ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ PHẠM THANH TUYỀN
THU HÚT FDI CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
CÁC NGÀNH DỊCH VỤ VIỆT NAM
THU HÚT FDI CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
CÁC NGÀNH DỊCH VỤ VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh Tế Thế Giới và Quan Hệ Kinh Tế Quốc Tế
Mã số : 60 31 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS TS. HÀ VĂN HỘI
Hà Nội – 2012LUẬN VĂN
quan điểm phát triển bền vững 47
2.3.1. Xét trên góc độ tính bền vững về kinh tế 47
2.3.2. Xét trên góc độ bền vững về xã hội 58
2.3.3. Xét trên góc độ bền vững về môi trường 69
CHƯƠNG 3.MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT DÒNG VỐN FDI GẮN VỚI
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC NGÀNH DỊCH VỤ VIỆT NAM 73
3.1. Triển vọng thu hút FDI vào khu vực dịch vụ Việt Nam trước xu thế phát
triển các ngành dịch vụ trên Thế giới 73
3.1.1. Xu hướng FDI vào ngành dịch vụ 73
3.1.2. Triển vọng thu hút FDI vào khu vực dịch vụ Việt Nam 74
3.2. Quan điểm và định hướng của Việt Nam về thu hút FDI cho phát triển
bền vững khu vực dịch vụ 77
3.3. Một số giải pháp thu hút FDI hướng tới phát triển bền vững khu vực
dịch vụ Việt Nam 80
3.3.1. Các giải pháp vĩ mô 80
3.3.2. Giải pháp đối với một số ngành dịch vụ điển hình 88
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Từ thực tiễn, trong những năm qua đã chứng minh sự đóng góp tích cực của khu vực FDI cho các mục
tiêu kinh tế, xã hội đề tài đã tiến hành nghiên cứu thực trạng FDI ở Việt Nam, tìm ra nguyên nhân vấn đề, tổng
hợp kinh nghiệm thu hút FDI của các nước đi trước và từ đó đề xuất những biện pháp nhằm thu hút FDI một cách
có hiệu quả.
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ. Hơn một phần ba tổng
sản phẩm trong nước được tạo ra bởi các dịch vụ. Lĩnh vực dịch vụ đem lại hiệu quả vô cùng to lớn cho xã hội ở
nhiều nước trên thế giới và khu vực
2
Tóm lại: do yêu cầu và mục đích khác nhau nên mặc dù đã có tương đối nhiều đề tài nghiên cứu,
đánh giá về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung và đầu tư nước ngoài trong một số ngành nói riêng,
một số bài viết đã đi sâu vào nghiên cứu về thu hút FDI và phát bền vững nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên
nghiên cứu thu hút FDI trên khía cạnh phát triển bền vững cho lĩnh vực dịch vụ, thì chưa có công trình nào
đề cập đến.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI cho phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam nói chung và
phát triển bền vững khu vực dịch vụ nói riêng trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Khái quát lý luận và thực tiễn về vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho phát triển bền
vững khu vực dịch vụ.
- Nghiên cứu và đánh tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vực dịch vụ, theo quan
điểm phát triển bền vững.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường thu hút FDInhằm phát triển bền vững khu vực dịch vụ Việt
Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho phát triển bền
vững khu vực dịch vụ của Việt Nam.
3
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Về nội dung
FDI được giới hạn xem xét trong một số ngành dịch vụ cụ thể như:ngành Du lịch; ngành Y tế; ngành
Theo Brundtland: “Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và
không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Nếu xét một cách riêng rẽ thì các nội dung và tiêu chí xác định sự phát triển các trụ cột của phát triển
bền vững bao gồm: Phát triển bền vững về kinh tế, Phát triển bền vững về xã hội,Phát triển bền vững về môi
trường
1.1.1.2 Lý thuyết về phát triển bền vững
Xét một cách riêng rẽ các trụ cột của PTBV thì vấn đề không có gì phức tạp. Tuy nhiên, tính phức
tạp ở đây được thể hiện ở chỗ các trụ cột của PTBV có mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau. Sự phát triển của trụ
cột này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trụ cột kia và như vậy sẽ phá vỡ tính hài hoà giữa chúng. Điều đó được thể
hiện qua Mô hình phát triển bền vững của Jacobs và Sadler (1990).
Theo mô hình này, phát triển bền vững là kết quả của các tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau
của ba hệ thống chủ yếu của thế giới: Hệ thống tự nhiên (bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên, các thành phần môi trường của trái đất); Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và phân phối sản phẩm);
Hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội).
