng gắn liền với các quá
trình tự nhiên của tái sản xuất. Muốn kinh doanh nông nghiệp một cách đúng
đắn, điều quan trọng là hiểu biết và khéo vận dụng các quy luật kinh tế của sự
phát triển xã hội và các quy luật sinh vật học của sự phát triển động vật và
thực vật ”. Cuốn từ điển này được viết và xuất bản trước khi nhân loại đề cập
đến khái niệm phát triển bền vững nhiều năm. Các tác giả cũng không hề đề
cập một từ nào về phát triển bền vững, nhưng nếu căn cứ vào những nội dung
của phát triển bền vững ngày nay, thì thực chất ở đây đã bàn về phát triển bền
vững trong nông nghiệp. Theo quan điểm hiện đại về phát triển bền vững thì
với cách đặt vấn đề của các tác giả "việc sản xuất sản phẩm không những gắn
liền với các quá trình kinh tế, mà cũng gắn liền với quá trình tự nhiên của tái
sản xuất" và muốn kinh doanh nông nghiệp tốt phải "hiểu biết" và "khéo sử
dụng các quy luật kinh tế của sự phát triển xã hội và các quy luật sinh học
của sự phát triển động vật và thực vật", thực ra đã đề cập đến những vấn đề
cốt lõi của phát triển bền vững. Bởi vì, khi một sự vật, hiện tượng hay quá
trình vận động tuân theo các quy luật kinh tế, xã hội, tự nhiên tức là tuân thủ
sự đòi hỏi khách quan của sự phát triển thì thường đạt hiệu quả và do đó tồn 19
tại và phát triển ổn định, lâu dài - bền vững.
Theo Bill Mollison và Remy Mia Slay thì nông nghiệp bền vững được
định nghĩa như sau: "việc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền của con
người: đó là một triết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo ra mối
liên kết chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất,
nước và những nhu cầu của con người xây dựng những cộng đồng chặt chẽ
và có hiệu quả" [55]. Trong khái niệm này, các tác giả cũng đã đề cập đến vần
đề kinh tế (cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, nhu cầu của con người), đến
vấn đề xã hội (xây dựng những cộng đồng), đến môi trường (sử dụng đất, khí
hậu). Theo tác giả, định nghĩa này chưa đạt đến tầm khái quát và hệ thống,

đảm bảo an ninh lương thực, tăng cải tổ kinh tế, khắc phục nghèo đói và tạo
điều kiện tăng tốc độ công nghiệp hóa. Khái niệm số 9: Phát triển nông
nghiệp bền vững là cực đại hóa phúc lợi hiện tại không làm giảm thiểu các
phúc lợi ấy trong tương lai. Các khái niệm này đã đề cập đến những giác độ
khác nhau, rất lý thú và sâu sắc về phát triển nông nghiệp bền vững, nhưng
các quan niệm đó chưa thật bao quát hoặc khái quát một cách đấy đủ. Từ
những luận cứ nêu trên, tác giả luận văn cho rằng: Phát triển nông nghiệp
bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của nền
kinh tế đất nước nhưng không làm suy thoái môi trường tự nhiên, bảo đảm
an ninh lương thực, tạo đà cho phát triển nông thôn, góp phần bảo đảm an
sinh và hài hoà cho xã hội.
1.1.3. Vai trò của nông nghiệp trong phát triển bền vững nền kinh tế
đất nước
Về kinh tế: Thành tựu lớn nhất của nông nghiệp, nông thôn nước ta
trong những năm vừa qua là tăng trưởng nhanh, liên tục. Bình quân tăng
trưởng hàng năm của nông- lâm- ngư nghiệp nước ta thời kỳ 2000-2010,
trong điều kiện mỗi năm giảm gần 70 ngàn ha đất nông nghiệp để phát triển 21
hạ tầng khu công nghiệp và đô thị; thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra
vẫn đảm bảo tăng trưởng là 5,24%/năm. [7,tr. 123] Trong kết quả chung đó,
điều nổi bật nhất là thành tựu trong việc giải quyết vấn đề lương thực, chẳng
những nông nghiệp nước ta bảo đảm đủ “cái ăn”, mà còn tạo ra một khối
lượng lớn lương thực cho xuất khẩu và an ninh lương thực. Năm 2011, nước
ta đã xuất khẩu 7 triệu tấn gạo, là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu
về cà phê, hạt điều, hạt tiêu
Nông nghiệp, nông thôn đã góp phần quan trọng trong việc tăng nguồn
hàng xuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệ để tăng trưởng kinh tế. Nông, lâm, thủy
sản và hàng thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt

