ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN ĐỨC THỤ
TỰ DO HÓA DỊCH VỤ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
TRONG KHUÔN KHỔ GATS/WTO: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
VÀ NHỮNG GỢI Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI - 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN ĐỨC THỤ
TỰ DO HÓA DỊCH VỤ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
TRONG KHUÔN KHỔ GATS/WTO: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
VÀ NHỮNG GỢI Ý ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế đối ngoại
Chuyên ngành: KTTG & QHKTQT
Mã số: 60.31.07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. HÀ VĂN HỘI
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt i
2.1.2. Quá trình thực hiện tự do hóa tài chính ngân hàng của Canada 39
2.1.3. Quá trình thực hiện tự do hóa tài chính - ngân hàng của Australia 42
2.1.4. Quá trình thực hiện tự do hóa tài chính - ngân hàng của Thái
Lan 45
2.2. Kinh nghiệm rút ra từ việc phân tích quá trình tự do hóa dịch vụ tài
chính - ngân hàng của một số nƣớc trên thế giới 45
CHƢƠNG 3: TỰ DO HÓA DỊCH VỤ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG SAU
KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 48
3.1. Cam kết của Việt Nam về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng
trong WTO 48
3.1.1. Dịch vụ ngân hàng 48
3.1.2. Dịch vụ bảo hiểm 48
3.1.3. Dịch vụ chứng khoán 49
3.2. Tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng sau khi Việt Nam gia nhập
WTO 49
3.3. Đánh giá quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng sau khi
Việt Nam gia nhập WTO 59
3.3.1. Đối với lĩnh vực ngân hàng 59
3.3.2. Đối với lĩnh vực bảo hiểm 64
3.3.3. Đối với các dịch vụ chứng khoán 67
CHƢƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TỰ DO HÓA DỊCH VỤ
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 72
4.1. Các quan điểm và định hƣớng của chính sách tự do hoá dịch vụ tài
chính - ngân hàng sau khi Việt Nam gia nhập WTO 72
4.1.1. Các định hướng cơ bản 72
4.1.2. Các quan điểm thực hiện cho quá trình tự do hoá dịch vụ tài chính. 73 4.1.3. Thuận lợi và khó khăn của quá trình tự do hoá dịch vụ tài chính 75
4.2. Những gợi ý đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện tự do hóa
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hoạt động dịch vụ tài chính vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế như chưa
tạo dựng được thương hiệu riêng, tính tiện ích chưa cao, việc tiếp cận dịch vụ còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu
của xã hội, của quá trình hội nhập quốc tế. Trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động về dịch vụ tài chính
- ngân hàng được dự báo là có sự cạnh tranh khốc liệt nhất, do trước khi gia nhập WTO chúng ta có sự bảo hộ của
nhà nước, còn sau khi gia nhập WTO thì “sân chơi” đã bình đẳng, các bảo hộ của nhà nước đang dần dần bị xóa bỏ.
Vậy các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính cần phải làm gì để không phải “thua ngay” trên “sân nhà” khi các chủ thể
nước ngoài được kinh doanh như các chủ thể trong nước? Các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính cần phải làm thế
nào để đáp ứng như cầu tăng trưởng nền kinh tế của Việt Nam, vừa phải đáp ứng những yêu cầu về mặt an toàn cũng
như mang lại hiệu quả cho chính chủ thể cung cấp dịch vụ, đồng thời phải đáp ứng các chuẩn mực quốc tế? Đó là
những vấn đề cần phải giải đáp.
Theo đà phát triển đó, Việt Nam sẽ phải mở cửa ở hầu hết các lĩnh vực, trong đó tự do hoá dịch vụ tài chính - ngân
hàng đang trở thành vấn đề có tính thời sự hiện nay. Mặc dù trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, cũng như sau khi
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài
nước đề cập đến các vấn đề về tự do hóa thương mại, trong đó có dịch vụ tài chính - ngân hàng.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu sâu hơn về quá trình thực hiện các cam kết về tự do hóa dịch vụ tài chính ngân
hàng trong khuôn khổ GATS/WTO của một số nước, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới. Vì vậy, việc
nghiên cứu đánh giá một cách hệ thống và toàn diện quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng trong khuôn
khổ GATS/WTO, các quy định pháp luật quốc tế, các cam kết và lộ trình thực hiện, các rào cản pháp lý mà Việt
Nam phải thực hiện; kinh nghiệm quốc tế và thực trạng tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng ở Việt Nam để từ đó
đề ra những giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng của chúng là yêu cầu cấp thiết đối
với việc tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng tại Việt Nam để nó thực sự trở thành một kinh dẫn vốn đầu tư hiệu
quả cho sự phát triển bền vững nền kinh tế.
