ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
TRẦN THỊ PHƢƠNG LAN
QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN
ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2006
HÀ NỘI - 2006 MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC
NGOÀI 5
1.1. Thuế và vai trò của nó trong nền kinh tế 5
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và các cách phân loại thuế 5
1.1.2. Vai trò của thuế trong nền kinh tế 11
1.2. Nội dung và yêu cầu của hoạt động quản lý thuế 15
1.2.1. Khái niệm quản lý thuế 15
1.2.2. Nội dung của công tác quản lý thuế 16
1.2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý
thuế 22
1.2.4. Yêu cầu của công tác quản lý thuế 25
1.2.5. Một số vấn đề phát sinh trong việc quản lý thuế 28
1.3. Đặc điểm của hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài và tác động của nó đến
công tác quản lý thuế 30
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH
TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT
NAM 36
2.1. Chính sách thuế áp dụng đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc
3.1.1. Định hƣớng về chính sách
thuế 81
3.1.2. Định hƣớng về quản lý thuế 83
3.2. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối
với khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài 85
3.2.1. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế 85
3.2.2. Cải cách cơ chế quản lý thuế theo hƣớng hiện đại hoá toàn diện công
tác quản lý thuế 91
3.2.2.1. Ban hành Luật quản lý thuế 91
3.2.2.2. Áp dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý thuế 93
3.2.2.3. Tăng cƣờng thực hiện tuyên truyền, giáo dục về
thuế 95
3.2.2.4. Đổi mới công tác thanh tra và kiểm tra thuế 97
3.2.2.5. Tăng cƣờng công tác thu nợ và cƣỡng chế thuế 99
3.2.2.6. Xây dựng đội ngũ cán bộ thuế có năng lực và trình độ chuyên môn
cao 101
3.2.3. Các giải pháp khác 102
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 112
DANH MỤC VIẾT TẮT APEC
: Hiệp ƣớc chung về thuế quan và mậu dịch (General Argreement on
Tariffs and Trade)
: Giá trị gia tăng
: Đầu tƣ nƣớc ngoài gián tiếp (Facilitating Foreign Investment)
: Hỗ trợ phát triển chính thức (Offical Development Assisstance)
: Viết tắt của Hội đồng tƣơng trợ kinh tế các nƣớc XHCN (trƣớc đây)
: Thu nhập cá nhân
: Các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations)
: Thu nhập doanh nghiệp
: Tiêu thụ đặc biệt
: Xuất nhập khẩu
: Tổ chức thƣơng mại thế giới (World Trade Organization)
danh mục bảng và hình
Trang
BNG 2.1: TèNH HèNH N NG THU CA MT S DOANH NGHIP
Cể VN U T NC NGOI THUC CC THU H
NI QUN Lí.
BNG 2.2: T TRNG STHU T KHU VC KINH T Cể VN U
T NC NGOI TRONG TNG S THU T NI A.
BNG 2.3: C CU NGUN THU THEO TNG SC THU TRONG
TNG THU T KHU VC KINH T Cể VN U T
NC NGOI .
HèNH 2.1: kết quả thu các loại thuế từ khu vực kinh tế có
diễn biến phức tạp. Do đó, công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài là nhiệm vụ chính trị quan trọng bởi vì hiệu quả quản lý thuế cao hay
thấp sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế quốc gia.
