Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ-Thực trạng và giải pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN QUỐC KHÁNH QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM – HOA KỲ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Ngƣời hƣớng dẫn: GS.TS. Nguyễn Thiết Sơn

Hà nội - 2005


THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM -
HOA KỲ 32
2.1. THỰC TRẠNG THƢƠNG MẠI HAI CHIỀU TỪ KHI HOA KỲ
BỎ CẤM VẬN ĐẾN TRƢỚC HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI VIỆT
NAM - HOA KỲ (1994 - 2001) 32
2.1.1. Thực trạng xuất khẩu hàng hoá thời kỳ 1994 - 2001 33
2.1.2. Thực trạng nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 1994 -2001 37
124

2.2. HIỆP ĐỊNH THƢƠNG MẠI SONG PHƢƠNG VIỆT NAM -
HOA KỲ VÀ QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ SAU
KHI CÓ HIỆP ĐỊNH 40
2.2.1. Tổng quan về Hiệp định thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ 40
2.2.2. Ý nghĩa sự ra đời Hiệp định thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ 44
2.2.3. Tình hình quan hệ thƣơng mại hai chiều sau Hiệp định thƣơng
mại 47
2.3. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ TRONG THỜI
GIAN QUA 55
2.3.1. Những đổi mới trong chính sách thƣơng mại quốc tế của Việt
Nam 55
2.3.2. Những nhân tố thúc đẩy từ phía Hoa Kỳ 59
2.4. VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG PHÁT TRIỂN
QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VỚI HOA KỲ 61
CHƢƠNG 3 67
TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƢƠNG
MẠI VIỆT NAM - HOA KỲ 67
3.1. TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI VIỆT
NAM -HOA KỲ 67
3.1.1. Những cơ hội thuận lợi để phát triển quan hệ thƣơng mại Việt

nước đã gia tăng mạnh mẽ, vượt ra khỏi biên giới quốc gia, liên kết trên một
chỉnh thể thị trường toàn cầu. Đồng thời với quá trình đó là sự hình thành và
hoàn thiện các định chế tổ chức kinh tế quốc tế tương thích nhằm quản lý và
điều hành các hoạt động kinh tế đã ngày càng lệ thuộc chặt chẽ giữa các quốc
gia và khu vực.
Với quan điểm chủ đạo của Đảng và Nhà nước ta là “đa phương hóa và
đa dạng hóa trên cơ sở công bằng lợi ích giữa các đối tác, tận dụng mọi
khả năng để tăng mức xuất khẩu trên tất cả các thị trường đã có, song song
với việc đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường có sức mua lớn nhưng hiện
còn chiếm tỷ trọng thấp, mở ra các thị trường mới và tích cực tăng cường tiếp
cận các thị trường cung ứng công nghệ nguồn” [10, P.III, M.II,C], thì Hoa Kỳ
đã trở thành một trong những trọng điểm quan trọng trong chiến lược phát
triển thương mại quốc tế của Việt Nam. Việc tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa
quan hệ hợp tác thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ là nhu cầu bức thiết nhằm đa
dạng hóa thị trường, thúc đẩy xuất khẩu hướng tới một thị trường có tính ổn
định cao, và tiếp cận nhập khẩu "công nghệ nguồn". Hơn nữa, Hoa Kỳ còn là
một trong những nhà đàm phán lớn cho việc Việt Nam gia nhập WTO.
Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là Hoa Kỳ và Việt Nam có quá nhiều
điểm khác biệt không chỉ về chế độ chính trị, mà cả kinh tế, ngoại giao, chính
sách thương mại Xét ở khía cạnh khác, trải qua 30 năm liên tục bị Hoa Kỳ
cấm vận đã làm cho thị trường Hoa Kỳ tuy hấp dẫn nhưng đầy mới mẻ, xa lạ
2

