Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với ngành công nghiệp phụ trợ ô tô của Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
ĐINH THỊ HỒNG NHUNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
Ô TÔ CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Vũ Thắng

HÀ NỘI - 2012
110
MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT FDI VÀO LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP PHỤ
TRỢ NGÀNH Ô TÔ 10
1.1. LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ 10
1.1.1. Khái niệm chung về công nghiệp phụ trợ. 10
1.1.2. Vai trò của ngành công nghiệp phụ trợ 15
1.2. LÝ LUẬN VỀ THU HÚT FDI ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ Ô TÔ 17
1.2.1. Ngành công nghiệp ô tô và ngành CNPT ô tô là ngành cần nguồn vốn đầu tư lớn
và trình độ công nghệ kỹ thuật cao 17
1.2.2. Do yêu cầu nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công nhân trong
ngành công nghiệp ô tô, ngành CNPT ô tô. 20
1.2.3. Do ngành công nghiệp ô tô đòi hỏi phải có một hệ thống các ngành công nghiệp
phụ trợ 21
1.2.4. Phát triển công nghiệp ô tô là động lực để thúc đẩy các ngành khác phát triển 22
1.2.5. Do yêu cầu giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động 24
1.2.6. Do yêu cầu tiết ki
ệm ngoại tệ cho đất nước, giảm thâm hụt thương mại 26
1.2.7. Do yêu cầu thực hiện các cam kết trong hội nhập kinh tế quốc tế 28

3.2.3. Giải pháp thứ ba 91
3.2.4. Giải pháp thứ tư 93
3.2.5. Giải pháp thứ năm 97
3.2.6 .Về phía nhà nước 101
3.2.7. Về phía doanh nghiệp 103
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC

i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Stt
Ký hiệu Nguyên nghĩa
1
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2
BSID Bureau of Supporting Industries Development –
Văn phòng phát triển công nghiệp phụ trợ Thái Lan
3
BOI Uỷ ban Đầu tư
4
CAAM Hiệp hội các nhà sản xuất xe hơi Trung Quốc
5
CEPT/AFTA Mức thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung /
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
6
CBU Xe nguyên chiếc
7
CKD Completely knock down – Bộ linh kiện đồng bộ dạng rời

ii
22
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
23
VAMA Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam
24
VAT Value Added Tax - Thuế giá trị gia tăng
25
VMC Công ty ôtô Mekong và công ty liên doanh sản xuất
ôtô Hoà Bình
26
VDF Diễn đàn kinh tế Việt Nam
27
VN Việt Nam
28
VNĐ Việt nam đồng
29
USD Đô la Mỹ
30
WTO Tổ chức thương mại thế giới
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Stt Số hiệu Nội dung Trang
1 Bảng 1.1 Ước tính mức tiết kiệm ngoại tệ (cách tính 1) 27
2 Bảng 1.2 Ước tính mức tiết kiệm ngoại tệ (cách tính 2 27
3 Bảng 1.3 Các bước đi của ngành công nghiệp ô tô ở các
nước ASEAN
39
4 Bảng 2.1 Danh mục các doanh nghiệp FDI sản xuất,

năm 2006

37
2
Biểu đồ 2.1 Sản lượng ô tô của các doanh nghiệp FDI từ
năm 1998-2008
54
3
Biểu đồ 2.2 Thị trường khu vực ASEAN
72

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để phát triển kinh tế
đã trở thành vấn đề quan trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới, nhất là các
nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn FDI trong những năm
thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi t
ừ kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế

công nghi
ệp phụ trợ. Chính sự yếu kém này cũng đã gây khó khăn rất nhiều
cho các doanh nghiệp lắp ráp. Cam kết nội địa hóa 30 - 40% sau 10 năm hoạt
động của các liên doanh ô tô Việt Nam đến nay vẫn chưa đạt được, trong khi
giá sản phẩm lại quá cao. Mỗi chiếc xe bất kỳ đều cần khoảng 20.000-30.000
chi tiết với hàng nghìn linh kiện trong khi đó số doanh nghiệp sản xuất linh
kiện hiện còn quá ít với khoảng 60 doanh nghiệp, chư
a kể là các doanh
nghiệp đó chỉ làm được một số loại sản phẩm như săm, lốp, dây điện…
Mặc dù công nghiệp phụ trợ rất yếu kém nhưng trong những năm qua có
rất ít các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất linh kiện cũng
như chuyển giao công nghệ ô tô vào Việt Nam.…. Điều tra thực tế về các
doanh nghiệp FDI hoạt độ
ng ở Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận Hà
Nội cho thấy, do tình hình hoạt động kém hiệu quả của doanh nghiệp nội địa
hiện tại, các doanh nghiệp FDI tuy rất muốn tăng tỷ lệ nội địa hóa để giảm giá
thành sản xuất nhưng ít tìm được nguồn cung cấp công nghiệp phụ trợ đáng
tin cậy. Đặc biệt, những doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc những
doanh nghiệp FDI hướ
ng vào xuất khẩu có khuynh hướng dùng linh kiện và
nguyên vật liệu nhập khẩu hoặc do các công ty FDI khác sản xuất…Do đó,
ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chưa phát triển xứng với tiềm năng của đất
nước. Vì vậy Nhà nước, các cơ quan Bộ Ngành và các Doanh Nghiệp Việt
Nam phải có những phương hướng, chính sách và giải pháp cụ thể nào để thu
hút FDI vào ngành công nghiệp phụ trợ này.
3
Với ý nghĩa đó, tác giả xin lựa chọn chuyên đề “Thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) đối với ngành công nghiệp phụ trợ ô tô của Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình, nhằm góp phần đẩy mạnh
việc thu hút nguồn vốn FDI vào phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ngành ô

động mới, thu hút sự quan tâm chú ý của các ngành các cấp, của nhiều tầng
lớp nhân dân, của nhiều nhà quản lý, nhiều nhà kinh doanh và các nhà khoa
học.
Tuy nhiên, cho đến nay ch
ưa ấn phẩm nào dành sự chú ý và nghiên cứu
sâu những vấn đề mang tính quan hệ sản xuất trong đầu tư trực tiếp nước
ngoài, trên cơ sở đó tác giả đưa ra những kết luận dưới giác độ này để đánh
giá Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá ở
Việt Nam một cách cơ bản, có hệ thống và toàn diện về cả mặ
t lý luận cũng
như như phân tích thực tiễn.
Tác giả sẽ làm sáng tỏ mối quan hệ bản chất của đầu tư trực tiếp nước
ngoài và những tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam
nói chung đặc biệt đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ( nói
riêng). Trên cơ sở đó tác giả cũng nêu ra một số kiến nghị mớ
i về quan điểm,
chính sách và giải pháp chủ yếu nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả cao đầu
tư trực tiếp nước ngoài phục vụ công cuộc CNH, HĐH trong thời gian tới.
PGS. TS. Phùng Xuân Nhạ (2007), Các hình thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Việt Nam: Chính sách và thực tiễn, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.
Công trình “Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam:
Chính sách và thực ti
ễn” đã được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất
bản vào quý III năm 2007.
Trên cơ sở tổng quan các mô hình lý thuyết, quan điểm, chính sách và tham
chiếu kinh nghiệp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đang được áp dụng trên
thế giới, công trình đã tập trung phân tích, so sánh bản chất và đặc điểm giữa
các hình thức đầu tư trực tiếp (FDI) theo Luật đầu tư trực tiếp n
ước ngoài ở
5