Chính vì lý do đó tôi đã chọn đề tài “Tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng, trong khuôn khổ GATS/WTO:
kinh nghiệm quốc tế và những gợi ý đối với Việt Nam” làm luận văn Thạc sỹ kinh tế đối ngoại của mình.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Lộ trình tự do hoá các dịch vụ tài chính - ngân hàng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là một lĩnh vực
rất rộng và phức tạp bao gồm mọi lĩnh vực và trong nhiều trường hợp chúng lại nằm ngoài lĩnh vực tài chính tiền tệ.
Việc am hiểu những kiến thức cơ bản nhất về lĩnh vực tài chính tiền tệ, các phương thức cung cấp dịch vụ tài chính -
ngân hàng, tính cơ động vốn trong dịch vụ tài chính,… hiện nay không chỉ là ốc đảo riêng đầy huyền bí của ngành
tài chính ngân hàng mà còn là những kiến thức bắt buộc đối với các nhà đầu tư và công chúng và là nhu cầu bức
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu, đánh giá những lý thuyết, khung pháp lý về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng từ các
nghiên cứu về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng trong khuôn khổ GATS/WTO.
- Nghiên cứu, phân tích quá trình áp dụng kinh nghiệm tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng của một số
nước, cũng như xem xét các mô hình của nước ngoài nhằm chỉ rõ thuận lợi, khó khăn với điệu kiện thực tế tại Việt
Nam từ đó rút ra các giải pháp khắc phục.
- Phân tích thực trạng và yêu cầu của quá trình thực hiện các cam kết về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân
hàng tại Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp xây dựng, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tự do
hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian sắp tới.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Phân tích quá trình hình thành của tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng;
- Quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng của một số nước; kinh nghiệm và lộ trình thực hiện các cam
kết của Việt Nam về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng trong GATS/WTO.
- Thực tiễn trong việc thực thi các cam kết và khung pháp lý trong việc thực hiện tự do hóa dịch vụ tài chính -
ngân hàng ở Việt Nam trong thời gian qua.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn không giải quyết tất cả các vấn đề về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng mà chỉ tập trung
nghiên cứu những vấn đề lý luận về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng; quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính -
ngân hàng sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO; các cam kết của Việt Nam và lộ trình thực hiện các cam kết
về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng; thông qua việc phân tích, đánh giá quá trình thực hiện tự do hóa dịch vụ
tài chính của một số nước có lựa chọn, đó là: Trung Quốc, Canada, Australia, Thái Lan từ đó đề xuất một số giải
pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam trong thời gian tới.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trước hết luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để phân tích sự hình thành, phát triển các hoạt
động vận chuyển, phân phối và hình thành tự do hóa dịch vụ tài chính.
Bên cạnh đó, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp được sử dụng nhằm nêu rõ quá trình phát
triển của dịch vụ tài chính và việc áp dụng tự do hóa dịch vụ tài chính của các nước tại Việt Nam.
Phương pháp so sánh theo mô hình của McKinnon và Shaw cũng được luận văn sử dụng để làm nổi bật tính
1.1.1.1. Khái niệm về dịch vụ tài chính - ngân hàng
Mục này trình bày khái niệm về dịch vụ tài chính - ngân hàng: “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào
mang bản chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch
vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và những dịch vụ tài chính khác”
1.1.1.2. Phân loại dịch vụ tài chính - ngân hàng
Mục này trình bày và phân loại rõ hơn các lại hình dịch vụ tài chính - ngân hàng trong Hiệp định chung về
thương mại và dịch vụ (GATS), bao gồm:
- Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan tới bảo hiểm;
- Dịch vụ chứng khoán và các dịch vụ liên quan tới chứng khoán;
- Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác.
1.1.2. Khái niệm, bản chất của tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng
Mục này trình bày những nét cơ bản của tự do hóa các dịch vụ tài chính - ngân hàng và nội dung chính của
tự do hóa dịch vụ tài chính từ đó làm sáng tỏ bản chất của tự do hóa tài chính, cụ thể:
- Tự do hóa các dịch vụ tài chính - ngân hàng là quá trình giảm thiểu sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động
của hệ thống tài chính, làm cho hệ thống này hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường.
