đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học kinh tế
***
Vũ văn Nâm Phát triển nông nghiệp bền vững
ở việt nam Luận Văn thạc sỹ kinh tế chính trị
Hà Nội - 2009
đại học quốc gia hà nội
Tr-ờng đại học kinh tế
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
7
1.1. Khái quát chung về phát triển bền vững
7
1.1.1.Khái niệm về phát triển bền vững
7
1.1.2. Sự hình thành về lý thuyết phát triển bền vững
8
1.2. Phát triển nền nông nghiệp theo xu hƣớng bền vững
10
1.2.1. Khái niệm về nông nghiệp phát triển bền vững
10
1.2.2. Đặc trưng của nền nông nghiệp phát triển theo xu hướng bền
vững
11
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam
16
1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững
16
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
20
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
THEO XU HƢỚNG BỀN VỮNG Ở NƢỚC TA
25
2.1. Tổng quan về sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
25
2.1.1 Vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế
25
87
3.1.1. Quan điểm định hướng
87
3.1.2. Phương hướng để phát triển nền nông nghiệp theo xu hướng
bền vững ở nước ta
89
3.2 Các giải pháp để phát triển nền nông nghiệp theo xu hƣớng bền
vững ở nƣớc ta
92
3.2.1. Làm tốt công tác quy hoạch phát triển nông nghịêp
92
3.2.2. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển
nông nghiệp bền vững
94
3.2.3. Các giải pháp về khoa học - công nghệ
103
3.2.4. Sự hỗ trợ từ phía Nhà nước
107
KẾT LUẬN
111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
113 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. Bộ KH & CN: Bộ Khoa học và Công nghệ
2. Bộ NN & PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3. CNH, HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hóa
4. GDP: Gross Domestic Product (Tổng thu nhập quốc dân)
5. FDI: Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)
đoạn 2000 -2007
51
Bảng 11: Vốn ODA cho ngành nông nghiệp, giai đoạn 1997 -2002
52
Bảng 12: Cơ cấu chi ngân sách cho nông nghiệp và nông thôn giai đoạn
1996 - 2001
53
Bảng 13: Chi tiêu công cho nghiên cứu nông nghiệp từ các nguồn Trung
ương 2000 - 2003
54
Bảng 14: Kinh phí khuyến nông
54
Bảng 15: Tiềm năng hình thành các vùng sản xuất chuyên canh
57
Bảng 16: Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giai đoạn 1992 - 2005
60
Bảng 17: Tỷ lệ hộ nghèo và tốc độ giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993
- 2004
61
Bảng 18: Tóm tắt một số chính sách liên quan đến sản xuất và tiêu thụ các
62
sản phẩm nông nghiệp
Bảng 19: Hệ thống các Quỹ tín dụng nhân dân có trên địa bàn xã phân
theo vùng - năm 2006
64
Bảng 20: Ngân sách vốn đầu tư và chi thường xuyên của ngành Nông
nghiệp giai đoạn 1997 - 2006
65
Bảng 21: Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp qua các năm
Bên cạnh mức tăng trƣởng đó, tƣ duy sản xuất nông nghiệp cũng đã có những sự
chuyển biến, thâm canh trở thành xu hƣớng chủ đạo trong nền nông nghiệp với việc áp
dụng các thành tựu khoa học - công nghệ mới về giống, quy trình canh tác và chế biến
sản phẩm. Khái quát cho xu hƣớng trên đƣợc thể hiện thông qua việc đánh giá hiệu quả
sản xuất nông nghiệp bằng các chỉ tiêu giá trị trên một đơn vị canh tác đƣợc nâng cao.
Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông nghiệp đã làm cho cơ cấu
nông ngiệp và kinh tế nông thôn có những chuyển dịch theo hƣớng đa dạng hoá và định
hƣớng theo thị trƣờng.
Những thành tựu đạt đƣợc trong sản xuất nông nghiệp là vô cùng to lớn.
