1 / 28
Phần 1. Phần mở đầu
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to
lớn, tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định trên thế giới. Đời sống của người
dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Đến năm 2009 chúng ta đã thoát
khỏi tình trạng là nước nghèo. Có được những thành tựu to lớn này là có sự đóng
góp công sức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của tất cả các ngành các cấp
trong đó có sự đóng góp to lớn của ngành nông nghiệp.
Kinh tế nông nghiệp là ngành
kinh tế quan trọng của nước ta. Phát
triển nông nghiệp nông thôn không chỉ
bảo đảm cho nhu cầu về lương thực,
thực phẩm mà còn là cơ sở phát triển
các mặt khác của đời sống kinh tế - xã
hội, đồng thời góp phần củng cố liên
minh công nông, tăng cường sức mạnh
của chuyên chính vô sản.
Hiện nay Việt Nam vẫn được coi là nước nông nghiệp với khoảng trên
80% dân số sống ở nông thôn và khoảng 74,6% lực lượng lao động làm nông
nghiệp. Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới vấn đề phát triển nông nghiệp, nông
thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, và coi đó nhiệm vụ
chiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định tình hình chính trị - xã hội, sự phát triển
hài hoà và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước.Chính nhờ
được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước mà trong những năm qua ngành
nông nghiệp và nông thôn đã gặt hái được nhiều thành tựu hết sức đáng mừng.
Nông nghiệp Việt Nam không những đảm bảo tự cung tự cấp mà còn trở thành
một cường quốc trên thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó ngành nông nghiệp Việt
Nam cũng còn có một số mặt hạn chế cần phải khắc phục như: vấn đề phát triển
nông nghiệp kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa thức sự sử dụng hiệu
phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài :
-Hệ thống hoá các vấn đề cơ bản về phát triển bền vững và phát triển bền vững
trong nông nghiệp từ góc độ lý luận và thực tiễn.
-Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững của một số quốc gia
trên thế giới.
- phân tích thực trạng về phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam và những
vấn đề đặt ra
-Giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững nước ta trong thời gian tới
Phần 2. Nội dung
Chương 1 : Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững
1 . Khái quát chung về phát triển bền vững
1.1. khái niệm phát triển bền vững
Hiện nay có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững tuy nhiên định nghĩa
sau đây của Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc( năm 1987)
được xem là phổ biến rộng rãi với khái niệm Phát triển bền vững như sau:
“ Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của
con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương
lai”
1.2. sự hình thành các thuyết về phát triển bền vững
Các lý thuyết về phát triển bền vững đã
được
manh nha từ rất lâu trong lịch
3 / 28
phát triển của xã hội loài ng
ười
, tuy nhiên chỉ đến những năm gần đây các lý
thuyết và phát triển bền vững mới đ
ư
ợc xây dựng hoàn chỉnh:
xã hội chấp
nhận.
2.3. Đặc trưng của nền nông nghiệp theo xu hướng bền vững
Thứ nhất: là nền sản xuất trong đó hoạt động của con người phù hợp với
các quy luật phát triển của tự nhiên , khai thác và bồi dưỡng được tự nhiên được
thực hiện trong cùng một quá trình, nhờ đó duy trì được môi trường tự nhiên cho
đời sống trường tồn của mọi thế hệ.
Thứ hai, phát triển nông nghiệp bền vững là nền sản xuất nông nghiệp
đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, dựa trên cơ sở ứng dụng thành tựu
khoa học - công nghệ hiện đại sản xuất.
Thứ ba, phát triển nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp sử dụng tiết
kiệm, có hiệu quả các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo sự tăng trưởng.
Thứ tư, phát triển nông nghiệp bền vững là nền sản xuất nông nghiệp có
cơ cấu kinh tế hợp lý. Nói đến cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp là nói đến cơ
cấu giữa chăn nuôi và trồng trọt
Thứ năm, phát triển nông nghiệp bền vững là nền sản xuất nông nghiệp
bảo đảm được công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, tạo được cơ
4 / 28
sở vật chất cho phát triển nông thôn mới.
