Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước của Thành phố Hà Nội - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_________________________

LÊ TOÀN THẮNG
QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ VĂN LƯƠNG
HÀ NỘI - 2012

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ
XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 5
1.1. Một số vấn đề chung về quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách nhà nước 5
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.2. Đặc điểm, phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách
Nhà nước 9
1.1.3. Sự cần thiết phải quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách Nhà nước 14
1.2. Những yếu tố và nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách nhà nước 20
1.2.1. Các yếu tố của quá trình quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách Nhà nước 20
1.2.2. Nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà
nước 22
1.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc và Canada về quản lý vốn đầu tư xây

ngân sách Nhà nước của Thành phố Hà Nội 72
3.1.2. Quan điểm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà
nước của Thành phố Hà Nội 78
3.1.3. Phương hướng hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách Nhà nước của Thành phố Hà Nội 79
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách
nhà nước của Thành phố Hà Nội 80
3.2.1. Nhóm giải pháp về phía Thành phố Hà Nội 80
3.2.2. Nhóm giải pháp về phía Nhà nước Trung ương 90
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1: Phân loại dự án đầu tư xây dựng cơ bản 11
Bảng 2.1: Tình hình thực hiện đầu tư XDCB trên địa bàn Hà Nội giai đoạn
2003 - 2006 60
Biểu đồ 2.1: Vốn đầu tư XDCB từ NSNN trong giai đoạn (2003 - 2006) 60
Bảng 2.2: Tình hình thực hiện đầu tư XDCB trên địa bàn Hà Nội giai đoạn
2007 - 2011 61
Biểu đồ 2.2: Vốn đầu tư XDCB từ NSNN trong giai đoạn (2007 - 2011) 62
Bảng 2.3: GDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) 63
Biểu đồ 2.3: GDP bình quân đầu người qua một số năm 63
Bảng 2.4: Tình hình thực hiện chi đầu tư XDCB so với mức chi theo dự toán
từ 2005 - 2011 75

BẢNG QUY ƢỚC CHỮ VIẾT TẮT

CNH : Công nghiệp hóa

thiếu và chưa đồng bộ; tình trạng buông lỏng quản lý dẫn đến lãng phí, thất
thoát, tham nhũng vốn của Nhà nước, làm suy giảm chất lượng các công trình,
dự án có vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước. Hiện nay, thực
hiện Nghị quyết 15/2008/NQ-QH12 của Quốc Hội, từ ngày 1 tháng 8 năm
2008 Thành phố Hà Nội đã mở rộng thêm địa giới hành chính, bao gồm: toàn
bộ Hà Nội cũ, lấy toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4
xã thuộc huyện Lương Sơn (tỉnh Hoà Bình) với diện tích tự nhiên khoảng
3.300 km
2
. Do đó, việc quản lý vốn đầu tư xây dựng cũng như phát triển các
dự án có sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước của Thành phố Hà Nội
càng đặt ra nhiều vấn đề bức thiết.
Đã đến lúc, những hạn chế bất cập nói trên cần phải ngăn chặn. Thành
phố Hà Nội cần phải quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhằm
nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thoát, lãng phí, dàn trải, nợ tồn đọng vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách. Đây thực sự là một vấn đề rất quan
trọng cần được nghiên cứu làm rõ cả về lý luận và thực tiễn.
Chính vì vậy “Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà
nước của Thành phố Hà Nội “được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế.

2
2. Tình hình nghiên cứu
Việc quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách của nước nói
chung và thành phố Hà Nội nói riêng, đã có một số đề tài, bài viết được một
số tác giả bàn đến, như:
- Giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ
bản từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An luận án tiến sĩ của Phan
Thanh Mão, năm 2003.
- Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản
bằng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Hà Tây, luận văn thạc sĩ kinh tế của

dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước của Thành phố Hà Nội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách Nhà nước của Thành phố Hà Nội.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản
từ ngân sách Nhà nước của Thành phố Hà Nội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Đề tài lấy vấn đề quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách làm đối tượng nghiên cứu.
* Phạm vi: Đề tài không nghiên cứu việc quản lý Nhà nước đối với vốn
đầu tư xây dựng cơ bản của cả nước và của ngân sách Trung ương trên địa
bàn Thành phố Hà Nội mà giới hạn không gian và phạm vi nghiên cứu việc
quản lý vốn ĐTXDCB của ngân sách Nhà nước của Thành phố Hà Nội.
- Thời gian khảo sát thực trạng: tính từ 2000 đến nay, còn phương
hướng và giải pháp tính đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm
phương pháp luận chung, đồng thời, kết hợp với các phương pháp trừu tượng