công nghiệp ô tô và công nghiệ
p phụ trợ của nó vẫn còn ít. Hiện nay, mới có
một số tác giả nghiên cứu trên các khía cạnh sau:
6
Bộ Công Thương (2002), Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô
Việt Nam đến 2010, tầm nhìn tới năm 2020.
Mục tiêu chunglà phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam trên cơ sở
tiếp thu và ứng dụng công nghệ tiên tiến của thế giới, kết hợp với khai thác và
từng bước nâng cao công nghệ và thiết bị hiện có, đáp ứng phần lớn nhu cầu
thị trường ôtô trong nước, hướng tới xuất khẩu ôtô và phụ
tùng.
Mục tiêu cụ thể:
- Về loại xe phổ thông: đáp ứng 40 - 50% nhu cầu trong nước về số
lượng và đạt tỷ lệ nội địa hoá đến 40% vào năm 2005; đáp ứng trên 80% nhu
cầu trong nước về số lượng và đạt tỷ lệ nội địa hoá 60% vào năm 2010 (riêng
động cơ phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hoá 50% và hộp số đạt 90%);
- Về loại xe chuyên dùng: đ
áp ứng 30% nhu cầu trong nước về số
lượng và đạt tỷ lệ nội địa hoá 40% vào năm 2005, tiến tới đáp ứng 60% nhu
cầu trong nước về số lượng và đạt tỷ lệ nội địa hoá 60% vào năm 2010;
- Về các loại xe cao cấp: các loại xe du lịch do các liên doanh sản xuất
phải đạt tỷ lệ nội địa hoá 20 - 25% vào năm 2005 và 40 - 45% vào năm 2010,
đáp ứng 80% nhu cầu các loại xe tải, xe buýt cao cấp
đạt tỷ lệ nội địa hoá
20% vào năm 2005 và 35 - 40% vào năm 2010.
Bộ Công Thương (2004), Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô
Việt Nam đến 2010, tầm nhìn tới năm 2020.
Theo dự báo trong quy hoạch thì đến năm 2010, VN cần bổ sung
khoảng 274.000 xe ôtô các loại mới đáp ứng đủ nhu cầu. Ngoại trừ loại xe
con đến 5 chỗ ngồi và loại xe 26 - 46 chỗ ngồi không cần đầu tư thêm do đã

3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các giải pháp thu hút FDI đối với công nghiệp phụ trợ ngành
công nghiệ
p ô tô của Việt Nam nhằm thu hút có hiệu quả hơn nguồn vốn FDI
vào công nghiệp phụ trợ ngành công nghiệp ô tô, để góp phần thúc đẩy phát
triển ngành công nghiệp ô tô trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn trong nền
kinh tế nước ta.
8
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Phân tích những vấn đề chung về thu hút FDI đối với công nghiệp phụ
trợ ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào công
nghiệp phụ trợ của ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp thu hút FDI đối với công nghiệ
p phụ trợ
ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến thu hút
FDI đối với ngành công nghiệp phụ trợ ô tô của Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn không gian là ở Việt Nam.
Phạm vi phân tích các giải pháp thu hút FDI vào ngành công nghiệp phụ
trợ ô tô của Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2012.
5. C
ơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lênin, các lý luận kinh tế hiện đại, các quan điểm, chủ trương, đường

10
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT FDI VÀO LĨNH VỰC CÔNG
NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH Ô TÔ

1.1. LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
1.1.1. Khái niệm chung về công nghiệp phụ trợ.
Thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở các
nước Đông Á. Tuy nhiên, khái niệm công nghiệp phụ trợ chưa hình thành một
cách hiểu thống nhất trong các lý thuyết kinh tế cũng nh
ư trên thực tế, nhìn
chung vẫn chưa hình thành chuẩn để quan niệm thế nào về công nghiệp phụ
trợ (CNPT).
Theo Junichi Mori (2005) cho rằng có hai cách tiếp cận đối với khái
niệm công nghiệp phụ trợ: từ lý thuyết kinh tế và từ thực tiễn sản xuất kinh
doanh. Theo lý thuyết kinh tế, công nghiệp phụ trợ được định nghĩa là các
ngành sản xuất đầu vào (manufactured inputs) hàng hóa, sản phẩm sau cùng
được tạo ra từ những quá trình sả
n xuất và lắp ráp các đầu vào này. Công
nghiệp phụ trợ chính là những ngành sản xuất các sản phẩm đầu vào, gồm:
Các sản phẩm, hàng hóa trung gian (intermediate goods); Các sản phẩm, hàng
hóa phục vụ quá trình sản xuất (capital goods). Việc phân biệt hàng hóa trung
gian và hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất phụ thuộc vào hình thức chuyển
hóa của những hàng hóa này vào trong sản phẩm cuối cùng. Như trong sản
xuất hàng điện tử tiêu dùng, các linh kiện lắp ráp được xem như hàng hóa
trung gian, trong khi máy móc, thi
ết bị sản xuất các linh kiện ấy được xem
như hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất.
Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có hai cách hiểu về công nghiệp
phụ trợ. Ở góc độ hẹp, công nghiệp phụ trợ là các ngành sản xuất phụ tùng