Song đứng trƣớc những yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, nền nông nghiệp
Việt Nam đang có những bƣớc chuyển mình phát triển theo xu thế chung của thế
giới. Một trong những bƣớc chuyển đó chính là phát triển một nền nông nghiệp
bền vững. Một nền nông nghiệp đƣợc coi là bền vững khi nó đạt đƣợc 3 mục đích:
* Đạt hiệu quả kinh tế cao
* Bảo đảm công bằng kinh tế và công bằng xã hội
* Gìn giữ và làm phong phú môi trƣờng
2
Để đạt đƣợc ba mục đích trên đang là một vấn đề khó cho tất cả các quốc
gia. Tuy nhiên việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững là một nhiệm vụ
trọng yếu trong toàn bộ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến lên kinh
tế tri thức và xã hội thông tin. Nhiệm vụ đó đặt ra cho mọi quốc gia cần phải có
một sự thay đổi trong nhận thức và trong hành động để xây dựng cho mình một
chiến lƣợc đúng đắn về phát triển nông nghiệp theo hƣớng bền vững.
Ở Việt Nam vấn đề phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp vẫn
còn là một vấn đề mới. Đặc biệt trong 20 năm đổi mới vừa qua bên cạnh những
thành tựu mà chúng ta đạt đƣợc thì thực tiễn cũng đang đặt ra cho chúng ta rất
nhiều thách thức khi xây dựng nền nông nghiệp theo hƣớng bền vững. Những
thách thức đó là :
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào tự nhiên.
quan trọng. Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,
hƣớng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và
bền vững”.
Vì những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển nông nghiệp bền vững
ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững trong sản xuất nông
nghiệp nói triêng ở trên thế giới là vấn đề không mới. Tuy nhiên cho đến nay ở Việt
Nam thì khái niệm phát triển bền vững và đặc biệt là phát triển bền vững trong nông
nghiệp lại là những vấn đề mới. Qua tìm hiểu tác giả thấy có 5 công trình nổi bật
nghiên cứu về phát triển bền vững trong nông nghiệp:
- Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam của tác giả Nguyễn
Xuân Thảo, Nxb. CTQG, HN, 20004.
- Phát triển bền vững ở Việt Nam - Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng
của GS.TSKH Nguyễn Quang Thái và PGS. TS Ngô Thắng Lợi, Nxb. Lao động - xã
hội, 2007.
- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam - Con đường và bước đi
của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn, Nxb. CTQG, HN, 2006
- Một số vấn đề về phát triển nông nghiệp nông thôn của hai tác giả Đặng
Kim Sơn và Hoàng Thu Hà, Nxb. Thống kê, 2002.
4
- Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau của tác giả
Đặng Kim Sơn, Nxb. CTQG, HN, 2008.
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu nhƣng chỉ ở dạng những bài
báo đăng trên các báo, tạp chí, những báo cáo trong các hội thảo khoa học.
Nhìn chung các công trình trên cũng đã đề cập một cách tƣơng đối khái quát
về xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp bền vững. Nhƣng vì nhiều lý do khác
nhau các công trình trên chỉ mới đề cập đến một khía cạnh của vấn đề.
Trong công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn thì phát triển nông
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài: trên cơ sở hệ thống hoá các vấn đề lý
luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững, luận văn đề ra các giải
pháp để xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam trong thời
gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Hệ thống hoá các vấn đề cơ bản về phát triển bền vững và phát triển bền
vững trong nông nghiệp từ góc độ lý luận và thực tiễn.
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững của một số
quốc gia trên thế giới.