với Việt Nam. Hàng loạt chính sách, luật lệ phức tạp chưa được chúng ta
tìm hiểu, nắm bắt và cập nhật đầy đủ vì vậy các hoạt động kinh tế hai chiều
hàm chứa nhiều rủi ro.
Mặc dù vậy, vẫn phải khẳng định rằng kể từ khi bình thường hoá quan
hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ, quan hệ kinh tế, thương mại đã có bước
phát triển rất lớn, đặc biệt là sau khi Hiệp định thương mại song phương giữa
hai nước được ký kết vào cuối năm 2001. Hoa Kỳ cũng đã có những khoản

yếu, hoặc trong các báo cáo của một số tổ chức như STAR, USAID, WB,
IMF Ở trong nước, cũng đã có các công trình nghiên cứu vấn đề này,
nhưng chủ yếu nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ nói chung,
những sự chuẩn bị để đi đến ký kết Hiệp định thương mại song phương hoặc
đề cập một cách tổng quát về chính sách và thị trường Hoa Kỳ. Một số công
trình có đề cập tới quan hệ mậu dịch hàng hoá hai nước song phần lớn được
xem như là một yêu tố cấu thành trong nghiên cứu tổng thể quan hệ kinh tế.
Có thể nêu một số công trình như: "Hợp tác và đấu tranh trong quan hệ giữa
Việt Nam và Hoa Kỳ hiện nay"- Viện quan hệ quốc tế- Học viện chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, 1998, "Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ"- TS Đỗ
Đức Định- NXB Thế giới 2000, "Tiếp cận thị trường Hoa Kỳ" - Bộ Thương
mại"- 2003. Đề tài cấp Bộ, "Việt nam - Hoa Kỳ, Quan hệ thương mại và đầu
tư" - Nguyễn Thiết Sơn - NXB KHXH, 2004 v.v
Cho đến nay, chưa có nhiều công trình nhấn mạnh đến thực trạng quan
hệ thương mại hàng hoá giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sau khi Việt Nam và Hoa
Kỳ ký kết Hiệp định thương mại song phương và các giải pháp để phát triển
quan hệ này trong giai đoạn Việt Nam tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đặc
biệt từ cách tiếp cận của chuyên ngành kinh tế chính trị. 4 3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn hướng tới hai mục đích cơ bản sau:
- Thứ nhất, làm rõ tầm quan trọng của việc phát triển quan hệ thương
mại quốc tế nói chung và thương mại với Hoa Kỳ nói riêng trong bối cảnh
toàn cầu hoá và khu vực hoá trên cơ sở những điều kiện thực tế khách quan và
định hướng cơ bản của Đảng và Nhà nước ta.
- Thứ hai, nghiên cứu thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp,
thống kê, so sánh, phân loại và dự báo
6. Những đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ tầm quan trọng của sự phát triển quan hệ thương mại
giữa Việt Nam với Hoa Kỳ; phát hiện những nhân tố, những động lực thúc
đẩy, gắn kết nền kinh tế, thương mại Việt Nam hội nhập và phát triển cùng
với các nền kinh tế, thương mại trong khu vực và toàn thế giới.
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng quan hệ thương
mại Việt Nam - Hoa Kỳ, triển vọng của mối quan hệ này qua những cơ hội,
những tồn tại và thách thức.
- Trên cơ sở đó, cùng với những kinh nghiệm tham khảo từ một số
nước trong khu vực có phát triển quan hệ thương mại với Hoa Kỳ, xác định
những phương hướng và đưa ra những kiến nghị thích hợp nhằm phát triển
6

quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong xu hướng toàn cầu
hóa và khu vực hóa. 7. Kết cấu của luận văn
Tên luận văn: Quan hệ thƣơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Thực trạng
và Giải pháp
Bố cục luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo; nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Tầm quan trọng của quan hệ thƣơng mại với Hoa Kỳ
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Chƣơng 2: Thực trạng phát triển quan hệ thƣơng mại Việt Nam -
Hoa Kỳ.
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển quan hệ thƣơng