tốn nhiều năng lượng như than, luyện kim, thiết bị nhiệt, hàn, đúc…
- Theo cách cụ thể: Định nghĩa của Văn phòng phát triển công nghiệp
phụ trợ Thái Lan (Bureau of Supporting Industries Development -
12
BSID): Công nghiệp phụ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện,
phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công
nghiệp cơ bản (nhấn mạnh các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô,
điện và điện tử là những ngành công nghiệp phụ trợ quan trọng).
- Theo cách liệt kê: Hội đồng đầu tư Thái Lan phân loại các ngành
công nghiệp sản xuất thành phẩm thành 3 bậc: lắp ráp; sản xuất linh kiện và
phụ
kiện; các ngành công nghiệp phụ trợ. Năm sản phẩm chính của ngành
công nghiệp phụ trợ là gia công khuôn mẫu, gia công áp lực, đúc, cán và các
gia công nhiệt.
Các định nghĩa trên chủ yếu nhìn công nghiệp phụ trợ theo ngành. Nếu
tiếp cận theo chuỗi giá trị, từ góc độ doanh nghiệp, công nghiệp phụ trợ được
hiểu gồm ba dạng doanh nghiệp:
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nước ngoài (import).
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiế
t bị, máy móc nước ngoài ở thị
trường trong nước (foreign suppliers).
- Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nội địa (dosmetic
suppliers).
Có thể nói, công nghiệp phụ trợ cho đến nay vẫn chưa được hiểu một
cách thống nhất. Không chỉ về định nghĩa hay cách tiếp cận, còn có hai quan
điểm trái ngược nhau về đặc thù của ngành công nghiệp phụ trợ.
- Quan điểm từ các lý thuyết kinh tế phát triển về công nghi
ệp thượng
nguồn và hạ nguồn cho rằng, công nghiệp phụ trợ có đặc tính thâm dụng vốn,
có độ phủ rộng, phục vụ và chia sẻ với nhiều ngành sản xuất. Khác với ngành

nh tại các quốc
gia Đông Nam Á. trong trung và dài hạn.
Một cách cơ bản và có cơ sở hơn, khái niệm công nghiệp phụ trợ phải
được đặt trong khung phân tích về chuỗi giá trị, trước khi chọn lựa một cách
hiểu thích hợp về công nghiệp phụ trợ. Công nghiệp phụ trợ không thể nhìn
theo ngành hay sản phẩm vì không thể bao quát hết tính phức tạp và đa dạng
của sản xuất. Quá tổng hợp hay quá chi tiế
t đều không phải cách lý giải thích
14
hợp về vai trò của công nghiệp phụ trợ cũng như không đem lại nền tảng
vững chắc cho việc xây dựng các chính sách, chiến lược phù hợp với xu
hướng của luồng FDI và tạo lực đẩy phát triển công nghiệp. Công nghiệp phụ
trợ tập trung vào các mối kết nối và mô hình chia sẻ, do vậy thích hợp trong
khung phân tích về chuỗi giá trị. Từ đây sẽ thấy rõ hơn vai trò, vị trí, tác động
của công nghiệp phụ trợ trong các phạm vi khác nhau của liên kết chuỗi giá
trị, tạo cơ sở và tầm nhìn cho các chính sách, chiến lược phát triển công
nghiệp. Như vậy, các nội dung cụ thể của công nghiệp phụ trợ theo ngành hay
theo sản phẩm, tổng quát hay cụ thể, doanh nghiệp hay khách hàng sẽ gắn kết
với phạm vi của chuỗi giá trị tương ứng.
Qua các quan điểm và lý thuyết khác nhau, công nghiệp phụ trợ
là một
khái niệm dựa trên nền tảng chính sách. Ở khía cạnh vi mô, công nghiệp phụ
trợ đặt trong chuỗi giá trị, gắn với chính sách của từng công ty. Ở góc độ vĩ
mô, tùy vào chiến lược và chính sách phát triển công nghiệp, mỗi vùng, mỗi
nước, mỗi khu vực, mỗi ngành tự lựa chọn cho mình một phạm vi thích hợp
cho định nghĩa về công nghiệp phụ trợ.
Ở Việt Nam, quan niệm về công nghiệp phụ
trợ xuất hiện trong các
chương trình hợp tác kinh tế với Nhật Bản. Khái niệm này được du nhập vào
nước ta thông qua vai trò của Diễn đàn kinh tế Việt Nam (VDF) và ảnh hưởng