Thứ sáu, phát triển nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp, trong đó
đòi hỏi trình độ của người lao động ngày càng cao
3. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam
3.1. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp bền vững
-Trước tiên phải đề cập về kinh nghiệm để phát triển nông nghiệp ở đất
nước Hàn Quốc với mô hình Seamaul Undong với 8 bài học kinh nghiệm từ họ :
Phát huy dân chủ để phát triển nông thôn
Đào tạo cán bộ phát huy nông thôn
Phát huy nội lực của dân để xây dựng hạ tầng nông thôn
Nâng đỡ địa phương để kích thích sự thi đua giữa các làng
-Phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường
-Phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn liền với vấn đề xoá đói, giảm nghèo, nâng cao
mức sống cuả cư dân nông thôn
-Phát triển kinh tế nông nghiệp phải phù hợp với quy luật của thị trường
Chương 2. Thực trạng phát triển nông nghiệp theo xu hướng bền vững ở nước
ta
1. Tổng quan về sản xuất nông nghiệp của Việt Nam
1.1. Vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế
-Cung cấp lương thực - thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của người dân.
-Cung cấp các yếu tố đầu vào cho các ngành công nghiệp.
-Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp.
-Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn.
-Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của
môi trường.
1.2. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Việt Nam
-Sản xuất nông nghiệp tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc nhiều
vào tự nhiên.
-Trong nông nghiệp có sự tồn tại nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh,
nhiều thành phần kinh tế. Trong đó kinh tế hộ nông dân có vai trò đặc biệt quan
trọng.
-Nền nông nghiệp Việt Nam đang trong tình trạng lạc hậu tiến lên xây dựng một
nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá theo định h
ư
ớng xã hội chủ nghĩa.
2. Những chuyển biến trong phát triển nền nông nghiệp theo xu h
ư
ớng bền
vững
2.1. Đảm bảo giữ vững được nhịp độ tăng trưởng ổn định và có hiệu quả
trong thời gian dài.
Long…. Bên cạnh việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, thì nông nghiệp
của Việt Nam cũng đang hội nhập sâu rộng vào thị tr
ư
ờng quốc tế.
2.2. Giải quyết các vấn đề về mặt xã hội nảy sinh trong khu vực nông
nghiệp, nông thôn
-Xoá đói giảm nghèo trong khu vực nông nghiệp, nông thôn đã đạt được những
kết quả nhất định. Tỷ lệ nghèo đói ở nông thôn đã giảm từ 66,4% năm 1993
xuống còn 35,6% năm 2002 và 27,5 % năm 2004, năm 2009 thoát khỏi tình
trạng nước nghèo
-Đảm bảo vai trò thích đáng của
người
nông dân trong mọi khâu của quá trình ra
quyết định ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.
-Đảm bảo việc tiếp cận công bằng hơn đối với các nguồn lực, nguồn tài nguyên và
thu nhập của
người
nông dân trong khu vực nông nghiệp, nông thôn.
7 / 28
2.3. Từng bước xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng phát triển
sạch, môi trường tự nhiên được bảo vệ và hình thành các vùng nông nghiệp
sinh thái
Hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học để phát triển những
giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng và sức chống chịu sâu bệnh
cao, không thoái hóa, không tổn hại tới đa dạng sinh học ngày càng tăng. Các
hoạt động cụ thể
được
triển khai
như
phát triển sản xuất phân bón hữu cơ, phân
gia tăng cao đặc biệt lĩnh vực
chăn nuôi và thủy
sản.
Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch tích cực: cơ cấu
sản
xuất
nông, lâm, thuỷ sản chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao năng
suất, chất
lượng,
hiệu quả gắn với nhu cầu thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn
2000 đến nay. Tỷ
trọng
nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, diêm nghiệp và
thuỷ sản) trong tổng GDP
cả
nước giảm từ 24,5% năm 2000 xuống còn
22,02% năm 2011. Trong nội bộ
ngành
đang có xu hướng tăng nhanh tỷ
trọng thủy sản, giảm tỷ trọng trồng trọt trong giá
trị
sản xuất. Tỷ trọng thuỷ
sản tăng từ 15,6% năm 2000 và 24,6% năm 2011. Trong
khi
đó, tỷ trọng nông
nghiệp giảm từ khoảng 78%-82% giai đoạn trước năm 2002
xuống
còn 72%
năm
2011
thủy sản tiếp tục đa loài, đa loại hình, đa phương
thức theo hướng thân thiện với
môi trường.