chung của nhân loại, nhiều sản phẩm hàng hoá và dịch vụ mang tính quốc tế
8

Tất cả những đặc trưng đó của thế giới hiện đại đã nảy sinh nhu cầu hợp
tác đa dạng nhiều chiều, ổn định và bền vững đối với mọi quốc gia trên thế
giới. Nền kinh tế của mỗi dân tộc được đặt trong mối quan hệ ràng buộc, phụ
thuộc với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là tham gia vào quá trình toàn cầu hoá
và khu vực hoá, tham gia vào hệ thống thương mại và tài chính quốc tế, hệ
thống phân công lao động quốc tế để phát huy tối đa lợi thế cá biệt; đồng thời
có cơ hội tận dụng các lợi thế khu vực, lợi thế từ bên ngoài. Mặt khác, chính
sự phân công lao động toàn cầu lại tạo ra một khuynh hướng cạnh tranh ngày
càng mạnh mẽ và khốc liệt. Sự cạnh tranh diễn ra trong mọi lĩnh vực, và đặc
biệt là trong các hoạt động kinh tế đối ngoại. Điều đó buộc mọi quốc gia dù
thuộc mô hình và trình độ phát triển nào, cũng phải cải cách và chuyển đổi
tích cực để trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế thế giới đang được
hình thành như một thể thống nhất. Thực tế đã cho thấy dù là một mô hình
kinh tế thị trường tự do với điển hình là Hoa Kỳ, hay mô hình thị trường xã
hội của các nước thành viên EU, hoặc mô hình thị trường hỗn hợp như Nhật
Bản thì cũng đang đều phải cải tổ lại một cách sâu sắc. Đồng thời, đây cũng là
thách thức lớn, buộc các nước đang phát triển phải có những đối sách thật phù
hợp, để không bị tuột dốc trong cuộc chiến kinh tế toàn cầu.
b. Khi đi sâu nghiên cứu về phân công lao động trong quá trình quốc tế
hoá đời sống kinh tế, chúng ta thấy sự phân công lao động quốc tế đang ngày
càng đi vào chiều sâu. Điều này là do có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
công nghệ và hệ thống các công ty đa quốc gia. Quá trình phân công theo
ngành và theo sản phẩm đang được chuyển dần sang phân công theo chi tiết
và từng công đoạn của quy trình công nghệ. Khác biệt về điều kiện tự nhiên
không còn đóng vai trò quyết định trong phân công lao động quốc tế nữa, mà
9


1
Các nước Nam: các nước đang phát triển, Các nước Bắc: các nước công nghiệp phát triển
10

Xét về sự phát triển cơ cấu ngành hàng, các ngành giàu hàm lượng
chất xám sẽ phát triển mạnh. Chu kỳ đổi mới công nghệ và sản phẩm được rút
ngắn, lợi thế so sánh của các quốc gia luôn thay đổi dẫn đến sự chuyển dịch
thường xuyên hơn về cơ cấu kinh tế. Đối tượng thương mại được mở rộng,
không chỉ bao gồm các sản phẩm hữu hình của nền sản xuất truyền thống mà
cả các sản phẩm vô hình như các sản phẩm dịch vụ, vốn và công nghệ; và các
sản phẩm của tri thức như quyền sở hữu trí tuệ và các sản phẩm khác.
Một đặc điểm đáng chú ý nữa trong quan hệ thương mại toàn cầu là sự
gia tăng mạnh của thương mại dịch vụ (vận tải, viễn thông, bảo hiểm, ngân
hàng ) so với thương mại hàng hoá. Điều này phản ánh sự thay đổi trong cơ
cấu tiêu dùng do ảnh hưởng của sự phát triển khoa học - công nghệ. Khái
niệm thương mại quốc tế hiện nay bao gồm sản phẩm "cứng", các Hiệp định
dịch vụ đi kèm và cả các sản phẩm trí tuệ hay còn gọi là các sản phẩm
"mềm".
e. Mặt khác, sự phát triển của khoa học và công nghệ sẽ còn tạo ra
những thay đổi căn bản về phương thức tiến hành thương mại trên phạm vi
toàn cầu. Mức độ phổ cập của mạng internet sẽ khiến tỷ trọng của thương mại
điện tử tăng rất nhanh và thông qua đó thay đổi một cách sâu sắc trong tư duy
kinh doanh, chiến lược tiếp thị cũng như phương thức kinh doanh của mọi
doanh nghiệp. Cùng với việc đem lại các cơ hội thị trường mới, thương mại
điện tử cũng sẽ làm cho quá trình cạnh tranh trở nên gay gắt hơn. Sự phát
triển đó đã, đang và sẽ làm suy giảm các lợi thế so sánh cổ điển như lợi thế tự
nhiên và giá lao động thấp mà lợi thế này hiện đang là một ưu thế quan trọng
của các nước đang phát triển. Thay vào đó là ưu thế so sánh của các nền kinh
tế dựa vào công nghệ tiên tiến và các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao.

