TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI: “ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỐNG BẮP NẾP, BẮP NÙ Ở TỈNH AN GIANG” - Pdf 11


TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: “ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
SINH HỌC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG GIỐNG BẮP NẾP, BẮP NÙ Ở
TỈNH AN GIANG”
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIỐNG BẮP NẾP, BẮP NÙ Ở TỈNH AN GIANG
Nguyễn Thị Lang
Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long
1. Đặt vấn đề
Cây bắp hay còn gọi là cây ngô (Zea mays) là cây lương thực quan trọng trong nền
kinh tế nông nghiệp của thế giới và Việt Nam. Ở Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL), bắp nếp và bắp nù được trồng nhiều ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ,
Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre,… Từ lâu, nó đã trở thành sản phẩm màu của

2.2. Phương pháp
DNA theo phương pháp của Lang 2002 và Lang ,2007
Các chỉ tiêu năng suất và thành phần năng suất theo tiêu chuẩn của Viện Tài
nguyên Quốc tế .
2.3. Phân tích kết quả PCR bằng phần mềm NTSYSpc 2.1 .
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả điều tra thu thập bắp nếp
Cây bắp được tiến hành điều tra thu thập ở các huyện thị của tỉnh An Giang trong
đó tập trung mạnh ở 3 huyện Chợ Mới, Phú Tân, An Phú. Trên 72% hộ nông dân
chuyên trồng bắp đều sử dụng các giống bắp lai F1 Hai Mũi Tên Đỏ của công ty
Syngenta, bắp lai F1 của công Ty Trang Nông, Bắp nếp của công ty Bảo Vệ Thực
Vật An Giang. Và chỉ có 28% còn sử dụng giống địa phương Nù Vàng, Nù Xanh,
Nếp Vàng, nếp Xanh… Nhưng các hộ điều tra điều cho rằng năng suất cao, chất
lượng tốt, nhưng dễ nhiễm sâu bệnh và dạng hình bị phân ly và đã thoái hóa dạng
hạt. Do đó trong các hộ gia đình ghi nhận có nhiều hộ trồng cả hai nhóm Nù và
Nếp. Một số gia đình trồng lẫn lộn giữa bắp Nù và Nếp. Các giống thu thập được
trồng tiếp tục để đánh giá và phân tích các chỉ tiêu nông học.
Nói chung, do giống được thu thập từ nhiều nguồn đem trồng lại nên đã có sự
phân ly rất cao thể hiện qua hình thái bên ngoài ghi nhận được. Phân loại theo hình
thái còn mang tính chủ quan chỉ để tham khảo bên cạnh những tính trạng số lượng.
Muốn có kết quả chính xác cần phải kiểm tra đến kiểu gen.
3.2. Đánh giá các tính trạng số lượng
Ngoài các đặc tính nông học về hình dạng, màu sắc và kích thước, thí nghiệm
ngoài đồng còn thu được một số chỉ tiêu về các tính trạng quyết định năng suất thể
hiện qua trồng các vụ khác nhau.
Hơn 100 mẫu giống nếp, nù thu thập trong ngân hàng gen nhưng tồn tại và lưu
giữ không nhiều. Tuy nhiên, giống gốc vẫn thường xuyên bảo quản và phục tráng
lại cho tỉnh tại Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long
Trong năm 2007 chúng tôi tiếp tục thu thập 100 dòng bắp nếp và bắp nù tại các
huyện của tỉnh An Giang để chọn lọc và đánh giá phục tráng giống bắp cho tỉnh

cho ra sơ đồ với dạng đỉnh sóng tương ứng với số cặp base của đoạn được phân
cắt bởi hai enzyme EcoRI. ACA/Mse 1 CAC và EcoRI/AAC/CAC.Kết quả phân
nhóm di truyền dựa vào kiểu gen cũng chia ra làm hai nhóm chính và 4 nhóm phụ.
Việc phân nhóm bằng phương pháp AFLP sẽ cho kết quả chính xác hơn phân
nhóm dựa trên các đặc tính hình thái. Dựa vào marker phân tử có thể đánh giá gián
tiếp sự hiện diện hay không hiện diện của gen chọn lọc nhờ marker mà không chịu
sự chi phối bởi ảnh hưởng của môi trường.Đánh giá nhờ marker phân tử có thể dự
đoán những cá thể có khả năng tạo ưu thế lai trong chọn tạo giống.
3.5. Phục tráng và chọn lọc cá thể
Từ 45 dòng Nù và 41 dòng Nếp được chọn lọc năm đầu chọn lại còn lại 9 giống
đặt tên lần lượt là : B 4 ,B10, B21, B35, B16, BN 40, BN 11, B36, B17 .
Hạt bắp cũng to nhỏ khác nhau do đó sự biến động trọng lượng 1090 hạt của các
dòng cũng thay đổi và biến động khá lớn. Chứng tỏ quần thể phân hóa trong tự
nhiên qua các năm rất biến động. Năng suất và thành phần giống bắp cũng khác
nhau (Bảng 1).
Bảng 1: Đặc tính năng suất và thành phần năng suất của các giống Bắp tại Viện
lúa ĐBSCL Vụ Đông Xuân 2007
Tên
giống
Hàng/trái

