ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRƯƠNG THỊ NGA
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
GẮN VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
1.1.1. Tăng trưởng kinh tế 6
1.1.2. Công bằng xã hội 15
1.1.3. Một số quan điểm về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và công bằng xã hội 20
1.2. Kinh nghiệm giải quyết quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội của một số nước trên thế giới và một số địa phương ở
nước ta 26
1.2.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 26
1.2.2. Kinh nghiệm của một số địa phương ở nước ta 30
1.2.3. Những bài học kinh nghiệm đối với Hải Phòng 34
Chương 2. THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GẮN VỚI CÔNG BẰNG
XÃ HỘI Ở HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2001 - 2011 36
2.1. Những nhân tố tác động đến phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Phòng 36
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 36
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 38
2.2. Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội ở Hải Phòng
giai đoạn 2001 - 2011 45
2.2.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế 45
2.2.2. Kết quả sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
ở Hải Phòng giai đoạn 2001 - 2011 60
2.2.3. Đánh giá việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
với công bằng xã hội ở Hải Phòng giai đoạn 2001 - 2011 77
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở HẢI PHÒNG 84
3.1. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Hải Phòng đến năm 2020 84
3.1.1. Quan điểm 84
3.1.2. Mục tiêu 85
3.2. Những định hướng giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội ở Hải Phòng đến năm 2015 86
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là khát vọng của tất cả các
quốc gia. Tuy nhiên việc đạt được mong muốn kép này là hết sức khó khăn,
trong thực tế đã có nhiều bằng chứng cho thấy sự đối lập giữa tăng trưởng
kinh tế với công bằng xã hội. Những chính sách dựa trên mục tiêu công bằng
có thể triệt tiêu động lực tăng trưởng kinh tế, ngược lại những chính sách chỉ
nhằm tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng. Trên
thế giới đã có nhiều quan điểm và cách giải quyết khác nhau về sự kết hợp
này. Còn đối với Việt Nam, nhất là trong điều kiện xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều
thách thức và khó khăn, đòi hỏi một quá trình không ngừng trải nghiệm, tổng
kết và điều chỉnh.
Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, các địa phương nói chung
và Hải Phòng nói riêng đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế, tốc
độ tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng vẫn tiếp tục được duy trì ở mức cao
(năm 2009 là 13,02%). Hải Phòng là một Thành phố cảng, trung tâm công
nghiệp, thương mại và dịch vụ phát triển, đầu mối giao thông quan trọng giao
lưu trong nước và quốc tế, là đô thị loại một cấp quốc gia. Với vị trí, tiềm
năng như vậy, Hải Phòng cùng với Hà Nội và Quảng Ninh, được xác định là
một trong ba cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế đã nảy sinh một loạt các
vấn đề cần được giải quyết, trong đó có mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
với công bằng xã hội, đó là khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư,
giữa nông thôn và thành thị ngày càng dãn cách, giá cả tư liệu sinh hoạt ngày
càng tăng khiến cho cuộc sống của người dân nhất là nhóm có thu nhập thấp
trong giai đoạn hiện nay” do GS. Đỗ Nguyên Phương chủ nhiệm.
Đề tài KX.07.03 “Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do
GS. Lê Hữu Tầng chủ nhiệm.
“Tăng trưởng và chính sách xã hội ở Việt Nam trong quá trình chuyển
đổi từ 1991 đến nay - kinh nghiệm của các nước Asean” của tác giả Lê Đăng
Doanh và Nguyễn Minh Trí (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương,
Nxb Hà Nội, 2001).
“Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của tác giả
3
Vũ Đình Bách (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998).
“Việt Nam: Tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế bền vững” của tác
giả Yuji Miura (CIEM - Trung tâm thông tin - Tư liệu)
“Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và vì người nghèo
nhằm đạt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Thắng và Phạm Lan Hương (chuyên gia tư vấn của UNDP).