- Nội dung cơ bản của tự do hóa tài chính bao gồm: Tự do hóa lãi suất, tự do hóa hoạt động cho vay của
các ngân hàng thương mại, tự do hóa hoạt động ngoại hối, tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị
trường tài chính.
- Bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tại vốn có của thị trường và
chuyển vai trò điều tiết tài chính từ Chính phủ sang thị trường, mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà
nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội).
1.1.3. Lý thuyết về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng
Mục này trình bày về các cách lý giải về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng, thông qua việc xây dựng
mô hình của McKinnon và Shaw nhằm phân tích và chỉ ra những tác động tích cực của việc tự do hoá dịch vụ tài
chính - ngân hàng đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước cũng như ở Việt Nam nhằm xây dựng “một con đường
đi” đúng hướng cho mỗi Quốc gia và cho mỗi nền kinh tế là rất quan trọng và cần thiết.
1.1.3.1. Quan điểm của McKinnon và Shaw
Mục này trình bày công trình nghiên cứu của McKinnon và Show, thông qua việc phát triển các mô
hình về phát triển kinh tế McKinnon và Show giải thích tự do hóa các dịch vụ tài chính - ngân hàng sẽ thúc
đẩy tăng trưởng. Nếu tự do hóa các dịch vụ tài chính - ngân hàng được đẩy mạnh sẽ giúp thúc đẩy tự do hóa
càng tăng, các định chế tài chính ngày càng nâng khả năng làm việc: đánh giá, thẩm định dự án được thực hiện
nghiêm túc và đạt hiệu quả cao hơn. Từ đó cải thiện khả năng sinh lời của đồng vốn, làm gia tăng chất lượng của
hiệu quả đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực của xã hội được cải thiện một cách đáng kể.
1.3. Tính tất yếu của việc tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng
1.3.1. Xu hƣớng toàn cầu hóa và tự do hóa thƣơng mại
Mục này trình bày xu hướng phát triển nhanh của toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại và tác động của của
những luồng thương mại quốc tế thâm nhập vào hoạt động của các nền kinh tế đang phát triển, nó tác động vào toàn
bộ cấu trúc kinh tế nói chung và việc phân phối thu nhập, các thông lệ tuyển dụng việc làm, và đặc biệt là việc tăng
năng suất lao động. Những thay đổi về cấu trúc của nền thương mại đã tạo khuôn mẫu mới về trao đổi quốc tế các
hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng. Đối với những nước đang phát triển, điều quan trọng là phải hội nhập hoàn toàn và sử
dụng hết sự tinh thông về kỹ thuật có trong tay để đạt được kết quả tốt trong các lĩnh vực như tự do hóa thương mại
nông phẩm và tự do hóa trao đổi những dịch vụ liên quan mật thiết nhất đến phát triển tương lai của họ. Các Chính
phủ phải thay đổi những chính sách vẫn còn được phép tồn tại bất chấp các luật thương mại hiện hành, những chính
sách cản trở chứ không thúc đẩy thương mại. Vì vậy, vấn đề đặt ra đó là mỗi quốc gia cần phải có những lộ trình hội
nhập, những chính sách, cơ chế giám sát phù hợp trong từng giai đoạn để giảm thiểu những tác động tiêu cực mà tự
do hóa thương mại đem lại.
1.3.2. Yêu cầu của quá trình chuyển đổi và hội nhập kinh tế quốc tế
Mục này trình bày tự do hoá dịch vụ tài chính là một quá trình tất yếu trong hội nhập kinh tế quốc tế. Việc
mở cửa các dịch vụ tài chính mang lại rất nhiều lợi ích cho nền kinh tế nhưng trong điều kiện hệ thống tài chính
trong nước còn bộc lộ nhiều yếu kém, hệ thống luật lệ thiếu, không đồng bộ, cơ chế giám sát vẫn còn chưa hình
thành, tính minh bạch trong việc xây dựng các chính sách vẫn còn nhiều hạn chế, trình độ của các chuyên gia hoạch
định chính sách và quản lý kinh tế trong nước vẫn còn thấp thì tự do hoá các dịch vụ tài chính đương nhiên sẽ dẫn
đến nhiều rủi ro đáng kể. Tuy nhiên, tự do hóa thương mại trong ngành dịch vụ tài chính nếu được thể hiện một
cách minh bạch và có cơ chế chính sách ổn định, sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi khác nhau cho các nước, cho bản
thân ngành tài chính, các ngành liên quan và cho cả nền kinh tế.