Trong lâm nghiệp, việc trồng rừng sản xuất được đẩy mạnh nhờ chính
sách
giao
đất giao rừng, chương trình 327, dự án trồng mới 5 triệu ha v.v…
Nhờ vậy, tỷ lệ
che
phủ rừng tăng từ 28% năm 1995 lên xấp xỉ 40% năm 2010,
tương đương với diện
tích
13,39 triệu ha. Công nghiệp chế biến gỗ và lâm
sản xuất khẩu phát triển rất
mạnh
trong những năm gần đây: giá trị lâm sản
xuất khẩu tăng từ 1.786 triệu USD năm
2005
lên 3.000 triệu USD năm 2010,
đạt tốc độ tăng 10,9%/năm; trong đó, giá trị xuất
khẩu
gỗ và sản phẩm gỗ tăng
từ 1.561 triệu USD năm 2005 lên 2.800 triệu USD năm
2010,
đóng góp vào kim
ngạch xuất khẩu của cả nước và tạo cơ hội cho phát triển rừng
trồng
nguyên liệu
công
nghiệp.
Nam
còn là quốc gia đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo với lượng
xuất khẩu đạt
5-7
triệu tấn/năm. Con số này tương đương với 8-12 triệu tấn
thóc và chiếm khoảng
¼
tổng sản lượng quốc gia hàng
năm.
Xuất khẩu tăng nhanh, một số mặt hàng có vị thế cao trên thị trường
thế
giới:
lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp là lĩnh vực duy nhất trong nền kinh tế
liên tục xuất
siêu,
năm sau cao hơn năm trước, kể cả trong những giai đoạn kinh
10 / 28
tế gặp khó khăn.
Xuất
khẩu các loại nông, lâm, thủy sản tiếp tục được mở rộng,
một số ngành có thị phần
lớn
trong khu vực và thế giới như: gạo, cao su, cà phê,
hồ tiêu, hạt điều, sản phẩm đồ
gỗ,
thuỷ sản v.v… Giá trị kim ngạch xuất khẩu
nông, lâm, thuỷ sản giai đoạn 1995 -
2010
bình quân mỗi năm đạt khoảng 7
tỷ USD, tốc độ tăng bình quân 12,6%/năm.
Hiệu quả đầu tư cao và có sức lan tỏa mạnh mẽ: với lợi thế sẵn có về
nông
nghiệp, trong điều kiện hiệu quả đầu tư chung của Việt Nam rất thấp, các
tính toán
về
tỷ lệ chi phí/thu nhập của các ngành kinh tế (ICOR) gần đây cho
thấy hiệu quả đầu
tư
cho nông nghiệp không kém gì so với các ngành kinh tế
khác, thậm chí là có thể
còn
cao
hơn
Trong vòng 20 năm vừa qua, với lượng vốn đầu tư ít ỏi chỉ chiếm 7% tổng
vốn
đầu tư xã hội, mà trong đó 50% là của đầu tư nhà nước, lại tập trung chủ yếu
cho
việc
xây mới các công trình thủy lợi lớn, nhưng nông nghiệp vẫn duy trì
mức tăng trưởng
3-
4%/năm. Vì vậy, nếu được qua tâm đầu tư đúng mức
nông nghiệp Việt Nam
chắc
chắn có thể tiếp tục duy trì tăng trưởng ở mức cao
hơn, đặc biệt về giá trị gia
tăng.
Mặt khác, nông nghiệp là lĩnh vực có sức lan tỏa mạnh mẽ cho tăng
trưởng
kinh
vào
các đối tượng khó khăn vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc.
Nhờ đó, tỷ lệ hộ
nghèo
đã giảm 18,1% năm 2004 xuống còn 10,7% năm
2010, trung bình mỗi năm
giảm1,1%.