Ngoài các công trình nghiên cứu đã dẫn ở trên còn phải kể đến những
bài viết trên các tạp chí như: “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt
Nam” của tác giả Nguyễn Trần Quế (Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới,
số 6/1997); “Giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện tốt việc kết hợp giữa tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nước ta” của tác giả Nguyễn Tấn Hùng
(Tạp chí Triết học, số 5/1999); “Nhận dạng mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và công bằng xã hội trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường
ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Xuân Long (Tạp chí Thông tin khoa học và
xã hội, số 4/1999); “Công bằng xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” của tác giả Bùi Đình Thanh (Tạp chí Cộng sản, số 18/1996); “Kinh tế thị
trường và công bằng xã hội” của tác giả Nguyễn Khắc Hiền (Tạp chí Cộng
sản, số 2/1994); “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội”
của tác giả Dương Bá Phượng và Nguyễn Đình Long (Tạp chí Cộng sản, số
11/1996)
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp: duy vật biện chứng; logic - lịch sử; trừu
tượng hóa khoa học; phân tích và tổng hợp; so sánh; thống kê. Luận văn đã
quán triệt những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước về
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những
vấn đề của các tác giả khác có liên quan đến đề tài luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu áp dụng mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng
xã hội ở một địa phương cụ thể là Thành phố Hải Phòng.
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập nói chung
và Kinh tế chính trị nói riêng trong các trường Đại học, Cao đẳng ở Hải Phòng.
- Góp phần làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Hải Phòng.
7. Kết cấu của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
5
Chương 1: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Chương 2: Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội ở
Hải Phòng giai đoạn 2001 - 2011.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kết hợp tăng trưởng kinh tế
với công bằng xã hội ở Hải Phòng.
6
Chương 1
MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
1.1. Một số vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
với mức độ hạnh phúc hơn.
Trong lịch sử đã có nhiều lý thuyết về TTKT của các nhà kinh tế, các
trường phái kinh tế. Sau đây sẽ là một số lý thuyết điển hình:
* Quan điểm cổ điển về tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết cổ điển về TTKT do các nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ
điển nêu ra mà các đại diện tiêu biểu là Adam Smith và David Ricardo.
- Adam Smith được coi là người sáng lập ra kinh tế chính trị học và là
người đầu tiên nghiên cứu lý luận TTKT một cách có hệ thống. Trong tác
phẩm “Của cải của các dân tộc”, ông đã nghiên cứu về tính chất, nguyên nhân
TTKT và làm thế nào để tạo điều kiện cho kinh tế tăng trưởng. Adam Smith
coi sự gia tăng tư bản là yếu tố quyết định TTKT. Đồng thời ông cho rằng
Chính phủ không có vai trò thúc đẩy TTKT.
- David Ricardo kế thừa tư tưởng của Adam Smith và đặc biệt nhấn mạnh
tích luỹ tư bản là nhân tố chủ yếu quyết định sự TTKT còn các chính sách của
Chính phủ không có tác động quan trọng tới hoạt động của nền kinh tế.
* Quan điểm của K.Marx về tăng trưởng kinh tế
K.Marx coi các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai, lao
động, vốn và tiến bộ kỹ thuật. Marx đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao
động trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Theo Marx, sức lao động đối với nhà
tư bản là một loại hàng hoá đặc biệt, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao
động không giống như giá trị sử dụng của các loại hàng hoá khác, vì nó có thể
tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao
động cộng với giá trị thặng dư.
Về yếu tố kỹ thuật, Marx cho rằng tiến bộ kỹ thuật làm tăng số máy
móc và dụng cụ lao động dành cho người thợ, nghĩa là cấu tạo hữu cơ tư bản
có xu hướng ngày càng tăng.