1.1.2. Khái niệm và nội hàm của phát triển bền vững các ngành dịch vụ
Dựa trên lý thuyết về phát triển bền vững, theo đó, dịch vụ bền vững là sự duy trì nhịp độ tăng
trưởng dịch vụ cao và ổn định, chất lượng tăng trưởng dịch vụ ngày càng được nâng cao, góp phần tăng
trưởng và ổn định kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường.
Theo định nghĩa này, dịch vụ bền vững là sự kết hợp hài hòa hai nội dung.
Nội dung thứ nhất là duy trì nhịp độ tăng trưởng dịch vụ cao và ổn định, đảm bảo chất lượng tăng
trưởng được nâng cao.
Nội dung thứ hai là đảm bảo yêu cầu về sự hài hòa giữa các mặt của PTBV: kinh tế, xã hội, môi
trường, đó là ổn định kinh tế, ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân cư và cải
thiện môi trường sinh thái.
1.1.3. Quan hệ giữa FDI và phát triển bền vững khu vực dịch vụ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bổ sung một nguồn vốn hết sức quan trọng cho các ngành dịch vụ,
nó thúc đẩy tăng trưởng ngành dịch vụ, tạo việc làm cho nhiều lao động đang thất nghiệp, chuyển dịch cơ
cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhưng FDI vào khu vực dịch vụ cũng gây ra thiệt hại lớn như: đầu tư không đồng bộ, chỉ tập trung ở
một số ngành dịch vụ, ở một số khu vực kinh tế phát triển đã làm cho cơ cấu khu vực dịch vụ mất cân đối,
Trung Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động nhằm thu hút nguồn vốn đẩy mạnh phát triển kinh tế dịch
vụ. Đó là:
- Rà soát và điều chỉnh có nguyên tắc các văn bản liên quan đến phát triển các ngành dịch vụ, đặc
biệt là dịch vụ quan trọng, định hướng phát triển toàn bộ nền kinh tế cũng như của bản thân ngành dịch vụ.
- Mở cửa có lộ trình, thận trọng đối với các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ có độ nhạy cảm cao với
nền kinh tế.
- Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ trong nước, trên cơ sở tăng cường quản lý của Nhà nước,
gia tăng sức mạnh (nội lực) thực sự của ngành dịch vụ khi thực hiện mở cửa, hội nhập thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI).
1.3.1.2. Thu hút FDI trong lĩnh vực dịch vụ của Ấn Độ
Ấn Độ đã không chọn lao động giản đơn hay tài nguyên làm lợi thế so sánh của mình mà sử dụng tri
thức là chất “xúc tác”, chọn dịch vụ làm thế mạnh để phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, quốc gia này còn tập 6
trung vào việc đào tạo một lực lượng lao động kỹ thuật lớn với tay nghề cao đáp ứng tốt yêu cầu về trình độ
cũng như ngoại ngữ của các nước đầu tư vào Ấn Độ.
Chính phủ Ấn Độ đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi thu hút phát triển các ngành năng lượng sạch,
ngành công nghiệp xanh, ít cacbon. Bên cạnh đó, quốc gia này vẫn kiên quyết từ chối đối với những dự án
FDI gây hại tới môi trường. Ngoài ra, nước này còn ngưng cấp giấy phép hoạt động đối với các dự án không
đảm bảo tiêu chuẩn xử lý chất thải, tác động xấu tới môi trường.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra qua việc phân tích quá trình thu hút FDI trong lĩnh vực dịch vụ của
một số quốc gia trên Thế giới
- Mỗi quốc gia phải có định hướng thu hút FDI đối với lĩnh vực dịch vụ theo hướng phát triển bền
vững.
- Mỗi quốc gia cần xây dựng, đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho kinh tế dịch
vụ phát triển.
- Cần đào tạo, thu hút đội ngũ lao động tay nghề cao, có trình độ chuyên môn, thông thạo ngoại ngữ
đáp ứng yêu cầu do các nhà đầu tư nước ngoài đề ra.
- Chính phủ các nước phải nghiêm ngặt, chủ động trong công tác chọn lựa đối tác đầu tư, từ chối cấp
Từ năm 2000 đến nay, gần 9 tỷ USD vốn FDI đã giải ngân vào ngành du lịch Việt Nam. Lượng vốn
FDI này đã góp phần bù đắp cho sự thiếu hụt về vốn để phát triển ngành du lịch. Có thể nói, FDI đóng một
vai trò quan trọng, góp phần cải thiện đáng kể những mặt yếu kém của ngành trong giai đoạn đầu của quá
trình phát triển.