12

thời nhấn mạnh chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, coi xuất
khẩu là hướng ưu tiên và trọng điểm trong kinh tế đối ngoại; khuyến khích
hoạt động hội nhập vào các tổ chức và diễn đàn khu vực, quốc tế với bước đi
thích hợp; khẳng định chính sách khuyến khích thu hút vốn đầu tư nước ngoài
với các hình thức thích hợp [21, tr. 90,94]
Cụ thể hoá tư tưởng trên, Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa VIII đã
đề ra những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho hoạt động kinh tế đối ngoại theo
hướng: “Tích cực, chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường thế giới”
[23,tr.3] thông qua các hoạt động:
1) Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho xuất khẩu, từ chính
sách tự do xuất khẩu đến hỗ trợ tài chính, thành lập các khu mậu dịch tự do,
khu chế xuất ;
2) Thực hiện nhất quán lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên
ngoài thông qua các hoạt động mở cửa thị trường trong nước, chính sách
khuyến khích tài chính và cải thiện môi trường đầu tư ;
3) Chủ động hội nhập vào các tổ chức khu vực và quốc tế thông qua
công tác chuẩn bị về tiềm lực cạnh tranh, về thể chế pháp lý và con người
Tư tưởng chủ đạo này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng IX.
Theo tinh thần đó ngày 27/11/2001, Tổng bí thư đã ký ban hành Nghị
quyết số 07-NQ/TW của Bộ chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế. Theo đó,
Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh
thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong vấn đề phát triển thương mại với các nước trên thế giới, Đảng và
Nhà nước chỉ đạo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau. Đổi mới và phát triển thương mại quốc tế trước
13


SNG và Đông Âu: 3 - 5%
Bắc Mỹ (chủ yếu là Hoa Kỳ): 15 - 20%
Australia và New Zealand: 5%
Trước mắt, định hướng phát triển thị trường của Việt Nam tập trung vào
những thị trường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch thương mại thế
giới- những thị trường chắc chắn ảnh hưởng đến quy mô và nhịp độ xuất nhập
khẩu của nước ta như: Hoa Kỳ, EU và một số nước Châu Á.
1.1.3. Hoa Kỳ và vị thế của Hoa Kỳ trong nền kinh tế, thƣơng mại thế
giới
1.1.3.1. Tiềm lực của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một quốc gia hùng mạnh cả về kinh tế, chính trị, quân sự,
khoa học công nghệ và tài chính Về tiềm lực kinh tế, kể từ 1991 cho đến
nay, liên tục GDP của Hoa Kỳ chiếm khoảng 30,0% GDP toàn cầu, với con
số tuyệt đối năm 2000 là 10.000 tỷ USD (GDP năm 2000 cả thế giới là 33.110
tỷ USD). Trong danh sách 500 công ty đa quốc gia lớn nhất hành tinh thì có
hơn 300 công ty mang quốc tịch Hoa Kỳ. Các chuyên gia kinh tế dự báo đến
năm 2020, Hoa Kỳ vẫn là siêu cường duy nhất trên thế giới. [51, tr.240, 385]
Bảng 1: Vị trí cuả Hoa Kỳ trong nền kinh tế thế giới (% trong GDP thế giới)

1971-1980
1981-1990
1991-2000
2000
Hoa Kỳ
16,8
19,4
28,4
30,6
EU
17,4

dùng, Hoa Kỳ nhập từ Châu Á cao hơn EU 70 - 80%.
Bảng 2: Thị phần của Hoa Kỳ trong mậu dịch thế giới
Đơn vị: %