Thu nhập bình quân một nhân khẩu hộ nông thôn tăng từ 3,3 triệu
đồng/người
năm 2002 lên 12,9 triệu đồng/người năm 2010 tính theo giá hiện
hành. Từ năm
2001
đến 2011, tích lũy để dành của hộ nông thôn tăng lên gấp
5,3 lần, bình quân từ
3,2
triệu đồng/hộ lên 16,8 triệu
đồng/hộ
.
Nhiều xã, thôn
ở nông thôn vùng Đồng bằng Bắc bộ, vùng miền Trung đã
cơ
bản hoàn thành
việc “xóa” nhà tranh tre, nứa lá; nhiều huyện, xã ở miền Bắc và
miền
Trung đã
cơ bản “ngói hoá” nhà ở, miền Nam đã bố trí cho khoảng 200 ngàn hộ
dân
đang
sống thường xuyên trong vùng ngập lũ và “sống chung với lũ” khi có lũ lớn.
Năm
ngày, tiêu thoát nước cho 1,72 triệu ha đất
nông
nghiệp, góp phần đáng kể
vào việc tăng năng suất, sản lượng và chất lượng các
loại
cây
trồng.
Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, giao thông nông
thôn
có
bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Từ năm 1999 đến nay
làm mới
được
24.167 km đường; sửa chữa, nâng cấp 150.506 km đường. Năm
2011 có tới 98,6%
xã
có đường ôtô đến khu trung tâm, trong đó 87,3% xã có
đường ô tô được nhựa, bê
tông
hóa (năm 2006 là
70,1%).
Bên cạnh đó, mạng lưới điện đến các xã được đầu tư, mở rộng và đạt được
những
kết quả đáng khích lệ. Nếu năm 1994 cả nước mới có 60,4% số xã và
50% số thôn
có
điện, năm 2006 các con số tương ứng là 98,9% và 92,4%,
thì đến năm 2011 có
tới
99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện
phát triển mạnh.
3.2. Những hạn chế
Nông nghiệp tăng trưởng kém bền vững, khả năng cạnh tranh thấp: tăng
trưởng GDP nông nghiệp có xu hướng giảm dần: tốc độ tăng GDP nông nghiệp giai
đoạn 1995 - 2000 đạt 4%/năm, giảm xuống còn 3,83%/năm trong giai đoạn 2001 -
2005 và 3,4%/năm trong giai đoạn 2006-2011. Tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng giá trị
sản xuất nông nghiệp cũng có xu hướng giảm, từ 66,35% năm 2000 xuống 57,6% năm
2011 (theo giá thực tế) và 45,6% năm 2000 xuống 38,3% năm 2011 (theo giá so sánh).
Năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh của nhiều sản phẩm nông nghiệp
còn thấp; kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản, chế biến như kho tàng, sân phơi, bến bãi
v.v… còn kém phát triển, công nghiệp chế biến nông sản rất nhỏ bé nên chất lượng
nhiều loại nông sản còn thấp, nhất là rau quả, sản phẩm chăn nuôi. Phần lớn nông sản
xuất khẩu ở dạng sơ chế, giá trị gia tăng rất thấp, chưa có thương hiệu, mẫu mã bao bì
chưa hấp dẫn.
Chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm thấp: hiện có quá nhiều doanh
nghiệp chế biến nông, thủy sản quy mô nhỏ, việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật, vệ sinh ATTP chưa được coi trọng; tổn thất sau thu hoạch cả về số lượng và chất
lượng còn lớn.
Ngoài ra, vấn đề dịch bệnh trong cả trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy
sản cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng toàn ngành và thu nhập của nông dân.
Cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm: tỷ trọng thuỷ
sản trong tổng giá trị sản xuất toàn ngành tăng nhanh trong giai đoạn từ 2000 đến 2007
(đạt mức cao nhất là 26,5% năm 2007); nhưng bắt đầu từ năm 2008 lại có xu hướng
giảm, chỉ còn 22% vào năm 2008 và 24,6% năm 2011. Sản xuất nông nghiệp vẫn nặng
13 / 28
về trồng trọt (chiếm tỷ trọng 73%), chăn nuôi và dịch vụ mới chỉ chiếm 27%.
