ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH học để PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP bền VỮNG ở VIỆT NAM - Pdf 24

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỂ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

Th.S ĐINH THỊ THU HƯƠNG
PHÓ PHÒNG THANH TRA - KHẢO THÍ - KĐCL

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Công nghệ sinh học là một lĩnh vực
công nghệ cao dựa trên nền tảng khoa học
về sự sống, kết hợp với quy trình và thiết
bị kỹ thuật nhằm tạo ra các công nghệ khai
thác các hoạt động sống của vi sinh vật, tế
bào thực vật và động vật để sản xuất ở quy
mô công nghiệp các sản phẩm sinh học có
chất lượng cao, phục vụ cho lợi ích, nhu
cầu của con người đồng thời phát triển
kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Qua
từng thời kỳ phát triển, công nghệ sinh học
chia thành 3 giai đoạn chính:
Công nghệ sinh học truyền thống:
chế biến các sản phẩm dân dã đã có từ lâu
đời như tương, chao, nước mắm theo
phương pháp truyền thống, xử lí đất đai,
phân bón để phục vụ nông nghiệp
Công nghệ sinh học cận đại: có sử
dụng công nghệ trong quá trình chế biến
sản phẩm như việc sử dụng các nồi lên
men công nghiệp để sản xuất ở quy mô lớn
các sản phẩm sinh hạt như mì chính, acid
amin, acid hữu cơ, chất kháng sinh,
vitamin, enzym.

chọn tạo giống mới có được một nền
sản xuất nông nghiệp ổn định cho 5 tỷ
tấn lương thực mỗi năm”. Các giống
cây trồng và vật nuôi lúc đó là kết quả
của một quá trình thuần hoá lâu dài và
chọn tạo giống kinh điển. Ngày nay,
với công nghệ thao tác gen, người ta
chỉ cần 20 năm để tăng gấp đôi sản
lượng lương thực với chất lượng cao
hơn rất nhiều.
Sau cuộc khủng hoảng lương thực
năm 2008, các nước đang phát triển đã có
nhiều chính sách mới để thúc đẩy sự phát
triển của cây trồng từ công nghệ sinh học
nhằm tạo ra sản lượng lương thực ổn định,
bền vững. Tính đến hết năm 2009, đã có
tới 14 triệu nông dân ở 25 quốc gia trên thế
giới trồng cây từ CNSH trên diện tích 134
triệu ha, tăng 7% so với năm 2008 và tăng
tới 80 lần so với năm 1996 – năm đầu tiên
cây trồng từ CNSH được thương mại hóa,
khiến CNSH trở thành công nghệ được
ứng dụng nhanh nhất trong lịch sử nông
nghiệp đương đại. Hiện có 32 nước cho
phép nhập khẩu và sử dụng cây CNSH
làm lương thực và thức ăn chăn nuôi, nâng
tổng số nước cho phép sử dụng CNSH trên
toàn thế giới lên tới 57 nước.
Hiện nay, Việt Nam đã có kế
hoạch tổng thể phát triển và ứng dụng

rầy nâu, 2 giống lúa thơm chất lượng cao,
2 giống chè có triển vọng về năng suất,
chất lượng, 8 giống bông kháng bệnh xanh
lùn Trong lĩnh vực chăn nuôi, các kết
quả nghiên cứu đã lựa chọn được môi
trường bảo quản tinh dịch dài ngày, cải
tiến được các quy trình công nghệ tạo phôi,
cấy truyền phôi, đông lạnh phôi lợn và bò
trong ống nghiệm. Việc sử dụng tinh nhân
tạo giúp bò trưởng thành tăng từ

180kg/con lên 250-300kg/con, tỷ lệ xẻ thịt
tăng 1,5 lần. Nông dân ở nhiều địa phương
còn ứng dụng CNSH trong ủ, chế biến
thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm để
tận dụng các phế phẩm nông nghiệp, giảm
chi phí đầu vào,…
CNSH đang phát triển trên cơ sở các
kỹ thuật mới mẻ: kỹ thuật di truyền; kỹ
thuật dung hợp tế bào; kỹ thuật phản ứng
sinh học (bao gồm kỹ thuật lên men, kỹ
thuật enzym, thiết bị phản ứng sinh học);
kỹ thuật nuôi cấy mô; kỹ thuật nuôi cấy tế
bào; kỹ thuật cấy chuyển phôi
(embryotransplan-tation); kỹ thuật cấy
chuyển nhân (nucleustransplan-tation)
v.v Những thành tựu này đang chuẩn bị
cho một cuộc cách mạng sinh học trong
các ngành kinh tế - kỹ thuật. Trong phạm
vi bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến

những dòng mới.
2. Kỹ thuật sinh học phân tử
Kỹ thuật sinh học phân tử có phạm
vi ứng dụng rộng rãi, cho phép chúng ta
phát hiện những độc hại trong quá trình
sản xuất, trong thức ăn hay trong hệ sinh
thái (trong đất, các nôi vi sinh ). Kỹ thuật
sinh học phân tử còn giúp cho việc chọn
lọc ở giai đoạn rất sớm từ phôi hay mầm
non của những cá thể mang những đặc tính
có lợi như giới tính, sức chống chịu bệnh,
sức kháng trong những điều kiện đặc biệt.
Chẳng hạn phôi của bê 6 ngày tuổi đã xác
định được là bê đực hay bê cái. Điều này
có ý nghĩa rất lớn đối với sản xuất nông
nghiệp.
Những "ống thăm dò phân tử"
cũng được dùng để xác định cấu trúc
của các tổ chức, các bộ phận, cho phép
tách rời được AND đặc thù của một bộ
phận hay một tính năng cụ thể, đánh giá