Do các nhà tư bản cần nhiều vốn hơn để khai thác tiến bộ kỹ thuật, để
nâng cao năng suất lao động của công nhân nên các nhà tư bản phải chia giá trị
thặng dư thành hai phần: một phần để tiêu dùng cho nhà tư bản, một phần để
tích luỹ phát triển sản xuất. Đó là nguyên nhân tích luỹ của CNTB.
trường phái cổ điển và tân cổ điển là thiếu xác thực, lý thuyết về “Bàn tay vô
hình” của A.Smith tỏ ra kém hiệu quả. Điều này đòi hỏi các nhà kinh tế phải
đưa ra các học thuyết mới phù hợp hơn. Năm 1936, sự ra đời của tác phẩm
“Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của John Maynard Keynes
(1883 - 1946) đánh dấu sự ra đời của học thuyết kinh tế mới.
9
Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc xác định sản
lượng. Theo ông, thu nhập của các cá nhân được sử dụng cho tiêu dùng và tích
luỹ. Nhưng xu hướng chung là khi mức thu nhập tăng thì xu hướng tiêu dùng
trung bình sẽ giảm, xu hướng tiết kiệm trung bình tăng. Việc giảm xu hướng
tiêu dùng sẽ làm cho cầu tiêu dùng giảm. Ông cho rằng đây chính là một trong
những nguyên nhân cơ bản dẫn dến sự trì trệ trong hoạt động kinh tế.
Mặt khác, Keynes cũng cho rằng đầu tư đóng vai trò quyết định đến qui
mô việc làm, khối lượng đầu tư phụ thuộc lãi suất cho vay và năng suất cận
biên của vốn.
Keynes sử dụng lý luận về việc làm và sản lượng do cầu quyết định để giải
thích mức sản lượng thấp và thất nghiệp kéo dài trong những năm 30 ở hầu hết các
nước công nghiệp phương Tây, do đó lý thuyết này còn gọi là thuyết trọng cầu.
Qua phân tích tổng quan về việc làm, Keynes đã đi đến kết luận: muốn
thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, Nhà nước phải thực hiện điều tiết bằng
các chính sách kinh tế, những chính sách này nhằm tăng cầu tiêu dùng. Ông
cũng cho rằng Chính phủ có vai trò to lớn trong việc sử dụng những chính
sách kinh tế: chính sách thuế, chính sách tiền tệ, lãi suất nhằm thúc đẩy
TTKT.
* Quan điểm hiện đại về tăng trưởng kinh tế
Các nhà kinh tế học hiện đại ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn
hợp, trong đó thị trường trực tiếp xác định những vấn đề cơ bản của tổ chức
kinh tế, nhà nước tham gia điều tiết có mức độ nhằm hạn chế những mặt tiêu
cực của thị trường. Những ý tưởng cơ bản của học thuyết này được trình bày
* Các nhân tố kinh tế
Các nhân tố kinh tế là các nguồn lực mà sự biến đổi của nó trực tiếp
làm biến đổi sản lượng đầu ra, các nhân tố này còn gọi là các yếu tố sản xuất.
Ta có thể biểu diễn mối quan hệ đó bằng dạng hàm số sau:
Y = F (X
i
)
Trong đó Y là giá trị sản lượng, X
i
(i = 1,2,…,n) là các biến số biểu thị
giá trị của các nhân tố kinh tế trực tiếp tạo ra giá trị sản lượng.
Xuất phát từ thực tế của các nước đang phát triển và cả ở các nước phát
triển, các nhà kinh tế học đi đến kết luận: việc gia tăng sản lượng ở các nước
bắt nguồn từ sự gia tăng đầu vào của các yếu tố sản xuất theo quan hệ hàm số
với sản lượng, bao gồm bốn nhân tố vốn, nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, kỹ
thuật và công nghệ.
Vốn là một yếu tố được trực tiếp sử dụng vào quá trình sản xuất. Nó
bao gồm vốn tiền tệ và vốn hiện vật. Trong đó, vốn hiện vật trực tiếp tham gia
vào quá trình sản xuất, bao gồm các máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải,
nhà kho và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
thì tăng tổng số vốn sẽ làm sản lượng tăng.