Kết cấu kinh tế nông thôn vẫn chủ yếu là thuần nông (sản xuất nông nghiệp
chiếm 65%), các hoạt động phi nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn
chiếm tỷ lệ nhỏ, chưa đủ sức thu hút tạo việc làm để thúc đẩy chuyển dịch lao động.
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu
tốc độ giảm số hộ nghèo của nông thôn thấp hơn so với thành thị khoảng 20%; vẫn còn
nhiều người dân sống dưới hoặc cận kề mức nghèo đói.
Ô nhiễm môi trường tăng, nhiều tài nguyên bị khai thác quá mức: tình trạng
14 / 28
sản xuất thâm canh, sử dụng quá
nhiều phân bón, hóa chất, thuốc
bảo vệ, chất kích thích sinh trưởng
và tạo ra nhiều chất thải của các
vùng chăn nuôi tập trung, nuôi
thủy sản tập trung, các vùng
chuyên canh cây trồng thâm canh
như bông, nho, rau v.v… tạo ra dư
lượng các chất độc hại trong nông
sản thực phẩm, làm tăng khả năng
chống chịu và đột biến của sâu bệnh; tình trạng ô nhiễm môi trường đang gia tăng, đặc
biệt ở các làng nghề và chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục.
Bên cạnh đó, nhiều tài nguyên bị khai thác bừa bãi cũng dẫn đến tình trạng
suy giảm tính đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên động vật quí hiếm, nguồn nước ngầm, nguồn lợi thuỷ sản trong nội địa và ở
các vùng biển ven bờ, một số loại khoáng sản đã có dấu hiệu bị khai thác quá mức.
3.3.Một số vấn đề đặt ra
-Trình độ hiện tại của nông nghiệp Việt Nam còn thấp so với yêu cầu phát triển
bền vững.
-Nền nông nghiệp Việt nam về cơ bản
chưa
thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ,
phân tán, manh mún gây trở ngại cho xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá.
-Khả năng cạnh tranh còn thấp kém trong khi tình hình cạnh tranh trên thị tr
ư
ờng
ớng bền vững ở
nước
ta
2.1. Làm tốt công tác quy hoạch phát triển nông nghịêp
-Tại các vùng chuyên canh nông nghiệp, quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng
phát
triển các cụm trọng điểm nông nghiệp. Ở mỗi nơi, có các tổ hợp liên kết
nông
nghiệp, tại đây có các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản, sản
xuất vật
tư
nông nghiệp và các cơ sở bán hàng, cơ sở cung cấp dịch vụ
nghiên cứu, đào
tạo,
tư vấn v.v… áp dụng công nghệ, tiêu chuẩn cao, khép
kín xử lý chất thải và
tái
tạo năng lượng. Xung quanh các trung tâm này là
các vùng cung cấp
nguyên
liệu đồng bộ, liên kết bằng hợp đồng với khu
trung tâm. Các cụm kết nối
phục
vụ trực tiếp với thị trường trong và ngoài
nước bằng hệ thống phân
phối.
-Ở những vùng mật độ dân cư
cao như các vùng ven đô,
Đồng bằng sông Hồng, Đồng
bằng sông Cửu Long, Đông
vụ phục vụ nuôi trồng thủy
sản.
-Ở những khu vực gần các ngư trường đánh bắt quan trọng ở Duyên hải
Trung
Bộ, Nam Bộ, và trên một số hải đảo chính hình thành các trung
tâm hậu
cần
nghề cá. Tại đây, xây dựng hệ thống cầu cảng phục vụ tàu
đánh cá, xây
dựng
các công trình và cơ sở dịch vụ như cung cấp nhiên
liệu, đá, thực phẩm,
kho
chứa, cơ sở thương mại, cơ khí sửa chữa, thông tin
liên lạc, kiểm tra chất
lượng
vệ sinh v.v… nhằm đảm bảo cung cấp dịch vụ
hậu cần cho tàu đánh bắt xa
bờ,
mua bán thủy sản và tránh trú
bão.