Hệ thống cơ sở lưu trú của Việt Nam không chỉ phong phú về số lượng mà chất lượng cũng ngày
càng được nâng cao. Hiện cả nước có 850 khách sạn được xếp hạng sao (chiếm 45% tổng khách sạn toàn
ngành), trong đó có khoảng 110 khách sạn được xếp hạng từ 3 đến 5 sao. Trong số này có 13 khách sạn 5
sao, 19 khách sạn 4 sao và 78 khách sạn 3 sao, hầy hết các khách sạn 4 sao, 5 sao đều thuộc về các doanh
nghiệp có vốn FDI.
2.2.2.2. Tình hình thu hút FDI vào ngành Y tế
Giai đoạn 2005 – 2011 vốn đăng ký vào ngành y tế đạt hơn 400 triệu USD, gần bằng tổng vốn đăng
ký của cả giai đoạn trước đó (1989 – 2005). Điều này cho thấy vốn FDI đầu tư vào ngành y tế của Việt Nam
không bị bỏ ngoài, mà cũng có đóng góp nhất định vào sự tăng trưởng vượt bậc về vốn FDI của cả nước.
Bên cạnh đó, vốn thực hiện trong ngành này luôn đạt mức cao (trên 60%) không chỉ xuất phát từ đặc thù của
ngành là vốn đi kèm với công nghệ, máy móc, mà còn thể hiện hiệu quả hoạt động thu hút FDI vào y tế.
Các dự án quy mô lớn ngày càng nhiều hơn, đặc biệt là các dự án xây dựng, kinh doanh bệnh viện,
dịch vụ y tế chất lượng cao.
2.2.2.3. Tình hình thu hút FDI vào ngành Giáo dục
Năm 2006, Việt Nam đã gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO), giáo dục Việt Nam bước đầu mở
cửa hội nhập, số dự án FDI vào giáo dục tăng lên. Năm 2007 là 13 dự án và năm 2008 là 15 dự án với tổng vốn đầu tư
lần lượt là 11,6 triệu USD và 90,4 triệu USD.
Kể từ ngày 1/1/2009, Việt Nam bắt đầu thực hiện cam kết GATS mở cửa khu vực giáo dục đại học tư thục.
Tuy nhiên số dự án trong năm 2009 chỉ dừng ở con số 8 dự án và tổng vốn đầu tư giảm xuống còn 28,9 triệu USD và
năm 2011 là 14 dự án với tổng vốn đầu tư là 7,76 triệu USD.
Nhìn chung, so với các ngành khác, vốn FDI vào lĩnh vực giáo dục vẫn là một con số nhỏ, quy mô đầu tư của
mỗi dự án này còn nhỏ, kéo theo tổng vốn đầu tư và tỷ trọng vốn đầu tư vào lĩnh vực này thấp. Lý do chính khiến tỷ
trọng vốn FDI vào giáo dục thấp hơn so với các ngành khác là do thị trường giáo dục Việt Nam vẫn chưa thực sự mở
đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
2.3. Đánh giá quá trình thu hút FDI vào lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam theo quan điểm phát triển bền
vững
- Trình độ công nghệ còn yếu kém và lạc hậu.
Trường hợp ngành y tế
Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ so với trước, nhưng vốn FDI đầu tư vào ngành y tế Việt Nam nhìn
chung còn ít cả về số lượng dự án và vốn đầu tư, tính đến tháng 7/2011, mới chỉ có 5 dự án được thu hút với
số vốn đăng ký 1.019.196.437 USD và số vớn thực hiện 221.909.016 USD. Điều này cho thấy, quy mô thu
hút được như vậy là còn rất nhỏ so với nhu cầu và tiềm năng thu hút của ngành, chủ yếu là do tính chất phúc
lợi xã hội của ngành nên Việt Nam thực hiện bảo hộ ngành này tương đối chặt và lâu và mới chỉ bắt đầu mở
rộng cửa đón các nhà đầu tư nước ngoài mấy năm trở lại đây.