11
Nhân lực với tư cách là nguồn lực của sản xuất, là nhân tố sản xuất
đặc biệt, không đơn thuần chỉ là số lượng lao động hay thời gian lao động mà
nó còn bao gồm cả chất lượng lao động mà người ta gọi là vốn nhân lực. Các
yếu tố như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có
thể phát huy được tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có
sức khỏe và kỷ luật lao động tốt. Chi phí nhằm nâng cao trình độ của lao động
được coi như đầu tư dài hạn cho đầu vào.
thành tựu khoa học và kỹ thuật tiên tiến, đẩy nhanh tốc độ TTKT. Trong khi
đó, các nước đang phát triển thường chịu sự phụ thuộc vào công nghệ, kỹ
thuật được chuyển giao từ các nước công nghiệp phát triển, bản thân các nước
này cũng tích cực trong việc triển khai áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến
nhằm đẩy nhanh tốc độ TTKT.
* Các nhân tố phi kinh tế
Ngày nay người ta cho rằng các nhân tố phi kinh tế kinh tế cũng tác
động tới TTKT. Các nhân tố phi kinh tế bao gồm các nguồn lực đầu vào gián
tiếp ảnh hưởng tới TTKT. Các nhân tố phi kinh tế ảnh hưởng tới TTKT như
sau:
Đặc điểm văn hóa - xã hội: đây là một trong những yếu tố cơ bản ảnh
hưởng nhiều tới chất lượng của lao động, kỹ thuật và công nghệ, trình độ
quản lý. Vì thế trình độ văn hoá cao là một mục tiêu phấn đấu của sự phát
triển. Để phát triển ổn định và lâu dài, đầu tư cho sự nghiệp phát triển văn hoá
được coi là những đầu tư cần thiết nhất và đi trước một bước so với đầu tư
cho sản xuất.
Các thể chế chính trị - kinh tế - xã hội: Thể chế biểu hiện như một lực
lượng đại diện cho ý chí của một cộng đồng, nhằm điều chỉnh các mối quan
hệ kinh tế, chính trị, xã hội theo lợi ích của một cộng đồng đặt ra. Thể chế thể
hiện thông qua các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, các nguyên tắc tổ chức
quản lý kinh tế xã hội, hệ thống luật pháp, các chế độ chính sách, các công cụ
và bộ máy tổ chức thực hiện… Một thể chế kinh tế - chính trị - xã hội ổn định
và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để đổi mới liên tục cơ cấu và công nghệ sản xuất
phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ TTKT nhanh và bền vững.
Nhân tố dân tộc: Sự phát triển của tổng thể kinh tế có thể đem đến
những biến đổi có lợi cho dân tộc này, bất lợi cho dân tộc khác. Đây chính là
nguyên nhân nảy sinh sự mâu thuẫn, xung đột giữa các dân tộc. Do đó, các
chính sách phát triển kinh tế phải đảm bảo tiêu chuẩn bình đẳng, cùng có lợi
giữa các dân tộc trong cộng đồng, đồng thời phải bảo tồn được bản sắc riêng
Như vậy, TTKT là điều kiện cần trước tiên để khắc phục tình trạng
nghèo đói của quốc gia, khắc phục sự lạc hậu, làm cho đời sống vật chất, tinh
thần của người dân ngày càng cải thiện, xoá bỏ dần các phong tục tập quán
14
lạc hậu.
TTKT là cơ sở để thực hiện các chi tiêu kinh tế vĩ mô như giải quyết
việc làm, giảm thất nghiệp, nâng cao mức sống của nhân dân, cải thiện các
mặt ASXH như giáo dục, y tế, nhà ở… đồng thời TTKT cũng tạo ra tiền đề
vật chất cho việc củng cố an ninh quốc phòng, chính trị, tăng uy tín của nhà
nước và sự đồng thuận trong xã hội.
Tuy nhiên, TTKT không phản ảnh được chính xác phúc lợi của các
nhóm dân cư khác nhau trong xã hội, chênh lệch giàu nghèo có thể tăng lên,
chênh lệch giữa nông thôn và thành thị có thể tăng cao và bất bình đẳng xã
hội cũng có thể tăng. Tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống có
thể không tăng, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá
mức, cạn kiệt, nguồn lực có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí.