1.4. Những cơ hội và thách thức của tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng đối với các nƣớc đang phát
triển
1.4.1 Cơ hội từ tự do hoá dịch vụ tài chính - ngân hàng
Mục này trình bày những cơ hội từ tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng mang lại cho các nước
đang phát triển như đảm bảo nguồn vốn luân chuyển của nước ngoài và trong nước trở thành kênh huy
chứng khoán nhằm tạo điều kiện cho các luồng vốn được lưu thông dễ dàng từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn
nhằm tận dụng tiềm năng vốn trong nước cũng như quốc tế.
CHƢƠNG 2
TỰ DO HÓA DỊCH VỤ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Phân tích quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng của một số quốc gia
Mục này phân tích mức độ cam kết mở cửa thị trường của các nước thành viên WTO trong khuôn khổ hiệp
định GATS. Mức độ cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính nhìn chung không phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế của các nước thành viên. Một số nước phát triển đưa ra những cam kết không được cởi mở lắm trong
khi đó có những nước đang phát triển hoặc kém phát triển vẫn cam kết mở cửa thị trường rộng rãi hơn. Quyết sách
để đưa ra mức độ mở cửa thị trường dường như phụ thuộc nhiều hơn vào những lợi ích tiềm năng có thể mang lại
và khả năng cạnh tranh của hệ thống dịch vụ tài chính nội địa.
2.1.1. Quá trình thực hiện tự do hóa tài chính - ngân hàng của Trung Quốc
Mục này trình bày quá trình tự do hóa tài chính - ngân hàng của Trung Quốc, những đặc điểm chính của thị
trường dịch vụ tài chính - ngân hàng của Trung Quốc được tập trung phân tích những vấn đề cơ bản sau:
Một là: Đối với hệ thống ngân hàng.
Hai là: Đối với thị trường bảo hiểm.
Ba là: Đối với thị trường chứng khoán.
2.1.2. Quá trình thực hiện tự do hóa tài chính - ngân hàng của Canada
Mục này trình bày quá trình tự do hóa tài chính - ngân hàng của Canada, những đặc điểm chính của thị
trường dịch vụ tài chính - ngân hàng của Canada được tập trung phân tích những vấn đề sau:
Một là: Đối với hệ thống ngân hàng.
Hai là: Đối với thị trường bảo hiểm.
Ba là: Đối với thị trường chứng khoán.
2.1.3. Quá trình thực hiện tự do hóa tài chính ngân hàng của Australia
Mục này trình bày và phân tích chung quá trình tự do hóa tài chính - ngân hàng của Australia, những
đặc điểm chính của thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng của Australia. Thông qua các chỉ số phân tích cho
thấy Australia là thị trường hấp dẫn nhất để các nhà quản lý vốn mở rộng hoạt động. Australia đã xây dựng
được tiếng tăm là trung tâm dịch vụ tài chính trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
CHƢƠNG 3
TỰ DO HÓA DỊCH VỤ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
3.1. Cam kết của Việt Nam về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng trong WTO
3.1.1. Dịch vụ ngân hàng
Mục này trình bày về cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng:
Một là: Về cơ bản, Việt Nam không cam kết đối với hình thức cung cấp dịch vụ qua biên giới, trừ dịch vụ cung
cấp thông tin tài chính và các dịch vụ tư vấn phụ trợ.
Hai là: Không hạn chế tiêu dùng ở nước ngoài.
Ba là: Chỉ các ngân hàng nước ngoài có tổng tài sản lớn hơn 10 tỷ USD mới được thành lập ngân hàng
100% vốn nước ngoài (từ 4/2007); trên 20 tỷ USD mới được thành lập chi nhánh. Ngân hàng nước ngoài được
phép phát hành thẻ tín dụng. Chi nhánh của ngân hàng nước ngoài được phép huy động tiền đồng tăng dần theo
thời gian (từ 01/01/2011 sẽ được phép như ngân hàng trong nước), nhưng không được mở ATM và các điểm giao
dịch ngoài trụ sở. Bên nước ngoài được phép mua tối đa 30% cổ phần của ngân hàng trong nước.