- Phân tích thực trạng việc phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam
và những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất định hƣớng và giải pháp để phát triển nền nông nghiệp bền
vững ở nƣớc ta trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển bền vững
trong nông nghiệp. Việc phát triển nông nghiệp bền vững đó đƣợc xem xét, tiếp
cận trên góc độ: Đảm bảo nhịp độ tăng trƣởng ổn định,giải quyết tốt các vấn đề
xã hội, xây dựng nền nông nghiệp theo xu thế nền nông nghiệp sinh thái.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu thực tiễn phát triển nông
nghiệp theo xu hƣớng bền vững ở Việt Nam dƣới góc độ kinh tế chính trị. Đề tài
không đi vào nghiên cứu những vấn đề có tính vi mô của từng ngành, từng địa
phƣơng cụ thể.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
6
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu đƣợc vận dụng trong đề tài là phƣơng
pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phƣơng pháp nhƣ: phƣơng pháp kết
hợp phân tích với tổng hợp, phƣơng pháp thống kê, so sánh trong quá trình
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
1.1 .Khái quát chung về phát triển bền vững
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững
Hiện nay loài ngƣời đang đứng trƣớc những thách thức to lớn về sự sống còn
của con ngƣời do sự phá huỷ môi trƣờng và tình trạng khai thác cạn kiệt nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Muốn vƣợt qua những thách thức đó, không còn cách nào khác
là phải xây dựng và thực hiện một chiến lƣợc phát triển mới, mang tính dài hạn, là
con đƣờng phát triển tất yếu của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chiến lƣợc đó
phải đảm bảo thực hiện đƣợc 3 mục tiêu cơ bản: mục tiêu kinh tế; mục tiêu xã hội,
nhân văn; mục tiêu sinh thái, môi trƣờng. Thực hiện đƣợc yêu cầu đó sẽ là bƣớc
phát triển cao hơn về nhận thức của con ngƣời, là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển
bền vững mối quan hệ giữa con ngƣời - xã hội - tự nhiên. Phát triển bền vững vì thế
trở thành vấn đề bức xúc của nhiều quốc gia, sự quan tâm của nhiều nhà khoa học hiện
nay trên thế giới. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa hay khái niệm về phát triển bền vững.
Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lƣợc bảo tồn thế giới (Công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên
và Tài nguyên thiên nhiên quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát
triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn
trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái
học”.
Khái niệm phát triển bền vững đƣợc chính thức đƣa ra vào năm 1987
trong Báo cáo của Uỷ ban môi trƣờng và phát triển của Ngân hàng thế giới. Báo
cáo này ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được
những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng
đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” [5, Tr 12].
Đây là một định nghĩa hết sức ngắn gọn, dễ hiểu: bền vững là sự phát triển
ngày hôm nay không làm ảnh hƣởng đến sự phát triển ngày mai. Bền vững là ngày
8
9
Tuy nhiên, phải đến những năm 1970, khi Maurice Strong tổ chức hội thảo
với chủ đề “Phát triển và môi trường” (6-1971) thì những vấn đề về phát triển bền
vững bắt đầu thu hút đƣợc sự quan tâm của các học giả trên thế giới. Tƣ tƣởng về
phát triển gắn với bảo vệ môi trƣờng ngày càng nhận đƣợc sự ủng hộ rộng rãi và
nó đã loại bỏ các tƣ tƣởng về phát triển không quan tâm tới môi trƣờng.
Tháng 6-1972, Tuyên bố Stockholm về “môi trường con người” đã khẳng
định: “Bảo vệ và cải thiện môi trƣờng con ngƣời là vấn đề lớn có ảnh hƣởng tới
phúc lợi của mọi dân tộc và phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Đó là khao khát
khẩn cấp của các dân tộc trên khắp thế giới và nhiệm vụ của mọi chính phủ”.
Trải qua một quá trình phát triển, các tƣ tƣởng về phát triển bền vững dần
dần đƣợc khái quát rõ nét hơn. Thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên đƣợc
sử dụng trong “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế
giới phát hành. Chiến lƣợc này cho rằng muốn phát triền bền vững cần tính đến
những yếu tố kinh tế - xã hội - môi trƣờng.
Năm 1981 Robert Riddell đã mô tả phát triển bền vững gồm 3 yếu tố đặc
trƣng: bình đẳng kinh tế, hài hoà xã hội, môi trƣờng cân bằng.
Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Uỷ ban Môi
trƣờng và Phát triển của Ngân hàng thế giới thuật ngữ phát triển bền vững chính
thức đƣợc định nghĩa. Cho đến đây các lý thuyết về phát triển bền vững đã đƣợc
hình thành và đã đạt đƣợc nhiều sự đồng thuận từ phía các quốc gia, các tổ chức
môi trƣờng cũng nhƣ quan điểm của các nhà khoa học trên thế giới. Tiếp tục phát
triển các tƣ tƣởng về phát triển bền vững năm 1992, Liên Hợp Quốc tổ chức cuộc
Hội thảo về “Môi trƣờng và Phát triển” tại Rio de Janeiro. Hội nghị này đƣa ra các
văn kiện có tầm thế giới, với việc tuyên bố 27 nguyên tắc và thông qua Chƣơng trình
nghị sự 21. Chƣơng trình nghị sự 21 đã đề ra chƣơng trình khung phù hợp với phát
triển bền vững.