1.1.2. Công bằng xã hội
CBXH là một khái niệm mang tính chuẩn tắc phụ thuộc vào quan niệm
khác nhau của mỗi giai cấp, mỗi quốc gia. CBXH là sự công bằng về quyền
lợi và nghĩa vụ của công dân, công bằng trong phân phối thu nhập, cơ hội
phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội. Như vậy, CBXH là một khái niệm rất
rộng, bao gồm cả yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: “CBXH là khái niệm về ý
thức đạo đức và ý thức pháp quyền, chỉ điều chính đáng, tương xứng với bản
chất và quyền con người. CBXH đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của
những cá nhân (những giai cấp) với địa vị xã hội của họ, giữa hành vi với sự
đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt), giữa quyền và nghĩa
vụ - không có sự tương xứng trong quan hệ bất công”.
Trong kinh tế học hiện đại, người ta sử dụng các thước đo sau để đánh
16
tiêu chí: tuổi thọ trung bình; tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các
cấp giáo dục (tiểu học, trung học, đại học); thu nhập bình quân đầu người.
1.1.2.1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, dưới CNXH, CBXH
là sự ngang bằng nhau giữa người và người trong xã hội chủ yếu là về phương
diện phân phối sản phẩm xã hội theo nguyên tắc: cống hiến lao động ngang
nhau thì hưởng thụ ngang nhau.
Lịch sử xã hội loài người xét về phương diện kinh tế đó là lịch sử phát
triển của các hoạt động sản xuất vật chất của con người, gắn với sự tồn tại,
phát triển của các phương thức sản xuất khác nhau, trong đó mỗi con người
khác nhau tuy đều giữ vai trò là chủ thể của LLSX nhưng do vị trí, địa vị của
họ rất khác nhau trong QHSX nên mặc dù phấn đấu cho việc tăng năng suất
lao động và do đó cho tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu
chung hướng tới của mỗi người nhưng phương thức phân chia của cải vật
chất, tinh thần do họ sáng tạo ra, tức là sự phân phối thu nhập của họ cũng rất
khác nhau.
Lịch sử xã hội loài người xét về phương diện chính trị - xã hội cũng là
lịch sử phát triển của đấu tranh giai cấp. Kinh nghiệm lịch sử đã cho thấy,
trong xã hội có tồn tại đấu tranh giai cấp đối kháng thì lợi ích của các giai cấp
đó không giống nhau. Giai cấp nào nắm quyền thống trị xã hội thường cũng là
giai cấp nắm quyền thống trị kinh tế, và do đó phân phối thu nhập giữa các
giai cấp đó là rất khác nhau. Kẻ giàu, người nghèo trong xã hội có giai cấp và
đấu tranh giai cấp là tất yếu của mọi thời đại.
Từ những luận điểm cơ bản trên đây của lý thuyết kinh tế học chính trị
Mác-xít, có thể rút ra kết luận quan trọng là: CBXH trong phân phối thu nhập
mặc dù được dựa trên TTKT do tất cả các thành viên xã hội sáng tạo ra, và
TTKT chính là cơ sở của sự giàu có xã hội, vì đó là nguồn gốc trực tiếp sáng
tạo ra thặng dư của cải cho xã hội ngày càng lớn hơn, nhưng một khi xã hội
loài người còn tồn tại các giai cấp khác nhau, nắm giữ các vị trí quyền lực
Ở các nước đang phát triển, do vai trò quyết định nổi bật của kinh tế đối
với sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và xã hội, nội dung quan trọng
nhất của công bằng xã hôi trước tiên và chủ yếu là công bằng về kinh tế. Tuy
nhiên trong các xã hội phát triển hiện đại cũng như trong tư duy phát triển
hiện đại, nội hàm của CBXH được bổ sung, mở rộng và phát triển đáng kể.
Điều này được thể hiện ở chỗ nội dung quan trọng nhất của CBXH không
phải là công bằng về phân phối thu nhập mà là công bằng về cơ hội phát triển.
18
Như vậy nội hàm của khái niệm CBXH sẽ phải bao hàm sự công bằng trong
việc phân phối các cơ hội và điều kiện thực hiện cơ hội.