4
hoá, điều tra thống kê, phân tích tổng hợp, mô hình hoá, có kế thừa và sử
dụng các tài liệu và các công trình nghiên cứu có liên quan để tham khảo.
6. Đóng góp của luận văn
Phân tích, đánh giá một cách toàn diện vấn đề quản lý vốn đầu tư xây
dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước của Thành phố Hà Nội từ đó để rút ra
những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của nó. Trên cơ sở đó đề xuất
những phương hướng, giải pháp nhằm quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách Nhà nước của Thành phố Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung được kết
cấu thành 3 chương:

cập vốn đầu tư theo quan điểm rộng hơn, đầy đủ hơn, bao gồm cả đầu tư để
nâng cao tri thức, thậm chí bao gồm cả đầu tư để tạo ra nền tảng, tiêu chuẩn
đạo đức xã hội, môi trường kinh doanh (nguồn vốn xã hội) cũng là những đầu
tư quan trọng của quá trình sản xuất. Vốn đầu tư được xem xét ở đây chỉ với tư
cách là nguồn lực vật chất được sử dụng có ý thức nhằm tạo dựng tài sản (hữu

6
hình và vô hình) để nâng cao và mở rộng sản xuất, thông qua việc xây dựng,
mua sắm thiết bị, máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu cho sản xuất, nghiên
cứu, triển khai và tiếp thu công nghệ mới và nâng cao đời sống người dân.
1.1.1.3. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Theo Luật Đầu tư của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, tại Điều 3 - Giải thích từ
ngữ, khái niệm đầu tư được hiểu:
“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc
vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định
của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Nhà đầu tư
bao gồm:
- Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật
Doanh nghiệp.
- Hợp tác xã, liên hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Hộ kinh doanh, cá nhân.
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài.
- Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Đầu tư có nhiều loại: Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp (cho vay); đầu
tư ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đầu tư dài hạn thường gắn với đầu tư xây
dựng tài sản cố định - gắn với đầu tư xây dựng cơ bản. Do vậy, có thể hiểu
như sau:
Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là

- “Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí;
các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của
các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định
của pháp luật”.

8
- “Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế -
xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà
nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy
định của pháp luật”.
Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung
dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền
hạn với trách nhiệm. Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất về lập pháp quyết
định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn
quyết toán ngân sách nhà nước.
* Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước
Căn cứ theo phân cấp quản lý NSNN, chia nguồn vốn đầu tư từ NSNN
thành: Vốn đầu tư từ NSNN Trung ương và vốn đầu tư từ NSNN địa phương.
- Đối với đầu tư từ Ngân sách Trung ương được hình thành từ các
khoản thu của ngân sách Trung ương nhằm để thực hiện đầu tư cho các dự án
phục vụ cho lợi ích quốc gia.
- Đối với đầu tư từ Ngân sách địa phương được hình thành từ các
khoản thu của Ngân sách địa phương nhằm thực hiện đầu tư cho các dự án
phục vụ cho lợi ích của từng địa phương đó. Đối với nguồn vốn này thông
thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương quản lý, sử dụng.
Từ khái niệm đầu tư XDCB và sự phân tích về NSNN có thể hiểu khái
niệm Vốn đầu tư XDCB từ NSNN là:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước là một phần của
vốn đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước được hình thành từ sự huy
động của Nhà nước dùng để chi cho đầu tư XDCB nhằm xây dựng và phát

tư XDCB có tính cố định; Sản phẩm XDCB chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí
hậu, thời tiết; Thời gian XDCB và thời gian tồn tại của sản phẩm XDCB lâu