Hạt/trái
Hạt tới
chóp
P100 hạt
(g)
Trọng
lượng cùi
hạt
Năng

giống
Long Kiến-
CM
Hội An-
CM
Chợ Mới Phú Tân Viện lúa
B10 6.22 5 6.98 6.85 3.98
B35 5.12 5.25 4.08 6.12 4.08
BN40 9.25 7.45 7.02 9.25 4.02
B16 5.8 4.5 5.75 4.8 3.75
B22 5.25 4.67 5.97 3.85 3.97
BN11 6.1 5.08 5.03 4.1 4.03
B36 3.95 4.95 5.88 3.95 3.88
B17 5 5.9 5.87 3.7 3.87
ĐC 4.45 4.1 3.95 4.4 3.95
TB 5.68 5.21 5.61 5.22 3.95
CV% 5.64 5.13 5.05 4.23 5.98
LSD 5% 0.56 0.46 0.49 0.39 0.42
Hình 2: Đánh giá giống bắp tại Chợ Mới, An Giang
Theo 2 giống bắp BN40 trồng vùng Long Kiến và Phú Tân cho năng suất cao nhất
đạt được 9.25 tấn/ha, kế đến là Hội An là 7.45 tấn/ha, tiếp theo là Chợ Mới và cuối

3.8. Bảo quản ex-situ
- Tập đoàn căn bản: 100 mẫu giống (Hiện tại giữa ngân hàng gen của Viện lúa).
- Tập đoàn hoạt động: 7 mẫu giống, bảo quản ở nhiệt độ -5
o
C
- Tập đoàn công tác: 7 mẫu giống, bảo quản ở nhiệt độ 5-10
o
C
Số mẫu giống phải trồng lại hàng năm ở ruộng là 4 dòng đưa về tỉnh.
Đánh giá vật liệu theo 30 chỉ tiêu của Viện tài nguyên Quốc Tế
- Phần định tính: Chống chịu phèn, Chống chịu hạn
Bộ môn di truyền chọn giống (Viện lúa ĐBSCL) đã đánh giá các tính trạng nông
học, phẩm chất và sinh hóa…
4. Kết luận: Đề tài đã đạt được những kết quả chính sau đây:
- Kết quả đo đạt các chỉ tiêu ngoài đồng ruộng sau khi được xử lý trên excell và
phân tích bằng phần mềm SAS 9.0 biến động cao bởi vì ngoài sự kiểm soát của
kiểu gen, cây bắp còn chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường sống như khí hậu,
đất đai, mùa vụ, chế độ chăm sóc, côn trùng gây hại, nấm bệnh… Do đó, việc
phân nhóm di truyền dựa vào các đặc tính hình thái phân thành hai nhóm tại mức
tương đồng 21,22. Các quần thể trong cùng một nhóm thì không có sự đồng nhất
về kiểu hình.
Việc phân nhóm di truyền dựa vào các đặc tính hình thái và phân nhóm di truyền
dựa vào kết quả phân tích kiểu gen gần như độc lập nhau.
- Đã nghiên cứu các tính trạng phẩm chất và khả năng chống chịu sâu bệnh của
nguồn gen.
- Phục tráng được vài dòng bắp nếp và nù đưa vào sử dụng trong quần thể rất rộng
lớn.
- Đã tìm hiểu tình hình nguồn gen bắp của An Giang, đã chọn lọc được B10 và
BN40 cho tỉnh
- Đã tìm hiểu ảnh hưởng của môi trường điều kiện canh tác như thời vụ, tương tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status