3.1.2. Dịch vụ bảo hiểm
Mục này trình bày về cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm:
Một là: Cho phép cung cấp bảo hiểm qua biên giới cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) và cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và các dịch vụ tư vấn
bảo hiểm.
Hai là: Không hạn chế việc tiêu dùng dịch vụ bảo hiểm ở nước ngoài.
Ba là: Cho phép thành lập công ty bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài kể từ khi gia nhập và cho
phép thành lập chi nhánh của các Công ty bảo hiểm nước ngoài sau 5 năm đối với dịch vụ bảo hiểm phi
nhân thọ. Không hạn chế về số lượng chi nhánh trong nước, đối tượng cung cấp dịch vụ và quy định tái bảo
hiểm 20% cho tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE); từ 01/01/2008, cho phép
công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) được cung cấp dịch vụ bảo hiểm bắt buộc bao gồm:
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, các dự án dầu khí và các dự
án có rủi ro tác động lớn tới môi trường và an ninh công cộng.
Thứ ba: Quan hệ Ngân hàng với khách hàng được xây dựng ổn định, lâu dài.
Thứ tư: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ ngân hàng ngày càng được nâng cấp. Đồng thời, trình độ
đội ngũ nhân viên ngân hàng ngày càng nâng lên, có tính chuyên nghiệp hơn giúp việc xử lý, tác nghiệp được
chính xác.
Thứ năm: Ngân hàng Nhà nước từng bước thực hiện tự do hoá trong điều hành lãi suất thông qua lãi suất
cơ bản và lãi suất tái cấp vốn.
Thứ sáu: Tổ chức bộ máy của các ngân hàng thương mại được hiện đại hoá.
Thứ bẩy: Các cam kết mở cửa thị trường ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho sự tham gia ngày càng nhiều của
các đối tác nước ngoài góp phần thúc đẩy phát triển hệ thống dịch vụ ngân hàng của Việt Nam.
3.3.1.2. Những mặt hạn chế
Mục này chỉ ra một số hạn chế trong lĩnh vực ngân hàng trong quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân
hàng sau khi Việt Nam gia nhập WTO, được thể hiện qua các vấn đề cơ bản sau:
i) Chất lượng hoạt động tín dụng còn thấp.
ii) Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn hạn chế.
iii) Tiềm lực vốn còn nhỏ bé.
iv) Công nghệ ngân hàng lạc hậu.
v) Trình độ quản trị ngân hàng còn bất cập.
vi) Việc thanh toán không dùng tiền mặt còn hạn chế.
3.3.2. Đối với lĩnh vực bảo hiểm
3.3.2.1. Những thành công
Mục này trình bày về một số thành công trong lĩnh vực bảo hiểm trong quá trình tự do hóa dịch vụ tài
chính - ngân hàng sau khi Việt Nam gia nhập WTO:
9
Thứ nhất: Các doanh nghiệp bảo hiểm từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ,
sẵn sàng hội nhập hợp tác quốc tế, thích ứng với lộ trình mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Thứ hai: Kênh phân phối sản phẩm dần được mở rộng.
Thứ ba: Việc tham gia thị trường của những công ty bảo hiểm mới, đặc biệt là các công ty bảo hiểm nước
ngoài sẽ đa dạng hóa và thúc đẩy sự phát triển của thị trường.
Thứ tư: Môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện với hệ thống các văn bản dưới luật được ban hành.
CHƢƠNG 4
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TỰ DO HÓA DỊCH VỤ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
4.1. Các quan điểm và định hƣớng của chính sách tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng sau khi Việt Nam
gia nhập WTO
4.1.1. Các định hƣớng cơ bản
Mục này trình bày về những định hướng cơ bản cần tập trung nghiên cứu và giải quyết trong điều kiện thực
hiện các cam kết hội nhập trong khuôn khổ WTO:
Một là: Cần có sự phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, chính sách thương mại,
chính sách tỉ giá và các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
minh bạch, tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài theo hướng đối xử quốc gia.
Thứ năm: Việt Nam cần tập trung tối đa vị thế của một nước đang phát triển trong các cuộc đàm phán song
phương và đa phương để được hưởng những ưu đãi hoặc nhượng bộ trong việc thực hiện nghĩa vụ với tư cách
thành viên.