1.1.2.3. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin chủ yếu nói về CBXH thể
hiện tập trung ở chế độ phân phối theo lao động dưới CNXH, còn về chế độ
phân phối trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì các ông chưa có đủ điều kiện để
bàn tới. Đây chính là điểm mà các Đảng cộng sản trong đó có Đảng cộng sản
Việt Nam đã từng bước bổ sung, phát triển bằng những kết luận mới rút ra từ
trong thực tiễn sinh động của quá trình đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội
Đảng VI là bước đột phá lớn và toàn diện làm xoay chuyển tình hình đưa
nước ta tiến lên, Đại hội Đảng VI xác định: “Đảm bảo CBXH là một trong
năm mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Giải quyết
việc làm và thực hiện phân phối theo lao động là những vấn đề trọng tâm của
chính sách CBXH. Thực hiện CBXH phù hợp với điều kiện cụ thể của từng
nước, chống thu nhập bất hợp pháp và đặc quyền, đặc lợi”[12,tr.198]. Sau đó
nội dung này đã được làm rõ và sâu sắc thêm tại các kỳ Đại hội Đảng tiếp đó
(Đại hội VII năm 1991, Đại hội VIII năm 1996, Đại hội IX năm 2001, Đại hội
X năm 2006 và Đại hội XI năm 2011). Ở nước ta hiện nay, CBXH là một giá
trị cơ bản định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người
trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc: cống hiến về vật
chất và tinh thần ngang nhau cho sự phát triển xã hội thì được hưởng thụ
bình đẳng là một hệ quả của quá trình TTKT. Giai đoạn đầu khi GNP/người
tăng thì tình trạng bất bình đẳng tăng, đến giai đoạn trình độ phát triển cao,
khi GNP/người tăng thì tình trạng bất bình đẳng lại giảm đi, lúc đó thu nhập
và phúc lợi có xu hướng được phân phối công bằng hơn. Vì vậy, theo ông mối
quan hệ giữa GNP/người và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có
dạng chữ U ngược. Điều này được minh họa bằng đồ thị:
Hình 1.2: Mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets
20 Bản thân Kuznets thì không phân tích và làm rõ những nguyên nhân
cũng như bản chất dẫn đến tình trạng bất bình đẳng. Trong khi đó, mỗi nước
có những chính sách khác nhau tác động vào tình trạng TTKT và bất bình
đẳng dẫn đến quá trình này diễn ra khác nhau. Nhiều kiểm định thực tế đã cho
thấy quan điểm của Kuznets không phải lúc nào cũng chính xác. Bất bình
đẳng về phân phối thu nhập không chỉ giảm đi mà ngày càng tăng lên hoặc
giữ ở mức cao ngay cả trong nhiều nền kinh tế phát triển như Anh, Mỹ.
Nhà kinh tế học A.Lewis cũng đồng tình với Kuznets về mối quan hệ
giữa TTKT và bất bình đẳng theo hình chữ U ngược, nhưng Lewis tập trung
giải thích nguyên nhân dẫn tới hình chữ U ngược trên cơ sở mô hình lý thuyết
nhị nguyên. Ông cho rằng trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế
tồn tại hai khu vực: khu vực công nghiệp với tiền lương cao và khu vực nông
nghiệp với tiền lương thấp. Do đó việc mở rộng quy mô sản xuất khu vực
nông nghiệp sẽ thu hút một số lượng lớn lao động từ nông nghiệp và nhà tư
bản chỉ trả tiền lương công nhân ở mức thấp. Như vậy thu nhập của nhà tư
bản vừa tăng lên do quy mô sản xuất mở rộng, vừa tăng lên do lao động của
công nhân đem lại. Giai đoạn sau sự bất bình đẳng giảm do khi lao động dư
thừa được thu hút hết vào khu vực thành thị - công nghiệp và dịch vụ thì lúc
này lao động trở nên khan hiếm trong sản xuất. Cung lao động giảm, cầu lao