1970
1980
1985
1990
2000
Xuất khẩu
Hoa Kỳ
15,2
11,6
11,8
11,8
9,8
EU
40,3
36,5
35,9
41,0
44,9
Châu Á- TBD
12,0
14,5
21,2
22,2
31,9
Nhập khẩu
Hoa Kỳ

Hoa Kỳ còn là nước có tiềm năng phát triển khoa học công nghệ rất cao
và là nước đầu tư lớn nhất cho khoa học và công nghệ. Ngày nay Hoa Kỳ
chiếm ưu thế nổi trội về khoa học, công nghệ cao và có đội ngũ hùng hậu các
nhà khoa học, mạnh cả về khoa học cơ bản cũng như khoa học ứng dụng.
Người Hoa Kỳ luôn luôn tự hào về năng lực kỹ thuật của mình, họ quan niệm
"chỉ với kỹ thuật sẽ làm cho Hoa Kỳ có thể làm được tất cả những gì trên
thế giới mà họ mong muốn và đảm bảo được lợi ích toàn cầu của Hoa Kỳ"
[53, tr.135]
Hiện tại, Hoa Kỳ đang tỏ ra tích cực trong việc đẩy mạnh quan hệ kinh
tế với các nước Châu Á. Hoa Kỳ không ngừng tăng cường ảnh hưởng ở các
nước Đông Dương, giành giật với các nước phát triển khác về thị trường đầu
tư tại những “mảnh đất hoang cuối cùng ở Châu Á”, hình thành một chiến
lược khai thác thị trường Châu Á cả bề rộng lẫn bề sâu và trên mọi hướng.
Hiện tại tỷ trọng buôn bán với các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
chiếm 40% tổng giao dịch ngoại thương của Hoa Kỳ và tạo ra 2,5 triệu công
17

ăn việc làm cho người dân của những nước này. Quan hệ mậu dịch của
Trung Quốc với Hoa Kỳ tăng theo cấp số nhân, buôn bán Hoa Kỳ - Nhật Bản
vẫn đứng đầu thế giới. Các nước ASEAN hiện là thị trường lớn thứ tư của
cường quốc này. Đã từ lâu Hoa Kỳ coi các nước ASEAN là một bên đối thoại
đồng thời là những bạn hàng quan trọng, một số nước đang là "đồng minh
chiến lược" trong khu vực của Hoa Kỳ.
Có thể nói, cho đến thời điểm hiện nay, việc thúc đẩy hợp tác kinh tế
với các nước Châu Á - Thái Bình Dương, giữ vững và không ngừng mở rộng
lợi ích kinh tế của Hoa Kỳ trong khu vực, từng bước xây dựng “cộng đồng
Châu Á - Thái Bình Dương” là mục tiêu của chiến lược kinh tế Châu Á - Thái
Bình Dương mới của Hoa Kỳ. Trên thực tế, từ nhiều năm nay buôn bán của
Châu Á với Hoa Kỳ đã lớn hơn là buôn bán của EU với Hoa Kỳ. Trước đây
chỉ có mình Nhật bản nay đã có thêm các nền kinh tế NICs, ASEAN và Trung

+ Thúc đẩy xuất khẩu bằng nhiều biện pháp khác nhau;
+ Ổn định đồng đôla, tăng cường sức mạnh của nó trên thị trường thế
giới.
Xét riêng trong khía cạnh nhập khẩu, mục đích của các chính sách của
Hoa Kỳ là phục vụ người tiêu dùng, phát triển các ngành kỹ thuật cao, từ đó
tối ưu hoá cơ cấu nền kinh tế. Cụ thể là đa dạng hoá nền kinh tế, làm tăng tính
năng động cho các ngành sản xuất, các doanh nghiệp của Hoa Kỳ, tăng cường
cơ hội cũng như phạm vi lựa chọn cho người tiêu dùng Hoa Kỳ; tăng sự cạnh
tranh giữa doanh nghiệp Hoa Kỳ với nước ngoài nhằm cải thiện công nghệ
quản lý và kỹ thuật, giảm giá bán cho người tiêu dùng; tạo đối trọng gây sức
ép để các nước mở cửa thị trường cho sản phẩm của Hoa Kỳ; đồng thời đây
cũng chính là công cụ gây áp lực trong quan hệ đối ngoại mà điển hình là biểu
hiện của sự trừng phạt hay trợ giúp kinh tế.
Trong quan hệ thương mại với các nước đang phát triển, Hoa Kỳ đã có
chính sách riêng với từng nhóm nước. Sự phân biệt đối xử của Hoa Kỳ đối
19