Tháng 9-2002, Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới của Liên Hợp Quốc tổ chức
tại Nam Phi lần đầu tiên lấy tên “Phát triển bền vững”. Điều đó khẳng định phát
triển bền vững đã trở thành trào lƣu của toàn thế giới. Tuyên bố Johannesburg về
hƣởng đƣợc tập trung một cách đầy đủ và các quyết định đều do họ thực hiện.
Theo Tổ chức về môi trƣờng sinh thái thế giới (WOED) đã định nghĩa nông
nghiệp bền vững nhƣ sau: nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả mãn
11
đƣợc các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các
thế hệ mai sau.
Ở Việt Nam nghiên cứu về phát triển bền vững bắt đầu đƣợc nghiên cứu từ
khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Thể hiện cụ thể nhất là
quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17-8-2004 của Thủ tƣớng chính phủ ban
hành Định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững ở Việt Nam (Chƣơng trình nghị
sự 21 của Việt Nam). Trong 8 nội dung chính của chƣơng trình hành động thì nội
dung thứ 4 đã đề cập đến các nội dung về phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt
Nam.
Từ việc kế thừa những thành tựu nghiên cứu trƣớc đó và căn cứ vào điều
kiện thực tiễn của Việt Nam, có thể kết luận rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững
(bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) là quá trình sử dụng hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh
thái trên cơ sở đảm bảo thoả mãn các nhu cầu của con người trong trong hiện tại
và tương lai và được xã hội chấp nhận.
1.2.2. Đặc trưng của nền nông nghiệp phát triển theo xu hướng bền vững
1.2.2.1. Đảm bảo nhịp độ tăng trưởng ổn định, hiệu quả
Mục tiêu tăng trƣởng là mục tiêu theo đuổi của tất cả các ngành trong nền
kinh tế quốc dân. Bất cứ một ngành nào, một lĩnh vực nào nếu không có sự tăng
trƣởng đều sẽ gây trở ngại đối với tiến trình phát triển chung của toàn bộ nền kinh
tế. Đối với ngành sản xuất nông nghiệp, việc theo đuổi mục tiêu tăng trƣởng có một
ý nghĩa hết sức quan trọng. Ngành nông nghiệp là ngành cung cấp toàn bộ lƣơng
thực - thực phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hằng ngày của con ngƣời. Hoạt
động tiêu dùng diễn ra liên tục đòi hỏi quá trình sản xuất cũng phải diễn ra liên tục
tƣơng ứng. Bên cạnh đó, cùng với quá trình gia tăng tiêu dùng là sự gia tăng nhanh
nghiệp, nông thôn
Tuyên bố của hội nghị Rio de Ranerio đã khẳng định: “Xoá bỏ nghèo nàn là
yêu cầu không thể thiếu của phát triển bền vững”. Đây là một đỉnh của tam giác
phát triển bền vững: kinh tế - xã hội - môi trƣờng. Có rất nhiều vấn đề xã hội trong
khu vực nông thôn cần giải quyết nhƣ nghèo đói, thất nghiệp, sự phân hoá giàu
nghèo…
13
Tìm hiểu về vấn đề nghèo đói thì hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác
nhau về vấn đề nghéo đói. Theo cách định nghĩa đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận nhất
và thƣờng đƣợc sử dụng phổ biến hiện nay thì “nghèo đói đƣợc hiểu là: tình trạng
một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con
ngƣời mà những nhu cầu này đã đƣợc xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển
kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phƣơng”.
Trên thực tế hiện nay tình trạng nghèo đói tồn tại chủ yếu ở vùng nông thôn.
Chiếm phần lớn trong số những ngƣời thuộc diện nghèo đói là những ngƣời tham
gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đối với một nền nông nghiệp truyền thống
lạc hậu, tốc độ tăng trƣởng thấp thì rất khó có thể giải quyết đƣợc vấn đề nghèo đói.