-Ở những vùng chuyên canh rừng sản xuất nguyên liệu gỗ phục vụ chế
biến
ở
Tây Bắc (giấy, ván nhân tạo), Đông Bắc (giấy, dăm, trụ mỏ, đồ
mộc),
Bắc
Trung Bộ (dăm giấy, nhựa thông, tre, mây), Nam Trung Bộ (ván
nhân tạo,
bột
-Ở những vùng đồng bằng có điều kiện như Đồng bằng sông Hồng, Bắc
Trung
Bộ, Nam Trung Bộ xây dựng chương trình nghiên cứu xác định lợi
thế và
thị
trường, tập trung phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp bảo
vệ môi
trường,
có giá trị gia tăng cao, thu hút lao động và gắn với dịch vụ du
lịch (đồ gốm,
sứ,
thủ công mỹ nghệ v.v…). Kiên quyết chấm dứt các
ngành nghề gây ô
nhiễm
môi trường, phá hoại tài nguyên thiên nhiên (sản
xuất vật liệu xây dựng,
luyện
thép, chế biến thực phẩm v.v…). Quy hoạch
các làng nghề rải rác thành
từng
cụm theo phân cấp chức năng (làng hạt
nhân chế biến sâu và thương mại,
làng
vệ tinh gia công sản xuất, làng sản
17 / 28
xuất nguyên liệu). Hệ thống này liên kết
với
nhau thành các chuỗi sản xuất
hàng hóa và đảm bảo xử lý môi
trường.
từ ngân sách và các nguồn vốn khác theo mục tiêu
phát triển, huy động và sử dụng nhiều hơn vốn tín dụng
thương
mại
2.3. Tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng phát huy lợi thế
cạnh tranh , đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước
-Căn cứ vào đề án An ninh lương thực, quy định rõ diện tích đất lúa giao
cho
từng địa phương, trước hết ở các vùng chuyên canh sản xuất lúa tại
hai
vùng
đồng bằng chính. Tại đây tiến hành dồn điền đổi thửa để giảm số
thửa trong
một
hộ xuống tối đa 2 thửa. Hỗ trợ nông dân xây dựng đồng
ruộng (san bằng và
làm
thủy lợi). Xây dựng hoàn chỉnh giao thông và
thủy lợi. Tại Đồng bằng
sông
Cửu Long, chuyển toàn bộ hệ thống tưới
động lực hiện nay sang tưới điện.
Tại
các vùng chuyên canh này sẽ từng
bước áp dụng quy trình sản xuất lúa mới
tiết
kiệm nước và giảm phát thải.
Áp dụng chính sách khuyến khích nông dân
tại
các vùng chuyên canh lúa
và
địa bàn thích hợp cho từng cây (cà phê với sản lượng 1,1 triệu
tấn, điều
600
ngàn tấn, hồ tiêu đạt sản lượng 120 ngàn tấn, cao su đạt sản
lượng mủ 1,5
triệu
tấn, chè búp tươi 1 triệu tấn) tập trung vào địa bàn Tây
Nguyên, Đông Nam
bộ,
Trung du miền Núi phía Bắc. Tại đây, phát triển
kinh tế trang trại và
doanh
nghiệp sản xuất lớn. Xây dựng cơ sở hạ tầng,
nhất là giao thông và thủy
lợi
phục vụ sản xuất thâm canh, hình thành
một số cụm công nghiệp và dịch
vụ
phục vụ sản xuất. Tại mỗi cụm, bố trí
các nhà máy chế biến, các nhà máy
công
nghiệp phụ trợ, các công trình
dịch vụ và hệ thống thương mại, tập trung
xây
dựng tại TP.HCM hệ thống
các sàn giao dịch cho các nông sản có lợi thế
trên.
-Bộ Nông nghiệp và PTNT tiến hành dự báo nhu cầu tiêu thụ sản phẩm
chăn
cứu xây dựng
chính sách để nhân rộng việc thuần hóa một số động vật hoang
dã
có khả
năng chăn nuôi và có nhu cầu trên thị
trường.
-Trên các diện tích lúa sản xuất kém hiệu quả tại các vùng đồng bằng
chính,
mạnh dạn chuyển đổi thành đồng cỏ thâm canh và trồng các loại
cây tinh
bột
làm thức ăn gia súc. Tại các vùng trung du, miền núi phát triển
cây có củ,
nhất
là khoai lang, làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Đầu tư
khoa học công
nghệ
tăng năng suất thức ăn chăn nuôi, giành một tỉ lệ thích
đáng sản phẩm thủy
sản
làm chất bổ sung protein cho thức ăn chăn nuôi.