10
dài; Vốn cho hoạt động đầu tư XDCB lớn, do sản phẩm có khối lượng lớn,
thời gian xây dựng và tồn tại của sản phẩm XDCB dài; Tính đơn chiếc và chu
kỳ sản xuất không lặp lại là đặc điểm rõ của đầu tư XDCB.
Ngoài những đặc điểm chung về vốn đầu tư XDCB nói chung thì Vốn
đầu tư XDCB từ NSNN còn có hai đặc điểm mang tính đặc thù cần được quan
tâm, đó là:
- Nguồn vốn NSNN đầu tư cho XDCB thường được đánh giá là không
có khả năng thu hồi trực tiếp, với số lượng lớn, có tác dụng chung cho sự phát
triển kinh tế - xã hội, các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc
không muốn tham gia đầu tư.
- Nguồn vốn NSNN đầu tư cho XDCB là nguồn vốn cấp phát trực tiếp
từ NSNN không hoàn lại nên đây là nguồn vốn dễ bị thất thoát, lãng phí nhất
cần được quản lý chặt chẽ.
1.1.2.2. Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
* Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước bao gồm:
- Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh không
có khả năng thu hồi vốn và được quản lý sử dụng theo phân cấp về chi ngân
sách Nhà nước cho đầu tư phát triển.
- Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có
sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông
thôn khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
- Cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển.
- Vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nước để lại cho doanh
nghiệp Nhà nước để đầu tư.

của Quốc hội
II
Nhóm A

1
Các sự án đầu tư xây dựng công trình: thuộc
lĩnh vực bảo về an ninh, quốc phòng có tính
chất bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị - xã
hội quan trọng.
Không kể mức vốn

12
2
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: sản xuất
chất độc hại, chất nổ; hạ tầng khu công nghiệp
Không kể mức vốn
3
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công
nghiệp điện, khai thác dầu khí, hóa chất, phân
bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai
thác chế biến khoáng sản, các dự án giao thông
(cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt,
đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở.
Trên 1.500 tỷ đồng
4
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thủy lợi,
giao thông (khác ở điểm II - 3), cấp thoát nước
và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện,
sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hóa
dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản

2
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thủy lợi,
giao thông (khác ở điểm II - 3), cấp thoát nước
và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện,
sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hóa
dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản
xuất vật liệu, bưu chính, viễn thông.
Từ 50 đến 1.000 tỷ
đồng
3
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: hạ tầng
kỹ thuật khu đô thị mới, công nghiệp nhẹ, sành
sứ, thủy tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi
trồng thủy sản, chế biến nông, lâm sản.
Từ 40 đến 700 tỷ
đồng
4
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn
hóa, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây
dựng dân dụng khác (trừ xây dựng khu nhà ở),
kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu
khoa học và các dự án khác.
Từ 15 đến 500 tỷ
đồng
IV
Nhóm C

1
Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công

khoa học và các dự ánh khác.
Dưới 15 tỷ đồng
Ghi chú:
1. Các dự án nhóm A về đường sắt, đường bộ phải được phân đoạn theo chiều dài
đường, cấp đường, cầu theo hướng dẫn của Bộ giao thông vận tải.
2. Các dự án xây dựng trụ sở, nhà làm việc của cơ quan nhà nước phải thực hiện
theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
1.1.3. Sự cần thiết phải quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách Nhà nước
1.1.3.1. Do yêu cầu của việc sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách Nhà nước một cách tiết kiệm và hiệu quả
Hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ NSNN thể hiện cuối cùng ở kết quả, ở
chất lượng công trình sau khi hoàn thành và đưa vào sử dụng đúng thời gian
gắn liền với năng lực quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN. Trong những năm
qua, nguồn vốn đầu tư - phát triển của Nhà nước ở Hà Nội ngày càng tăng, đã
góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH,
phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, tăng đáng kể năng lực sản xuất mới,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm mới, cải
thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, việc
quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn tồn tại nhiều vấn đề bức xúc: một số
quyết định chủ trương đầu tư thiếu chính xác; tình trạng đầu tư dàn trải diễn

15
ra phổ biến thể hiện trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư, từ chủ trương
đầu tư quy hoạch, lập, thẩm định dự án, khảo sát thiết kế đến thực hiện đầu tư
đấu thầu, nghiệm thu, điều chỉnh tăng dự toán, thanh quyết toán và đưa công
trình vào khai thác sử dụng kém chất lượng; Nợ tồn đọng vốn đầu tư XDCB ở
mức cao và có xu hướng ngày càng tăng. Những thất thoát, lãng phí trong xây
dựng công trình làm giảm sút chất lượng của công trình, ảnh hưởng đến tuổi
thọ của công trình so với thiết kế Những điều này đòi hỏi Nhà nước, địa