Trong khi đó việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững sẽ đảm bảo đƣợc các
mục tiêu : tăng trƣởng, ổn định, hiệu quả. Thực hiện đƣợc các mục tiêu trên sẽ là cơ
sở giải quyết đƣợc vấn đề thất nghiệp trong khu vực nông thôn. Xuất phát từ thực
tiễn khi các mục tiêu trên đƣợc thực hiện sẽ là cơ sở tiền đề vật chất góp phần thúc
đẩy nhanh quá trình xoá đói giảm nghèo. Không thể nói tới việc nâng cao mức
sống của dân cƣ sản xuất nông nghiệp nếu không thực hiện phát triển nông nghiệp
theo hƣớng bền vững.
Song song với việc giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo, việc làm…việc
phát triển nền nông nghiệp bền vững sẽ góp phần nâng cao vai trò của ngƣời nông
dân trong các khâu của quá trình sản xuất. Xuất phát từ khía cạnh nghèo đói xem
xét: nghèo đói ảnh hƣởng trực tiếp tới giáo dục, ảnh hƣởng tới năng lực của các chủ
thể. Chủ thể ở đây chính là những ngƣời tham gia vào hoạt động sản xuất nông
bằng của các thế hệ tƣơng lai.
Các vấn đề xã hội là những vấn đề liên quan trực tiếp con ngƣời. Song để
giải quyết đƣợc không thể một sớm một chiều mà cần phải có một thời gian nhất
định và chỉ trong nền nông nghiệp phát triển bền vững các vấn đề trên mới có thể
giải quyết đƣợc toàn diện và triệt để.
1.2.2.3. Phát triển bền vững nền nông nghiệp theo xu hướng nền nông
nghiệp sinh thái
Trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân thì ngành nông nghiệp
(bao gồm cả lâm nghiệp và ngƣ nghiệp) là ngành liên quan trực tiếp tới các điều
kiện tài nguyên thiên nhiên của môi trƣờng sinh thái.
15
Nền nông nghiệp truyền thống với đặc trƣng của nền nông nghiệp lạc hậu,
trình độ kỹ thuật thấp kém, phƣơng thức canh tác thủ công. Chính những điều
này đã làm cho môi trƣờng thiên nhiên bị tàn phá nghiêm trọng. Thể hiện cụ thể ở đây
nhƣ diện tích đất trồng cây nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị thoái hoá, diện tích
rừng tự nhiên ngày càng thu hẹp, các nguồn lợi thuỷ sản ngày càng cạn kiệt. Tất cả
đều do sự khai thác quá mức của con ngƣời. Hậu quả của những vấn đề trên sẽ ảnh
hƣởng trực tiếp tới đời sống của ngƣời nông dân, họ có nguy cơ rơi vào tình trạng
“nghèo đi tương đối”. Đứng trƣớc những vấn đề đó, nhận thức về phát triển bền vững
nền nông nghiệp theo xu hƣớng nền nông nghiệp sinh thái có ý nghĩa vô cùng quan
trọng.
Phát triển bền vững nền nông nghiệp theo xu hƣớng nền nông nghiệp sinh thái
đƣợc thể hiện trên 3 khía cạnh sau:
Thứ nhất, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên hiện có để thoả mãn
nhu cầu của con ngƣời… Cùng với sự gia tăng của dân số và mức sống của con ngƣời
thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp có xu hƣớng ngày càng tăng lên. Nếu
nhƣ nền sản xuất nông nghiệp không đảm bảo đƣợc thì sẽ gây ra sự xáo trộn lớn trong
toàn xã hội. Tuy nhiên để đảm bảo đƣợc điều này thì không phải bằng cách khai
thác thiếu tổ chức, thiếu khoa học. Quá trình khai thác và sử dụng ở đây cần phải
lâu dài. Xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phải dựa trên những tiến bộ khoa học -
kỹ thuật nhất định. Các tiến bộ kỹ thuật đó phải dựa trên nền tảng thân thiện với môi
trƣờng sinh thái. Do áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật sẽ giúp cho cây trồng vật
nuôi sinh trƣởng tốt, khi đó việc sử dụng hoá chất vào sản xuất sẽ dần đƣợc loại trừ.
Hiệu quả của việc phát triển theo hƣớng sinh thái sẽ tạo ra các sản phẩm sạch, có
chất lƣợng cao.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững và bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững
1.3.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển nông nghiệp bền vững
Trung Quốc là quốc gia có diện tích rộng và dân số đông nhất thế giới.