với các nhóm nước này thể hiện chủ yếu trong Danh bạ thuế quan HTS
3

hai cột của Hoa Kỳ (tương ứng với quan hệ bình thường hoặc chưa bình
thường của các nước với Hoa Kỳ). Theo cách nhìn nhận riêng của mình, Hoa
Kỳ chia các nước thành các nhóm ví dụ như: Nhóm T (kinh tế thị trường),
nhóm X (các nước XHCN cũ), nhóm Z (các nước bị Hoa Kỳ cấm vận) [7,
tr.6; 29, tr.65]
* Nhóm thứ 1- các nước đang phát triển là thành viên của WTO
Trong các ứng xử thương mại với các nước này, Hoa Kỳ thường dựa trên
cơ sở đạo luật thực hiện những cam kết của Vòng đàm phán thương mại đa
biên Uruguay. Ở đó quy định tất cả các nước là thành viên WTO có quan hệ
thương mại với Hoa Kỳ đều được hưởng Quy chế tối huệ quốc (MFN) hay

hội Hoa Kỳ đưa ra điều luật không tán thành miễn trừ của Tổng thống, thực
chất là để ép Trung Quốc phải đáp ứng những điều kiện về nhân quyền, ngoài
vấn đề tự do di cư. Nói chung, chế độ đối xử này có thể coi là một chế độ
thương mại bình thường có điều kiện, là những bước đi tuần tự tiến đến tư
cách là thành viên đầy đủ của WTO.
* Nhóm thứ 3 - những nước không được hưởng MFN
Đối với các nước thuộc nhóm này, nếu muốn được hưởng MFN của Hoa
Kỳ phải tuân thủ hai quy định cơ bản:
Thứ nhất, phải tuân thủ Điều khoản Jackson - Vanik yêu cầu các nước
không được từ chối hay hạn chế quyền, cơ hội di cư của công dân nước họ.
Thứ hai, phải ký kết Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ
Hiện tại các nước Cuba, Lào, Bắc Triều tiên, Afganistan, Serbia
Mongtenego là các nước thuộc nhóm này trong đối sách của Hoa Kỳ
Libia, Iran, Irac là những nước đã được hưởng MFN song vẫn bị Hoa Kỳ
cấm vận trong quan hệ thương mại bằng các đạo luật khác.
* Nhóm thứ tư - những nước được hưởng ưu đãi đặc biệt của Hoa Kỳ 4
Jackson - Vanik: - Điều luật sửa đổi Đạo luật Thương mại 1974 của Hoa kỳ - điều luật này từ chối dành đãi
ngộ tối huệ quốc đối với các nước có nền kinh tế phi thị trường nếu các nước này (a) từ chối quyền di cư đối
với công dân nước họ, (b) đánh thuế di cư cao hơn mức thuế danh nghĩa và (c) áp dụng mức thu cao hơn mức
danh nghĩa đối với công dân của họ muốn di cư. Tổng thống có thể miễn trừ điều khoản này nếu xác định
được điều khoản đã thúc đẩy đáng kể các quy định về di cư tự do, và nếu Tổng thống được đảm bảo rằng các
thông lệ về di cư của một nước sẽ dẫn đến mục tiêu đó. Điều luật này do thượng nghị sỹ Henry Jackson và hạ
nghị sỹ Charles Vanik đề xuất, ban đầu nhằm vào thực hiện với Liên xô cũ.
21

Một số nước mà Hoa Kỳ nhận thấy có tiềm năng được đối xử mức
thuế quan ưu đãi trên cơ sở đơn phương không yêu cầu có đi có lại. Tất nhiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status