4.1.3. Thuận lợi và khó khăn của quá trình tự do hoá dịch vụ tài chính
4.1.3.1. Thuận lợi
Mục này trình bày về một số thuận lợi của Việt Nam trong quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính.
Một là: Việt Nam có hệ thống chính trị ổn định.
Hai là: Nền kinh tế có tốc độ phát triển kinh tế khá cao và ổn định, lạm phát được kiềm chế.
Ba là: Chính phủ có những chủ trương và sách lược phát triển kinh tế đúng đắn; đồng thời thực hiện chính
sách đón đầu, chủ động hội nhập.
Bốn là: Các văn bản pháp luật đảm bảo cho thị trường các dịch vụ tài chính phát triển lành mạnh và ổn
định ngày càng được hoàn thiện.
4.1.3.2. Khó khăn
Mục này trình bày về một số khó khăn, vướng mắc Việt Nam gặp phải trong quá trình thực hiện các cam
kết tự do hóa dịch vụ tài chính.
Thứ nhất: Môi trường pháp lý vẫn còn đang trong giai đoạn hoàn thiện nên hệ thống các văn bản pháp luật
quy định chưa chặt chẽ, đầy đủ và thiếu đồng bộ, các văn bản hướng dẫn triển khai còn chậm.
Thứ hai: Nhận thức của ngưới dân và thu nhập của họ tuy có tăng lên nhưng vẫn còn thấp so với các
nước trong khu vực và thế giới nên họ chưa có điều kiện lưu tâm đến tính tiện ích của các dịch vụ tài chính.
Thứ ba: Năng lực và hiệu quả hoạt động của các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính trong nước còn nhiều
hạn chế.
4.2. Những gợi ý đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng theo
cam kết trong WTO
Mục này trình bày về những gợi ý đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện tự do hóa dịch vụ tài chính -
ngân hàng theo cam kết trong WTO, tập trung ở các điểm cơ bản sau:
i) Mức độ mở cửa đối với các nhà kinh doanh nước ngoài.
ii) Vấn đề kiểm soát luồng vốn và giảm tối đa việc kiểm soát về giá cả và lãi suất trên thị trường tài chính -
lành mạnh của hệ thống tài chính, nhất là hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán.
4.3.2. Lành mạnh hoá hệ thống tài chính
Mục này trình bày về vấn đề cần lành mạnh hóa hệ thống tài chính của quốc gia, bởi đây chính là nhân tố
quyết định để ổn định vĩ mô và đẩy mạnh hội nhập kinh tế của từng quốc gia; cũng là điều kiện tiên quyết để hội
nhập tiền tệ, góp phần thúc đẩy việc hình thành và phát triển một thị trường chung khu vực và thế giới. Cụ thể:
Thứ nhất: Cần hợp tác trong việc phát triển hạ tầng phục vụ cho việc quản trị và giám sát hệ thống tài
chính - ngân hàng trong nước.
Thứ hai: Cung cấp thông tin kinh tế tài chính, nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tiền tệ, quản lý vĩ mô,
cải thiện môi trường hoạt động của các định chế tài chính, các ngân hàng.
Thứ ba: Cần hợp tác trong giám sát tài chính trên phạm vi khu vực, phát triển hệ thống cảnh báo sớm nhằm phát
hiện các khu vực, các điểm dễ tổn thương của hệ thống tài chính.
Thứ tư: Cần lành mạnh hóa trong việc hỗ trợ phát triển công nghệ ngân hàng, nâng cao năng lực quản lý tài
chính tiền tệ, quản trị ngân hàng.
4.3.3. Chủ động trong hội nhập quốc tế
Mục này trình bày về quá trình Hội nhập quốc tế là xu hướng và nhu cầu tất yếu của mỗi quốc gia. Đòi hỏi
Việt Nam phải có những giải pháp đúng đắn cho một lộ trình phù hợp đã cam kết. Việc chủ động hội nhập sẽ giúp
Việt Nam tránh được các rủi ro mà các nước đi trước đã gặp phải, học hỏi rút kinh nghiệm và thu hút thêm các tiềm
lực kinh tế, tài chính của các quốc gia phát triển trên thế giới.
chủ thể cung cấp và sử dụng dịch vụ đó, đồng thời thu hút nguồn lực tài chính để tạo lập nguồn vốn phát triển kinh
tế một cách bền vững mà lại phải đáp ứng các chuẩn mực quốc tế? Đó chính là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.