Trong những năm qua, công tác quản lý thuế đối với khu kinh tế có vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài ở Việt Nam tuy đạt đƣợc nhiều kết quả đáng khích lệ nhƣ cải thiện đƣợc
số thu cho ngân sách quốc gia, góp phần tạo dựng nên môi trƣờng đầu tƣ nƣớc
ngoài hấp đẫn song công tác quản lý thuế đối với khu vực này vẫn còn nhiều tồn tại
và hạn chế xuất phát từ khâu xây dựng chính sách quản lý thuế cho đến khâu triển
khai thực hiện chính sách quản lý đó. Việc nghiên cứu thực trạng quản lý thuế cho
thấy nguyên nhân của những tồn tại hạn chế đó là do: một mặt chính sách thuế áp
dụng đối với khu vực kinh tế này vẫn chứa đựng nhiều sự bất ổn định, thiếu đồng
bộ và chƣa phù hợp với thông lệ quốc tế mặt khác cơ chế quản lý thuế hiện đang áp
dụng còn chứa đựng nhiều bất cập về cách thức quản lý, công nghệ quản lý và con
ngƣời quản lý nên đẫn đến tình trạng trốn thuế, tránh thuế và nợ đọng thuế vẫn còn
xảy ra. Từ thực trạng quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
nhƣ vậy thì việc tăng cƣờng quản lý thuế đối với khu vực kinh tế này là hết sức cần
thiết. Về mặt chủ quan, việc tăng cƣờng quản lý thuế xuất phát từ yêu cầu đảm bảo
nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc, đảm bảo thực hiện công bằng cho các doanh
nghiệp và góp phần tăng cƣờng quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc đối với khu vực kinh tế
có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Về mặt khách quan, việc tăng cƣờng quản lý đƣợc xuất
phát từ tình hình phát triển kinh tế - xã hội nƣớc nhà trong thời gian qua và những
năm tới đang trong quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Vì vậy, các
giải pháp quản lý thuế đối với khu vực kinh tế này đƣợc đƣa ra trong luận văn là
những giải pháp cơ bản và mang tính chiến lƣợc dài hạn. Những biện pháp đó là:
tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế nhƣ ban hành các loại thuế mới, sửa
đổi, bổ sung các loại thuế hiện hành; cải cách cơ chế quản lý thuế hiện hành nhƣ
việc cần ban hành Luật quản lý thuế, áp dụng công nghệ thông tin hiện đại vào việc
4. Nguyễn Thị Diễm Châu, Nguyễn Ngọc Thanh và Phan Hiển Minh ( 1996),
Cơ chế tài chính các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu Tài chính, Hà Nội.
5. Malcolm Gillis, Dwight H. Perkin, Michel Roemer, Dorald R. Snodgrass
(1990), Kinh tế học của sự phát triển, Viện nghiên cứu quản lý Trung ƣơng
- Trung tâm thông tin tƣ liệu, Hà Nội.
6. Phùng Xuân Nhạ (2001), Đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản Đại học quốc gia,
Hà Nội.
7. Joseph. E. Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng, Nhà xuất bản Khoa học
và kỹ thuật, Hà Nội.
8. Nguyễn Ngọc Thanh (1998), Cơ chế kiểm tra và giám sát tài chính đối với
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ, Viện nghiên cứu Tài chính, Hà Nội.
và các Báo cáo kết quả thu các loại thuế từ khu vực các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài của Tổng Cục thuế hàng năm từ 1999 đến 2003, các
số Tạp chí Thuế Nhà nước ra năm 2003, 2004 cùng các tài liệu tham khảo
khác. PHỤ LỤC
ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI ĐƢỢC CẤP PHÉP
GIAI ĐOẠN 1998 - 2004
SỐ DỰ ÁN
TỔNG VỐN ĐĂNG KÝ
( TriÖu ®« la Mü)
T.đó: VỐN PHÁP ĐỊNH
( TriÖu ®« la Mü)
Tổng số
6.164
1993
274
2.589,0
1.468,5
1994
367
3.746,0
1.899,0
1995
408
6.848,0
3.157,0
1996-2000
1.730
21.597,2
9.978,7
1996
387
8.979,0
3.280,0
1997
358
4.894,2
2.404,4
1998
285
4.138,0
1.976,0
1999
311
1 MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Đƣờng lối đổi mới của Đảng luôn khẳng định khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta, đƣợc khuyến khích phát triển lâu dài. Thu hút
đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là chủ trƣơng quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc
nhằm góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nƣớc, mở rộng hợp tác
kinh tế quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
phát triển đất nƣớc. Vì vậy hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài luôn đƣợc Chính phủ
Việt Nam dành nhiều ƣu đãi, một trong những lĩnh vực đƣợc dành nhiều ƣu đãi
phải kể đến là lĩnh vực thuế.
Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp nói chung và quản lý thuế đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nói riêng là một nội dung rất quan trọng
của quản lý nhà nƣớc về mặt kinh tế. Công tác quản lý thuế trong nền kinh tế
quốc dân nhằm đạt đƣợc các mục tiêu cơ bản là đảm bảo huy động đầy đủ, kịp
thời số thu cho ngân sách nhà nƣớc; phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nền
kinh tế và tăng cƣờng ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân
cƣ.