phải có những quy định về chính sách và nguyên tắc tài chính để đảm bảo dự
án đầu tư xây dựng được hoàn thiện đúng kế hoạch và đạt được hiệu quả,
đúng mục đích, đúng giá trị của vốn đầu tư XDCB, tránh thất thoát, lãng phí
và tham nhũng.
1.1.3.3. Do yêu cầu phải chống lãng phí, thất thoát trong đầu tư XDCB
Quản lý vốn đầu tư XDCB nhằm quản lý việc sử dụng nguồn vốn
NSNN trong đầu tư XDCB đạt hiệu quả cao nhất, chống thất thoát, lãng phí.
Thực trạng lĩnh vực đầu tư XDCB ở nước ta nói chung và Thành phố Hà Nội
nói riêng, lãng phí và thất thoát là hai căn bệnh mang tính phổ biến hiện nay.
Vì vậy, việc quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN là vô cùng quan
trọng và không thể thiếu được.
Điều cần nhấn mạnh là có những thất thoát trước mắt và còn có hậu quả
về sau mà chúng gây nên. Những thất thoát trong xây dựng công trình làm
giảm sút chất lượng của công trình, ảnh hưởng đến tuổi thọ của công trình so
với thiết kế. Đây cũng là một thất thoát vốn nhà nước phải tính đến, bởi lẽ
công trình chỉ phục vụ được trong một số năm ít hơn số năm trong luận chứng
được duyệt.
Thất thoát lại có phần thấy được và có phần không thấy được. Khi thời
gian thực hiện một dự án công trình, vì nhiều lý do, bị kéo dài, hiệu quả của
dự án công trình đó sẽ bị sụt giảm bởi lẽ khi đưa công trình vào sử dụng,
những điều kiện kinh tế - xã hội đã rất khác so với lúc xây dựng luận chứng
kinh tế kỹ thuật. Tính năng kỹ thuật của các trang thiết bị trong dự án công
trình bị lỗi thời trong khi giá thiết bị so với tính năng kỹ thuật trở nên quá đắt.

17
Mặt khác, trong tình hình hiện nay, dự án công trình càng bị kéo dài thì giá
đất, nhất là ở các đô thị, càng tăng, kéo theo tiền giải phóng mặt bằng và tái
định cư trong các dự án công trình đó và tổng dự toán cũng càng tăng.
Chất lượng của công tác quản lý vĩ mô nguồn vốn nhà nước dành cho
đầu tư phát triển, đặc biệt khi nguồn vốn này hạn hẹp so với yêu cầu; chất

nguồn trong đó nguồn vốn đầu tư XDCB từ NSNN chiếm tỷ trọng lớn. Sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng được
lựa chọn theo con đường phát triển rút ngắn, đã và đang đòi hỏi phải ứng
dụng ngày càng nhiều thiết bị kỹ thuật và công nghệ theo hướng hiện đại và
phù hợp với nó phải là một kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội hiện đại. Cả hai
nội dung này đề cần nhiều đến vốn đầu tư XDCB, nhất là vốn đầu tư XDCB
từ nguồn vốn của NSNN. Đặc điểm của loại vốn này có độ rủi ro lớn, chi
không hoàn lại nên dễ dẫn đến lãng phí và thất thoát lớn, đó là một mặt. Mặt
khác, tạo vốn đã khó song việc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả là điều
kiện có ý nghĩa quyết định đến nhịp độ và sự thành công của CNH, HĐH. Do
đó, đòi hỏi phải thường xuyên đổi mới quản lý và sử dụng một cách có hiệu
quả vốn đầu tư XDCB từ NSNN ở nước ta và Thành phố Hà Nội hiện nay.
- Sau hơn 20 năm chuyển dịch mô hình kinh tế cũ sang mô hình kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước phát triển theo định hướng XHCN - nay gọi tắt là KTTT định
hướng XHCN - chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định. Song trình
độ và chất lượng kinh tế thị trường của nước ta so với các nước trong khu vực
và quốc tế còn rất thấp. Có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó nguyên nhân
chủ yếu là nền kinh tế thị trường nước ta đang dựa trên một cơ sở vật chất kỹ
thuật và một kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội rất thấp kém. Kinh nghiệm của
các nước có nền KTTT phát triển cho thấy: Bản thân nền KTTT, tự nó cũng
đòi hỏi cần có một kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo hướng hiện đại
tương ứng. Muốn vậy, cần có một lượng lớn vốn đầu tư XDCB từ NSNN và
theo đó cũng đòi hỏi phải thường xuyên quan tâm đến việc quản lý vốn đầu tư

19
XDCB từ NSNN trong thời gian tới ở nước ta, trong đó có Thành phố Hà Nội.
Tương tự, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia của nước ta trên
thị trường trong nước và thị trường nước ngoài không thể không có nhiều vốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status