2.3.2. Xét trên góc độ bền vững về xã hội
2.3.2.1. Những biểu hiện tích cực
Trường hợp ngành du lịch
Với thu nhập hơn 1,5 tỉ USD/năm, du lịch Việt Nam đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất
nước, tạo ra việc làm cho hơn 250.000 lao động trực tiếp và trên 450.000 lao động gián tiếp, chiếm khoảng
6% lao động trong cả nước. Mặt khác, thông qua việc tham gia vào các hoạt động du lịch, các cộng đồng dân
cư mà đặc biệt là người nghèo sẽ có nhiều cơ hội hơn để tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống, đồng thời góp
phần quan trọng vào công tác bảo tồn và gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống. .
Trường hợp ngành y tế
Tác động xã hội lớn nhất mà các dự án FDI trong ngành y tế mang lại đó là nâng cao chất lượng dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ và giải quyết một phần nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. 9
Ngoài ra, đội ngũ y bác sỹ làm việc cho các bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài cũng được nâng cao
trình độ thông qua các khoá đào tạo thêm ở nước ngoài; Nhờ đó, đội ngũ nhân lực y tế của Việt Nam không
ngừng phát triển về chất lượng và cả số lượng.
Trường hợp ngành giáo dục
- Các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Việt Nam, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ và tin học của người Việt Nam.
- Các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo môi trường cạnh tranh cho các cơ sở
giáo dục trong nước phát triển.
10
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Du lịch góp phần tích cực tu sửa phát triển cảnh quan đô thị,
cảnh quan tại các điểm du lịch như tu sửa nhà cửa thành những cơ sở du lịch mới, cải thiện môi trường cho
cả du khách và cư dân địa phương bằng cách gia tăng phương tiện vệ sinh công cộng, đường sá thông tin,
năng lượng, nhà cửa, xửa lý rác và nước thải được cải thiện, dịch vụ môi trường được cung cấp. Hạn chế các
lan truyền ô nhiễm cục bộ trong khu dân cư do các giải pháp hạ tầng, kỹ thuật đồng bộ được áp dụng.
2.3.2.2. Những biểu hiện thiếu bền vững về môi trường
Trường hợp ngành du lịch
Một số doanh nghiệp FDI chưa thực sự chú ý tới những biện pháp phòng ngừa ô nhiễm. Mặt khác,
quy mô và số lượng các khu du lịch tại Việt Nam ngày càng gia tăng, nhu cầu tăng trưởng kinh tế đòi hỏi
nhanh chóng mở rộng các khu du lịch, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và khai thác các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, đa dạng sinh học và tạo sức ép lớn lên môi trường. Trong khi đó, trình độ công nghệ và sản xuất
trong nước vẫn còn khá lạc hậu. Đây là thách thức lớn đối với hoạt động quản lý bảo vệ môi trường và sử
dụng tài nguyên nhằm giữ gìn và bảo tồn bền vững các di sản thiên nhiên và văn hoá của đất nước.
Trường hợp ngành y tế
Một vấn đề đáng lưu tâm khác đó là tình trạng rác thải y tế không được xử lý triệt để tại các bệnh
viện, các cơ sở sản xuất dược phẩm, thiết bị y tế có vốn đầu tư nước ngoài gây ô nhiễm môi trường, làm ảnh
hưởng đến sức khoẻ và sản xuất của người dân xung quanh.
CHƢƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT DÒNG VỐN FDI GẮN VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC
NGÀNH DỊCH VỤ VIỆT NAM
3.1. Triển vọng thu hút FDI vào khu vực dịch vụ Việt Nam trƣớc xu thế phát triển các ngành dịch vụ
trên Thế giới
3.1.1. Xu hƣớng FDI vào ngành dịch vụ
Xu hướng FDI vào ngành dịch vụ tăng nhanh xuất hiện từ những năm 1990 do các nhà cung cấp dịch
vụ tăng cường thiết lập sự “hiện diện thương mại” tại các thị trường nước ngoài.
Xu thế của các công ty cung ứng dịch vụ mở rộng đầu tư nước ngoài nhằm tăng doanh số khi thị
vào tài khoản quốc gia dưới hình thức là thuế và phí môi trường hay phí tài nguyên, các công cụ kinh tế này
hoạt động theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và nhằm hai mục đích chủ yếu đó là tăng nguồn
thu ngân sách cho chính phủ và khuyến khích người gây ô nhiễm giảm bớt lượng chất thải ra môi trường.