19 / 28
Tiến hành khảo nghiệm
để
triển khai chính sách chấp nhận sản phẩm biến
đổi gen làm thức ăn chăn
nuôi.
-Tập trung phần lớn lực lượng thú y vào công tác đảm bảo công tác kiểm
dịch
tại
nhạy cảm về an ninh quốc phòng, đặc biệt ưu tiên
cho đầu tư của doanh
nghiệp
trong nước. Rà soát lại quỹ đất của các nông
lâm trường, đất trống đồi núi
trọc,
đất bãi bồi, tổ chức công tác thu hồi bồi
thường để tạo quỹ đất thu hút các
nhà
đầu
tư.
-Tập trung đầu tư phát triển rừng phòng hộ ở những vùng đầu nguồn nhạy
cảm
về môi trường tại Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung
Bộ;
rừng
phòng hộ ven biển ở các vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng,
Bắc Trung
Bộ,
Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long nhằm đảm bảo
duy trì cân bằng
sinh
thái, bảo vệ đất, môi trường nước và khí hậu, phòng
chống thiên tai và tác
động
của biến đổi khí hậu. Nhà nước cấp vốn và thực
hiện giám sát bằng hình
thức
đấu thầu cạnh tranh để các tổ chức thuộc
các thành phần kinh tế kể cả
gỗ
dọc theo các công trình giao thông, thủy lợi, trong đô thị, trong khu
dân cư
tại
các vùng đồng bằng và trung du. Xây dựng chính sách khuyến
khích nhân
dân
trồng phân tán cây lấy gỗ có giá
trị.
2.5. Phát triển thủy sản theo hướng tăng tỉ trọng của thủy sản
trong cơ
cấu
toàn
ngành
-Tiến hành quy hoạch và phân chia rõ quy mô tối đa, địa bàn hợp lý cho
từng
địa
phương ven biển phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ (chủ yếu
là tôm sú
và
tôm chân trắng) và nước mặn (cá biển, tôm hùm, bào ngư
v.v…). Xây
dựng
chương trình nghiên cứu để xác định công nghệ nuôi
trồng và sản xuất
giống
nuôi trồng trên biển theo hướng đầu tư thâm canh
tăng năng suất, tăng hiệu
quả,
đảm bảo vệ sinh an toàn và duy trì cân bằng
bảo chủ động
về
nguồn giống sạch bệnh, kiểm soát chặt chẽ chất lượng
giống, thức ăn,
môi
trường nuôi gắn với cơ sở sản xuất nuôi trồng thủy
sản, hiện đại hóa cơ sở
chế
biến và hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ tiếp thị
đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm.
-Xây dựng đội tàu hiện đại đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế đánh bắt biển xa
theo
hướng khai thác bền vững, kết hợp kinh tế - quốc phòng, kết hợp đánh
21 / 28
bắt
với
du lịch, phát triển kinh tế xã hội tại các vùng ven biển, hải đảo
v.v… bảo
vệ
nguồn lợi tự nhiên và cân bằng sinh thái môi
trường.
-Xây dựng và đưa vào họat động hệ thống khu bảo tồn biển và nội địa kết
hợp
với các mô hình quản lý có sự tham gia của cộng đồng. Xây dựng
lực
lượng
kiểm ngư mạnh để kết hợp bảo vệ nguồn lợi với bảo vệ ngư
dân và an
ninh
nâng cao giá
trị
gia tăng cho hàng nông
sản
Công nghiệp sản xuất vật tư đầu vào phục vụ nông
nghiệp
Nghiên cứu xác định hiệu quả cân đối giữa vật tư sản xuất trong nước với
vật
tư
cần nhập khẩu. Áp dụng chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài
nước
phát
triển ngành cơ khí sản xuất, sửa chữa máy móc nông nghiệp, tàu
thuyền phục
vụ
thủy sản. Đặc biệt ưu tiên hỗ trợ những ngành áp dụng
công nghệ cao, có tỷ
lệ
nội địa hóa cao, thu hút đầu tư trong nước, phù
hợp với điều kiện Việt
Nam.