Hình 1.1: Mô hình thể hiện khái niệm về công nghiệp hỗ trợ
(Nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp).
1.1.2. Vai trò của ngành công nghiệp phụ trợ
Thứ nhất, CNPT đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng sức cạnh
tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp

Xử lý nhiệt Ép Cán Đúc Dập
Công nghệ - thiết bị
Cao su Nhựa Điện Ốc vít Lò xo
Linh phụ kiện
NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ
NHÀ LẮP RÁP
Vật liệu
Nguyên liệu thô
16
hoá theo hướng vừa mở rộng vừa thâm sâu. Việc phát triển các ngành CNPT
sẽ góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, giảm xuất khẩu các sản
phẩm thô và nhập khẩu nguyên, phụ liệu và linh kiện. Từ đó sức cạnh tranh
của sản phẩm được nâng cao và quá trình CNH cũng được đẩy nhanh hơn cả
về quy mô lẫn mức độ chuyên môn hoá.
Thứ hai, CNPT là điều kiện quan trọng đảm bảo tính chủ
động và nâng
cao giá trị gia tăng của ngành sản xuất sản phẩm của khu vực hạ nguồn.
CNPT không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản
xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu các
chi tiết. Dù những sản phẩm này có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài
nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng phí

dụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Bở
i lẽ, dưới áp lực cạnh tranh, các
công ty CNPT phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất
lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập. Tiềm năng đó sẽ thành
hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI.
Thứ năm, CNPT cũng góp phần tạo công ăn việc làm, thu hút lao động
dư thừa trên các địa bàn sản xuất của doanh nghiệp và khu vực lân cận [16].
1.2. LÝ LUẬN VỀ THU HÚT FDI ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP
PHỤ TRỢ Ô TÔ
Từ đặc điểm của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam nói chung và ngành
công nghiệp phụ trợ nói riêng, có thể thấy tính tất yếu khách quan của việc
thu hút FDI vào ngành công nghiệp ô tô Việt Nam và ngành CNPT ô tô được
bắt nguồn từ những yêu cầu sau:
1.2.1. Ngành công nghiệp ô tô và ngành CNPT ô tô là ngành cần
nguồn vốn đầu tư lớn và trình độ công nghệ kỹ thuật cao
Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đo
ạn đầu của quá trình phát triển
ngành công nghiệp ô tô, nên gặp rất nhiều khó khăn về vốn cũng như về trình
độ công nghệ. So với vốn đầu tư vào đại bộ phận các ngành công nghiệp

Trích đoạn Ngành công nghiệp ôtô và ngành CNPT ôtô là ngành cần nguồn vốn đầu tư lớn Do yêu cầu nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công nhân trong Do ngành công nghiệp ôtô đòi hỏi phải có một hệ thống các ngành công nghiệp Phát triển công nghiệp ôtô là động lực để thúc đẩy các ngành khác phát triển Do yêu cầu giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status