3.3.1.5. Quy định giới hạn ô nhiễm.
Nhà nước có thể sử dụng phương pháp ban hành các mức hạn ngạch ô nhiễm, quy định lượng khí
thải được thải ra môi trường đối với các doanh nghiệp. Công cụ được sử dụng là giấy phép xả thải. Giấy
phép này do nhà nước phát hành, số lượng phụ thuộc vào phạm vi tổng hạn mức phát thải cho phép.
3.3.1.6. Giải pháp trong quy trình đầu tư FDI.
Trong công tác lựa chọn đối tác thì sẽ phải tập trung vào chất lượng FDI theo hướng chọn lọc hơn
với trọng tâm là thu hút các dự án cơ sở hạ tầng, dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch và có khả
năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh, dự án có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cần phải
ưu tiên chọn những đối tác doanh nghiệp FDI từ những nước phát triển có tiêu chuẩn môi trường cao, nơi có
qui định chặt chẽ về công tác bảo vệ môi trường.
3.3.1.7. Giải pháp về xúc tiến đầu tư.
Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan xúc tiến đầu tư trong nước với bộ phận xúc tiến đầu tư của
Việt Nam tại nước ngoài và đưa công tác xúc tiến đi vào chuyên nghiệp, hiệu quả hơn. Cần đưa ra các hướng
dẫn giúp các địa phương hoàn chỉnh danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với mối quan tâm của các nhà đầu tư
nước ngoài và nhu cầu phát triển địa phương, đề nghị các địa phương nên chọn các dự án có tính khả thi cao
nhất, cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư.
3.3.2. Một số giải pháp thu hút FDI hƣớng tới phát triển bền vững trong một số ngành dịch vụ điển
hình
3.3.2.1. Giải pháp đối với ngành du lịch
a) Coi trọng công tác quy hoạch phát triển các dịch vụ du lịch – xây dựng kế hoạch thu hút vốn đầu
tư (FDI) và tổ chức quản lí giám sát.
b) Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách khuyến khích đầu tư vào du lịch.
c) Quản lý thống nhất chính sách thu hút vốn FDI vào dịch vụ du lịch. 12
d) Khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch.
Các địa phương muốn thực hiện tốt chức năng quản lý của mình cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa
các cơ sở ban ngành có liên quan (Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Y tế, Sở Tài nguyên Môi trường, Sở Lao động
thương binh và Xã hội, Sở tài chính…), trong đó phải quy định rõ trách nhiệm của từng đơn vị để làm tham
mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc theo dõi, quản lý, giám sát tình hình hoạt động của các cơ sở y
tế FDI.
iii) Về quản lý chất lượng và giá cả dược phẩm và dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Để bình ổn thị trường ngành y tế, đảm bảo lợi ích cho người dân, nhà nước cần ban hành các cơ chế
quản lý chất lượng và giá cả dược phẩm cũng như dịch vụ y tế. Các cơ chế này có thể được thực thi thông
qua hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật, thanh tra, kiểm tra, giám sát. 13
3.3.2.2. Giải pháp đối với ngành giáo dục
a) Cải thiện môi trường đầu tư để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực giáo
dục.
b) Về công tác hướng dẫn thủ tục, kêu gọi đầu tư vào các dự án giáo dục đào tạo.
c) Có biện pháp “che chắn” để bảo vệ và tăng tính cạnh tranh của giáo dục nước nhà.
d) Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động FDI trong giáo dục.
e) Thúc đẩy phát triển xã hội hóa giáo dục. KẾT LUẬN
Luận văn đã phân tích và làm sáng tỏ những khái niệm: về phát triển bền vững, phát triển bền vững
lĩnh vực dịch vụ. Luận văn cũng tìm hiểu quan hệ giữa FDI và phát triển bền vững lĩnh vực dịch vụ và chỉ ra
sự cần thiết phải thu hút FDI cho phát triển bền vững lĩnh vực dịch vụ. Bên cạnh đó, Luận văn cũng tiến
hành nghiên cứu kinh nghiệm thu hút đầu tư FDI để phát triển lĩnh vực dịch vụ của một số quốc gia có hoạt
động trong lĩnh vực dịch vụ phát triển, trên cơ sở đó rút ra một số bài học kinh nghiệm thiết thực trong quá
trình huy động các nguồn lực FDI để phát triển lĩnh vực dịch vụ Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích thực trạng thu hút FDI vào lĩnh vực dịch vụ Việt Nam, FDI vào một số ngành
dịch vụ điển hình, Luận văn đã đưa ra một bức tranh khái quát về tình hình thu hút FDI vào lĩnh vực dịch vụ