Đặc biệt hỗ trợ cho các làng nghề, các hộ
chuyên ở nông thôn, tham gia tổ
chức
sản xuất và làm dịch vụ bảo dưỡng,
nâng cấp các công cụ sản xuất tại
địa phương.
-Đề ra chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển
công
nghiệp sản xuất sửa chữa máy móc nông nghiệp, chế biến thức ăn
Công khai
tiêu
chuẩn về kỹ thuật sử dụng, an toàn giao thông, bảo vệ môi
trường để tạo
điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhập khẩu máy móc
mà trong nước sản
xuất
không có hiệu
quả.
Công nghiệp chế biến sản phẩm đầu ra của ngành nông
nghiệp
-
Áp dụng chính sách ưu đãi đặc biệt (hỗ trợ tiền thuê đất, hỗ trợ đào tạo
lao
động, cho vay vốn ưu đãi, hỗ trợ nghiên cứu và ứng dụng công nghệ,
đơn
giản
hóa thủ tục, miễn giảm thuế doanh nghiệp ở mức cao nhất v.v…)
để thu hút
đầu
tư của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước phát
triển công nghiệp
chế
biến. Đặc biệt khuyến khích các ngành công nghiệp
chế biến tinh, chế biến
sâu,
áp dụng công nghệ hiện đại, làm ra các sản
phẩm có giá trị cao, mở ra
hướng
quản
lý
ngành hàng, đứng đầu là hội đồng ngành hàng, với đại diện của
các cơ
quan
quản lý nhà nước, doanh nghiệp và đơn vị sản xuất, nông dân.
Các cơ quan
này
sẽ đóng vai trò xây dựng chính sách, điều hành thị trường
và làm đối tác
chính
trong giao dịch với quốc
tế.
-
Hình thành hiệp hội ngành hàng để tổ chức các đại diện của các tác nhân
chính
trong mỗi ngành hàng (sản xuất, chế biến, kinh doanh, tiêu dùng
v.v ) gồm
cả
người sản xuất lớn lẫn người sản xuất nhỏ trong và ngoài
nước. Chuyển
giao
một số chức năng dịch vụ công của nhà nước cho các
23 / 28
hiệp hội (xúc tiến
thương
mại, khuyến nông, dự báo thị trường, tiêu chuẩn
chất lượng, xử lý tranh
chấp v.v ).
2.7. Nâng cao năng lực thể chế cho phát triển nông nghiệp nông
hộ
phát triển theo hướng gia trại, trang trại có quy mô phù
hợp, sản xuất hàng
hoá lớn.
-Ban hành chính sách đặc biệt ưu tiên khuyến khích phát triển kinh tế
hợp
tác
(vay vốn, đào tạo, thuê đất, ưu đãi kinh doanh trong một số lĩnh
vực) để
đảm
bảo tham gia hợp tác xã, hộ nông dân sẽ được hưởng những ưu
đãi hơn hẳn.
Hỗ
trợ kinh tế hợp tác về đào tạo cán bộ quản lý, lao động; tiếp
cận các nguồn
vốn,
trợ giúp kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, phát
triển thị trường, xúc
tiến
thương mại và các dự án phát triển nông thôn;
hợp tác xã phải làm tốt các
dịch
vụ đầu vào, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cho
nông
dân.
2.8. Các giải pháp về khoa học - công nghệ
-Xây dựng các ch
ư
ơng trình và thực hiện theo ch
ư
-Cụ thể hoá các chính sách hỗ trợ của Nhà
nước
đối với lĩnh vực nông nghiệp.
-Nâng cao năng lực trong việc phối hợp thực hiện hàng hoạt cách chính sách
của Nhà
nước
như các chính sách về đất đai, hỗ trợ vốn, hỗ trợ về khoa học-
kỹ thuật, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm đầu ra, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng…
-Đầu
tư
hơn nữa cho phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp
bền vững.
-Nhà
nước
cần tăng c
ư
ờng đầu
tư
cho nguồn nhân lực.
25 / 28