Do quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài có nhiều
biến động của hoạt động ngân sách quốc gia trong việc đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế xã hội; trình độ phát triển và đặc trƣng của nền kinh tế; đánh giá
việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của các hệ thống thuế từng thời kỳ.
Ở Việt Nam, Chƣơng trình cải cách thuế hiện nay đang là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lƣợc tài chính giai đoạn 2001-2010 của nƣớc ta.
Chính vì vậy đã có không ít đề tài nghiên cứu xoay quanh vấn đề cải cách thuế ở
Việt Nam do các chuyên gia trong ngành tài chính thực hiện. Đã có không ít bài
báo đăng trên các tạp chí khoa học tranh luận về vấn đề thuế song đó chỉ là
những nghiên cứu riêng rẽ, chỉ mới đề cập đến từng sắc thuế. Gần đây nhất, ngày
18/3/2004, đề tài khoa học cấp Bộ mang mã số B2001.38.14 "Giải pháp hoàn
thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay" do TS. Nguyễn
Thị Bất làm chủ nhiệm đã đƣợc nghiệm thu. Công trình nghiên cứu này đƣợc
đánh giá là có ý nghĩa thực tiễn cao vì nó đóng góp nhiều ý kiến cụ thể cho công
tác hoạch định chính sách của ngành thuế Việt Nam trong giai đoạn tới. Tuy
nhiên việc nghiên cứu cụ thể về vấn đề Quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có
3 vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam còn là hƣớng nghiên cứu rất mới mẻ chƣa
đƣợc thể hiện trong các công trình nghiên cứu khoa học dài hơi. Vì vậy, đề tài
nghiên cứu của luận văn sẽ góp một phần nhỏ vào việc giải quyết vấn đề trên.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản
lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN:
- Phân tích rõ thực trạng công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có
vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam nhằm chỉ ra đƣợc những vấn đề cần giải
quyết trong lĩnh vực này.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN:
Bố cục của luận văn đƣợc sắp xếp nhƣ sau:
Chƣơng 1 : Một số vấn đề chung về thuế và quản lý thuế đối với khu vực kinh tế
có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với khu vực kinh tế có vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam.
Chƣơng 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với khu
vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam.
5 CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI
KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI
1.1. THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và các cách phân loại thuế
* Khái niệm
C.L.Bryu trong cuốn Economic của mình thì cho rằng: thuế là một khoản chuyển
giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công
ty và các gia đình cho Chính phủ mà trong sự trao đổi đó họ không nhận đƣợc
một cách trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền
phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật. Có thể nói định nghĩa về
thuế của hai nhà kinh tế Mỹ đã lột tả đƣợc tính đặc thù cơ bản của thuế.
Định nghĩa chính xác về thuế thực sự còn đang đƣợc các nhà nghiên cứu tài
chính ở Việt Nam bàn thảo. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu tài chính của
Việt Nam, trong khái niệm về thuế cần phải nêu đƣợc các khía cạnh sau:
- Nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi mối quan hệ tiền tệ giữa
Nhà nƣớc với ngƣời nộp thuế.
- Mối quan hệ này đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội
đặc biệt, trong đó việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc theo mệnh lệnh của
Nhà nƣớc và đƣợc quy định bằng pháp luật đối với mức thu và thời gian thu.
Với cách hiểu nhƣ trên thì thuế có thể đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các thể nhân và pháp
nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời gian được pháp luật ấn định. Khoản
chuyển giao thu nhập này nhằm phục vụ cho mục tiêu công cộng, không được sử
dụng cho mục tiêu cá nhân.
* Đặc điểm cơ bản của thuế
Từ định nghĩa trên và kết hợp với sự phát triển của thuế trong đời sống kinh
tế-xã hội cho thấy thuế có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc
Đặc điểm này biểu hiện hai khía cạnh của thuế:
Một là, về bản chất nguồn hình thành nên khoản thuế là thu nhập do hoạt
động kinh tế của các thể nhân và pháp nhân tạo ra. Hệ thống thuế của các quốc
gia bao gồm nhiều loại thuế, sắc thuế và mỗi loại có chức năng điều chỉnh khác
ngành, từng lĩnh vực không đòi hỏi buộc phải trả lại đúng bằng số đã nộp thuế
khi Nhà nƣớc tiến hành biện pháp cấp phát, hỗ trợ. Tính không hoàn trả trực tiếp
là một đặc điểm để phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của
Nhà nƣớc.