của Nhà nước được coi trọng, nhiều vấn đề dân quan tâm đã được công khai
hóa, dân chủ cơ sở ngày càng tiến bộ.
Về môi trường sinh thái: Trong những năm vừa qua bộ mặt nông thôn
nước ta đã có những thay đổi to lớn, trong đó vấn đề môi trường đã được lãnh
đạo các ngành và người dân quan tâm, tổ chức thực hiện như: vấn đề cung cấp
nước sạch, vệ sinh làng xã, trồng rừng và bảo vệ rừng. Một số tỉnh đã dành
đất cho các hộ ngành nghề sản xuất tập trung để giảm ô nhiễm môi trường
v.v Có thể nói môi trường sinh thái ở nông thôn, cho dù hiện nay vẫn còn
rất nhiều việc phải làm, nhưng dù sao nó vẫn còn trong lành và sạch hơn so
với khu vực đô thị. Chính vì vậy, trong những năm gần đây đã xuất hiện ý
tưởng cho rằng, nông nghiệp, nông thôn bên cạnh những vai trò truyền thống,
nó còn có vai trò rất quan trọng trong việc thỏa mãn những nhu cầu mới xuất
hiện chính từ xã hội công nghiệp và văn minh đô thị, từ yêu cầu phát triển bền
vững, từ yêu cầu lấy con người làm hạt nhân, trung tâm của sự phát triển.
1.2. Đặc trƣng, tiêu chí của nền nông nghiệp phát triển bền vững
1.2.1. Những đặc trưng của nền nông nghiệp phát triển bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững có những đặc trưng cơ bản sau: 23
Thứ nhất, phát triển nông nghiệp bền vững là nền sản xuất trong đó hoạt
động của con người phù hợp với các quy luật phát triển của tự nhiên, khai
thác và bồi dưỡng được tự nhiên được thực hiện trong cùng một quá trình,
nhờ đó duy trì được môi trường tự nhiên cho đời sống trường tồn của mọi thế
hệ. Các hoạt động của con người không thể đi ngược các quy luật của thiên
nhiên, mà phải nhận thức đúng quy luật của thiên nhiên để định hướng chúng
vào phục vụ cuộc sống của con người. Nguyên tắc hoạt động trong nền nông
nghiệp phát triển bền vững là các chủ trương, chính sách của Nhà nước, của
các cơ quan có thẩm quyền phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng các quy
luật vốn có của thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên theo hựớng hoà nhập và bồi

hiệu quả sử dụng vốn theo hướng tỷ suất đầu tư/đồng tăng trưởng giảm, nhưng
vẫn đảm bảo tốc độ tăng trưởng. Đối với sức lao động, sử dụng tiết kiệm, có
hiệu quả chính là việc bố trí và tổ chức sản xuất hợp lý, đảm bảo trong điều
kiện lực lượng lao động trong nông nghiệp giảm do tăng cường cho công
nghiệp, dịch vụ và các ngành nghề khác nhưng nông nghiệp vẫn phát triển. Sử
dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực đất đai là nâng cao hệ số sử dụng đất, thực
hiện trên một diện tích đất được quay vòng sử dụng nhiều nhất và hiệu quả cao
nhất nhưng không làm thoái hoá đất, ô nhiễm môi trường đất, giải quyết được
mâu thuẫn giữa xu hướng đất "bờ xôi ruộng mật" đất hai vụ lúa ăn chắc trong
nông nghiệp bị thu hẹp do phát triển công nghiệp, đô thị với vấn đề đảm bảo an
ninh lương thực và tăng trưởng nông nghiệp. Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả
nguồn lực khoa học - công nghệ là việc ứng dụng các thành tựu của nguồn lực
này vào sản xuất tạo ra năng suất, hiệu quả nhưng không lạm dụng, ảnh hưởng
đến môi trường sinh thái, sức khỏe con người, chống lại các quy luật của tự
nhiên.
Thứ tư, phát triển nông nghiệp bền vững là nền sản xuất nông nghiệp có
cơ cấu kinh tế hợp lý. Nói đến cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp là nói đến cơ 25
cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi. Trong trồng trọt lại phân ra cơ cấu giữa cây
lương thực, cây công nghiệp, cây rau mầu, trong chăn nuôi có cơ cấu giữa
chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý là cơ
cấu đảm bảo tỷ trọng phù hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt, giữa các loại cây
trồng, giữa chăn nuôi các loại con trên cơ sở lợi thế cạnh tranh và sự cân đối
trong phát triển nông nghiệp ở từng vùng, từng địa phương.
Thứ năm, phát triển nông nghiệp bền vững là nền sản xuất nông nghiệp
bảo đảm được công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, tạo được
cơ sở vật chất cho phát triển nông thôn mới. Đây là đặc trưng rất quan trọng
trong phát triển nông nghiệp bền vững, vì nông nghiệp là ngành sử dụng

quan hành chính (chính quyền), tổ chức đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội
là chủ thể trực tiếp lãnh đạo, đưa phát triển nông nghiệp bền vững vào trong
cuộc sống. Cho nên hệ thống chính trị ở cơ sở là cực kỳ quan trọng. Vai trò
của hệ thống chính trị ở nông thôn thể hiện ở chỗ trực tiếp tổ chức cho nhân
dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước về xây dựng nông nghiệp phát triển bền vững vào thực tiễn cuộc
sống. Các chủ trương, đường lối, chính sách đó dù có đúng nhưng khâu thực
hiện không tốt thì cũng chỉ dừng lại trên sách vở; đó là chưa tính đến thực
hiện sai có thể dẫn đến phá hoại. Sự vững mạnh của hệ thống chính trị ở nông
thôn là yếu tố chính trị - xã hội bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện phát triển
nông nghiệp bền vững đạt được mục đích.
Hai là, phát triển bền vững về kinh tế: đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài
hòa, hợp lý giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu phát triển văn hoá
- xã hội trong đó xác lập được sự cân đối giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với
việc sử dụng các nguồn lực con người, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công
nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ thân thiện với môi trường. 27
Ba là, phát triển bền vững về xã hội: là sự phát triển trong đó trước mắt
xã hội có nền kinh tế tăng trưởng và ổn định gắn liền với xây dựng chế độ dân
chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi
xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội.
Bốn là, phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường: là sự phát triển
trong đó các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong
phạm vi cho phép và có khả năng khôi phục được cả về số lượng và chất
lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp
lý nhất. Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên )
và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống,
lao động và học tập của con người ) nhìn chung không bị các hoạt động của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status