Trong quá khứ cũng nhƣ hiện tại, quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Trung
Quốc có nhiều nét tƣơng đồng so với Việt Nam. Từ khi Trung Quốc tiến hành cải
cách mở cửa, nền nông nghiệp và kinh tế đã đạt đƣợc những thành tựu nhất định,
trong đó có sự đóng góp không nhỏ của khoa học - công nghệ. Từ thập kỷ 90 của
thế kỷ XX cho đến nay, các khu phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cơ sở hiện
17
đại hoá nông nghiệp …đƣợc xây dựng ở hầu hết các tỉnh, thành phố và đã sử dụng
công nghệ cao để cải tạo nông nghiệp truyền thống. Trung Quốc đã chọn công
nghệ cao làm khâu đột phá trong việc phát triển ngành nông nghiệp. Hiện nay, trình
độ chung nền nông nghiệp Trung Quốc khá cao. Tỷ lệ tiến bộ khoa học - công nghệ
nâng cao đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển ổn định liên tục của kinh tế
nông thôn và nông nghiệp Trung Quốc.
Sản lƣợng một số nông sản phẩm của Trung Quốc đã và đang đứng hàng
đầu thế giới: lƣơng thực đứng vị trí số 1 (lúa gạo, lúa mì), ngô đứng thứ 2, đậu
tƣơng đứng thứ 3, bông, cây có dầu, các loại thịt, thức ăn gia cầm và các loại thuỷ
sản đều đứng ở tốp đầu thế giới. Trung Quốc chỉ sử dụng 7% đất canh tác của thế
giới nhƣng đã nuôi sống 22% dân số thế giới.
Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, Trung Quốc đã lần lƣợt ban
thu thập thông tin và quản lý tác nghiệp ngoài đồng ruộng đã thu đƣợc kết quả.
Việc đẩy mạnh hoá quản lý thông tin và tiến trình mô hình hoá, thông tin hoá tài
nuyên rừng đã cung cấp lý luận, phƣơng pháp và công nghệ làm căn cứ cho các
đơn vị kinh doanh lâm nghiệp có thể sử dụng bền vững tài nguyên.
• Lĩnh vực vật liệu, phân hoá học, thuốc trừ sâu mới. Các loại phân bón, thuốc
trừ bệnh sinh vật và các hoá chất loại mới đã phát triển khá mạnh. Loại phân bón
hỗn hợp do Trung Quốc tự chế tạo đã chiếm 20% số lƣợng phân bón hoá học, các
loại phân hữu cơ dùng trong sản xuất rau, cây ăn quả, cây cảnh đã khá phổ biến:
phân hoá học nồng độ cao, phân hoá học hiệu quả lâu dài và phân tan chậm….sẽ
dần thay thế loại phân đơn nguyên tố, nồng độ thấp. Phƣơng pháp bón phân theo
bài phối chế, bón phân cân bằng, bón phân ƣu hoá đã mở rộng tới 1/3 tổng diện tích
trồng cây lƣơng thực. Nói chung so với biện pháp bón phân đơn giản hiện nay thì
sản lƣợng tăng từ 8 - 15 %, có nơi lên tới 20%.
• Lĩnh vực thiết bị nông nghiệp. Diện tích ứng dụng thiết bị đồng bộ năm
1996 là 698.000 ha đã phát triển lên 1.340.000 ha trong đó có 20.000 ha là kết quả
nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc phù hợp với các cấu trúc, kỹ thuật
trồng trọt, khống chế môi trƣờng khác nhau, tiết kiệm năng lƣợng và sử dụng ánh
sáng mặt trời. Trung Quốc nhập khẩu trên 100 nhà ấm điều hoà nhiệt độ, độ ẩm tự
động hiện đại của các nƣớc tiên tiến thông qua tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo đã
nghiên cứu chế tạo ra các loại phòng ấm hiện đại điều kiển tự động.
Những kết quả đạt đƣợc thông qua các chƣơng trình phát triển trên là hết sức
to lớn. Trung Quốc bên cạnh việc đảm bảo an ninh lƣơng thực cho trên 1,2 tỷ ngƣời
của mình thì Trung Quốc đã và đang tham gia mạnh mẽ vào thị trƣờng các sản phẩm
nông nghiệp trên thế giới.