8 Thuế là khoản thu nhập của Nhà nước chịu ảnh hưởng trực tiếp của các
yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội của một quốc gia
Thuế là hình thức động viên thu nhập do hoạt động kinh tế của các thể nhân
và pháp nhân tạo ra. Do đó, một nền kinh tế có năng suất và hiệu quả thấp thì
nguồn thu thuế mà Nhà nƣớc có thể huy động đƣợc cũng thấp. Mặt khác, thuế có
quan hệ chặt chẽ với lợi ích của các tầng lớp dân cƣ. Vấn đề lợi ích vật chất là
vấn đề nhạy cảm với vấn đề chính trị - xã hội. Vì lý do đó mà thuế là yếu tố chịu
sự chi phối bởi các vấn đề chính trị - xã hội của quốc gia.
Thuế được pháp luật hoá ở mức cao nhất
Thuế là một phạm trù tài chính có nội dung kinh tế, chính trị quan trọng,
gắn chặt với lợi ích vật chất của các tầng lớp dân cƣ. Do dó, Nhà nƣớc không thể
lạm dụng quyền hành một cách tuỳ tiện trong việc thu thuế. Việc thu thuế của
Nhà nƣớc phải đƣợc các tầng lớp dân cƣ thừa nhận thông qua ngƣời đại diện cao
nhất của mình là quốc hội. Quốc hội xác lập quyền thu thuế của Chính phủ bằng
hệ thống luật lệ.
Thuế thể hiện tính quyền lực của quốc gia
Tính quyền lực quốc gia của thuế thể hiện việc thu thuế thuộc chủ quyền
đến khả năng thu nhập của ngƣời nộp thuế. Do đó loại thuế này có ƣu điểm
lớn là điều hoà thu nhập, giảm bớt chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các
tầng lớp dân cƣ - một "khuyết tật" của nền kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên loại
thuế trực thu có nhƣợc điểm là gây ra những phản ứng mạnh từ phía ngƣời
nộp thuế mỗi khi Chính phủ có sự điều chỉnh thuế, dễ xảy ra tình trạng trốn
lậu thuế. Mặt khác loại thuế này có diện thu thuế khá rộng và phân tán làm
cho việc tính toán và theo dõi thu thuế phức tạp tạo nên gánh nặng quản lý
thuế.
Ở Việt Nam loại thuế trực thu bao gồm các sắc thuế sau: Thuế thu nhập
đối với ngƣời có thu nhập cao (thuế thu nhập cá nhân), thuế thu nhập doanh
nghiệp (thuế lợi tức doanh nghiệp), thuế tài nguyên, thuế nhà đất, thuế sử
dụng đất nông nghiệp
- Thuế gián thu: Là loại thuế không đánh trực tiếp vào thu nhập và tài sản
của ngƣời nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá và
dịch vụ. Khi bị đánh thuế, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ thay đổi. Điều này
khiến cho ngƣời nộp thuế có thể dịch chuyển (một phần hay toàn bộ) gánh
nặng thuế sang cho ngƣời khác.
10 Đƣợc "che đậy" trong giá bán hàng hoá nên thuế gián thu ít gây ra những
phản ứng từ phía ngƣời chịu thuế mỗi khi Chính phủ quyết định tăng thuế.
Thuế gián thu mang lại nguồn thu thƣờng xuyên và tƣơng đối ổn định cho
ngân sách Nhà nƣớc vì trong điều kiện nào thì tiêu dùng cũng vẫn diễn ra và
11 gồm các sắc thuế nhƣ: thuế doanh thu(cũ), thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ
đặc biệt.
- Thuế tài sản : Là loại thuế đánh vào việc nắm giữ hay chuyển nhƣợng tài
sản nhƣ thuế tài sản ở một số nƣớc trên thế giới hay thuế trƣớc bạ, thuế
chuyển quyền sử dụng đất hoặc thuế sử dụng vốn ở nƣớc ta.