được chính xác chất lượng tinh dịch và
sự phát triển của phôi. Với kỹ thuật sinh
học phân tử người ta đã sản xuất ra được
chất kháng thể monoclinaux có tác dụng
rất đa dạng trong việc chẩn đoán. Vì vậy
ứng dụng đặc biệt nổi bật của sinh học
phân tử được thực hiện trong lĩnh vực
chẩn đoán (bệnh dịch cây trồng và gia

hạn gen cố định nitơ, gen kháng thuốc diệt
cỏ, gen kháng côn trùng, gen kháng
bệnh ) sẽ khiến cho cây trồng có được
những phẩm chất đặc biệt. Mới đây Mỹ đã
chế tạo được loại ngô kháng sâu bệnh do
từng tế bào của loại ngô này đã mang gen
sản sinh tinh thể diệt côn trùng của loài vi
khuẩn trừ sâu Bacillus thuringiensis.
Việc tạo ra cây khoai - cà
(pomato) nhờ quá trình dung hợp tế bào
của cây khoai tây với tế bào của cây cà
chua là một thành tựu độc đáo. Cây
khoai - cà mọc ra củ khoai tây ở bộ rễ
dưới đất và sinh ra quả cà chua ở trên
cây.
Cho đến nay gần 20 loại cây trồng
đã được nghiên cứu thay đổi mật mã di
truyền, trong đó thêm 20 loại cây đã đạt
được những lợi ích như các nhà tạo
giống mong muốn và được đưa ra sản
xuất.
Đối với chăn nuôi, kết quả có phần
hạn chế hơn do việc thực hiện khá tốn
kém và thời gian theo dõi rất dài. Tuy
vậy đã có trên 10 loài bao gồm bò, heo,
dê, cừu, thỏ, gà, cá được chú ý nghiên
cứu. Hướng nghiên cứu nhằm tạo ra
được những giống gia súc và vật nuôi có
sức đề kháng bệnh tật, có khả năng cải
thiện đáng kể về chất lượng của thịt, sữa

thay thế vào đó nhân của tế bào một con
bò có những đặc tính tốt được chọn lọc,
tạo ra được trứng thụ tinh có nhân mới.
Đến đây có thể đưa trở lại trứng này vào tử
cung của con bò bình thường để cho nó
mang thai và đẻ ra bê con có được những
đặc tính như các chuyên gia tạo giống
mong muốn.
III. KẾT LUẬN
Vấn đề đặt ra hiện nay đối với các
nhà sinh học nước ta là cần tích cực ứng
dụng những thành quả đã đạt được để phục
vụ đắc lực cho việc thực hiện những mục
tiêu phát triển nông nghiệp đến năm 2020,
góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Mặt
khác, chúng ta cần chuẩn bị mọi điều kiện
cần thiết để cùng các nhà khoa học thế giới
tiến vào đỉnh cao và thời kỳ phát triển rực
rỡ của CNSH trong những thập kỷ đầu tiên
của thế kỷ XXI.
Hướng tập trung nghiên cứu chọn
lọc về tính đa dạng sinh học của động, thực
vật để chủ động tạo được những giống cây
trồng, vật nuôi phù hợp với những vùng
sinh thái khác nhau, với hệ thống canh tác
và điều kiện chăn nuôi của từng nơi:
1. Tạo ra các cây trồng có khả năng tự
bảo vệ chống sâu hại, có sức đề kháng
với bệnh do nấm và vi sinh gây ra. Đây

và sử dụng đất đai một cách hài hòa, cân
đối.
+ Giảm bớt việc sử dụng thuốc trừ sâu
bệnh và phân hóa học, chú trọng lựa chọn
giống cây, con có sức kháng bệnh dịch đưa
vào hệ thống canh tác, chăn nuôi.
+ Giảm tối đa các chất phế thải nông
nghiệp, quản lý chặt chẽ và xử lý tốt
các chất thải nguy hiểm.
+ Phân hủy các loại bao bì đóng gói
bằng chất dẻo, lọc sạch nước thải, thu
hồi tái tạo các nguồn tài nguyên.
CNSH sẽ được ứng dụng phổ biến
trong những năm tới. Chúng ta sẵn sàng
chuẩn bị các điều kiện cần thiết để cùng
vững bước vào thời kỳ hoàng kim của
CNSH. Hy vọng Việt Nam chúng ta sẽ
có một số CNSH mới góp phần nâng
cao số lượng, chất lượng sản phẩm
lương thực, thực phẩm của chúng ta,
phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của con
người và được ưa chuộng trên thị
trường quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Thế Thông (1997), Công nghệ sinh
học với nông nghiệp, Khoa học phổ thông
2. Nguyễn Lân Dũng, (1997) Thế kỷ 21 -
Thế kỷ vàng của công nghệ sinh học, Khoa
học phổ thông
3. Nguyễn Ngọc Hải (2005), Công nghệ sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status