Ngoài hai cách phân loại theo hai tiêu thức ở trên còn có nhiều cách phân
loại khác chẳng hạn nhƣ phân loại thuế theo tính chất thuế suất mà sắc thuế đó
áp dụng (bao gồm : thuế luỹ tiến, thuế tỷ lệ, thuế luỹ thoái)
Tóm lại, trong thực tế có nhiều tiêu thức phân loại thuế và tuỳ theo yêu cầu
quản lý ở mỗi nƣớc mà có sự lựa chọn, áp dụng khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay
ở nhiều nƣớc, để phân loại thuế ngƣời ta chủ yếu dựa vào hai tiêu thức là:
phƣơng pháp đánh thuế và cơ sở đánh thuế. Xuất phát từ năng lực quản lý và
tâm lý chung của xã hội mà hệ thống thuế ở mỗi nƣớc chú ý đến tầm quan trọng
của từng loại thuế khác nhau. Ở các nƣớc phát triển ngƣời ta thƣờng quan tâm
đến hệ thống thuế thu nhập nhất là thuế thu nhập cá nhân bởi thuế thu nhập cá
nhân đƣợc xem là có các tác động tích cực nhƣ: tạo ra nguồn thu lớn, cải thiện
đƣợc việc phân phối thu nhập, có khả năng làm ổn định thu nhập và giá cả, ngăn
ngừa sự phân bố nguồn lực kém hiệu quả do việc lạm dụng thuế gián thu. Đối
với các nƣớc đang phát triển hoặc kém phát triển thì thuế thu nhập ít đƣợc coi
trọng hơn vì việc thu thuế này thƣờng gặp nhiều khó khăn do thu nhập của đại
bộ phận dân cƣ còn thấp, các giao dịch tiền tệ khó kiểm soát, trình độ học vấn và
ý thức pháp luật của ngƣời dân còn hạn chế, chế độ báo cáo, kiểm toán tài chính
chƣa đảm bảo tính trung thực Do đó, ở các nƣớc đang phát triển và kém phát
triển có xu hƣớng chung là coi trọng thuế gián thu hơn là các loại thuế trực thu.
1.1.2. Vai trò của thuế trong nền kinh tế
1.1.2.1. Thuế là nguồn thu chủ yếu vào ngân sách nhà nƣớc
Ngay từ khi ra đời, bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nƣớc đã đặt ra
thấp thì dẫn đến nguồn lực xã hội tập trung vào tay Nhà nƣớc bị thiếu hụt, do đó
Nhà nƣớc không có đủ nguồn lực để thực hiện các chƣơng trình chi tiêu công
cộng cần thiết. Chính vì vậy, trong việc tập trung, điều động thu nhập vào ngân
sách thì công tác đánh giá đúng khả năng thu thuế của quốc gia phải đƣợc chú
trọng.
1.1.2.2.Thuế là công cụ điều tiết kinh tế của Nhà nƣớc
Thuế tham gia vào điều tiết kinh tế vĩ mô - đây là vai trò đặc biệt quan
trọng của thuế trong nền kinh tế thị trƣờng.
13 Khác với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trong nền kinh tế thị trƣờng,
Nhà nƣớc không trực tiếp can thiệp vào các hoạt động kinh tế, xã hội bằng các
mệnh lệnh hành chính mà thay vào đó Nhà nƣớc thực hiện điều tiết nền kinh tế ở
tầm vĩ mô. Tức là Nhà nƣớc chỉ đƣa ra các chuẩn mực mang tính định hƣớng
trên phạm vi diện rộng và bằng các công cụ đòn bẩy để hƣớng các hoạt động xã
hội đi theo, nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đề ra, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt
động kinh tế-xã hội thực hiện trong khuôn khổ luật pháp.
Điều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thƣờng xuyên mà Nhà
nƣớc phải thực hiện trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng. Thông qua các quy
định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tƣợng nộp thuế, thuế
suất, miễn giảm thuế Nhà nƣớc chủ động phát huy vai trò điều tiết đối với nền
kinh tế. Vai trò này của thuế đƣợc thể hiện ở chỗ thuế là công cụ tác động đến tƣ
duy đầu tƣ, hành vi đầu tƣ của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của dân