Thế giới ngày càng hội nhập càng tạo ra cho doanh nghiệp thêm rất nhiều cơ
hội nhưng cũng không ít những thách thức song doanh nghiệp nào cũng đặt ra mục
tiêu hàng đầu là tối đa hoá lợi nhuận, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Để đạt
được điều đó đòi hỏi các nhà quản lý phải có những biện pháp thiết thực trong
chiến lược kinh doanh của mình. Một trong những chiến lược mũi nhọn của các
doanh nghiệp là tập trung vào khâu bán hàng. Đây là giai đoạn cuối cùng của quá
trình luân chuyển hàng hoá trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tạo nguồn thu
bù đắp những chi phí bỏ ra, từ đó tạo ra lợi nhuận phục vụ cho quá trình tái sản
xuất kinh doanh. Vấn đề đặt ra là làm sao tổ chức tốt khâu bán hàng, rút ngắn được
quá trình luân chuyển hàng hoá, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Trong
đó biện pháp quan trọng nhất, hiệu quả nhất phải kể đến là thực hiện tốt công tác
kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng. Kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng giữ vai trò hết sức quan trọng, là phần hành kế toán chủ yếu trong
công tác kế toán của doanh nghiệp. Góp phần phục vụ đắc lực hoạt động bán hàng
của mỗi doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tăng nhanh khả năng thu hồi vốn, kịp
thời tổ chức quá trình kinh doanh tiếp theo, cung cấp thông tin nhanh chóng để từ
đó doanh nghiệp phân tích, đánh giá lựa chọn các phương án đầu tư có hiệu quả.
Sau một thời gian ngắn thực tập ở Công ty cổ phần Tập Đoàn Đại Châu,
được sự quan tâm giúp đỡ của các cán bộ Phòng Kế toán tại Công ty và những
kiến thức đã được học ở trường em nhận thức được vai trò quan trọng của công tác
kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng đối với sự hoạt động và phát triển
! "##
của doanh nghiệp. Vì vậy em đã chọn đề tài:
!"#$%&'()&!"*+ làm đề
tài cho khóa luận tốt nghiệp.
Cùng với sự cố gắng của bản thân, đồng thời được sự huớng dẫn nhiệt tình
Bán hàng hoá có vai trò to lớn trong việc cân đối giữa cung và cầu, thông qua
việc tiêu thụ có thể dự đoán được nhu cầu của xã hội nói chung và của từng khu
vực nói riêng, là điều kiện để phát triển cân đối trong từng ngành từng vùng và trên
toàn xã hội. Qua tiêu thụ, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá mới được thực
hiện.
Bán hàng hoá là cơ sở hình thành nên doanh thu và lợi nhuận, tạo ra thu nhập
để bù đắp chi phí bỏ ra, bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh thông qua các
phương thức tiêu thụ.
Nếu khâu bán hàng hoá của mỗi doanh nghiệp được triển khai tốt nó sẽ làm cho
quá trình lưu thông hàng hoá trên thị trường diễn ra nhanh chóng giúp cho doanh
nghiệp khẳng định được uy tín của mình nhờ đó doanh thu được nâng cao. Như
<! "##
vậy tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
Cùng với việc bán hàng hoá, xác định đúng kết quả tiêu thụ là cơ sở đánh giá
cuối cùng của hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định tại doanh nghiệp,
xác định nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện với nhà nước, lập các quỹ công
ty, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động tốt trong kỳ kinh doanh tiếp
theo, đồng thời nó cũng là số liệu cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm
như các nhà đầu tư, các ngân hàng, các nhà cho vay… Đặc biệt trong điều kiện
hiện nay trước sự cạnh tranh gay gắt thì việc xác định đúng kết quả tiêu thụ có ý
nghĩa quan trọng trong việc xử lý, cung cấp thông tin không những cho nhà quản
lý doanh nghiệp để lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả mà còn cung cấp
thông tin cho các cấp chủ quản, cơ quan quản lý tài chính, cơ quan thuế… phục vụ
cho việc giám sát sự chấp hành chế độ, chính sách kinh tế tài chính, chính sách
thuế…
Quá trình bán hàng có thể chia thành nhiều giai đoạn, song tập trung chủ yếu
vào khâu chi phí và bán hàng. Chi phí chi ra để có được số hàng đem ra bán. Phần
doanh nghiệp
Lợi nhuận gộp về
bán hàng
=
Doanh thu thuần về
bán hàng
- Giá vốn hàng bán
Doanh thu thuần
về bán hàng
=
Tổng doanh thu
bán hàng
-
Các khoản giảm trừ
doanh thu
Các khoản
giảm trừ
doanh thu
=
Chiết khấu
thương mại
+
Giảm giá
hàng bán
+
DT hàng
bán trả lại
+
Thuế TTĐB, thuế
được giao thẳng từ kho của bên cung cấp hoặc giao thẳng từ bến cảng nhà ga chứ
không qua kho của công ty. Bán buôn vận chuyển thẳng là phương thức bán hàng
tiết kiệm nhất vì nó giảm được chi phí lưu thông, tăng nhanh sự vận động của
hàng hoá. Nhưng phương thức này chỉ áp dụng trong trường hợp cung ứng hàng
hoá có kế hoạch, khối lượng hàng hoá lớn, hàng bán ra không cần chọn lọc, bao
gói. Phương thức này có thể thực hiện theo các hình thức sau:
F-.9(:IJG,HE(,48(+KHE(
,:.L@ Theo hình thức này, doanh nghiệp tiến hành buôn bán với bên cung
cấp về mua hàng đồng thời tiến hành thanh toán với bên mua về bán hàng. Cả 3
bên cùng chứng kiến việc giao nhận hàng hoá. Khi bên mua ký nhận đủ hàng và
đã trả tiền hoặc chấp nhận nợ thì hàng hoá được xác định là tiêu thụ.
F-.9(:IJG,HE((:I / :Theo
hình thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, bằng
A! "##
phương tiện vận tải tự có hoặc thuê ngoài chuyển hàng đến giao cho bên mua tại
địa điểm đã qui định trong hợp đồng kinh tế. Hàng hoá được xác định là tiêu thụ
khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận
được hàng và chấp nhận thanh toán.
B##%E( /48(+
Bán lẻ là bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng để thoả mãn nhu cầu cá
nhân và tập thể. Hàng hoá sau khi bán đi vào tiêu dùng trực tiếp, kết thúc khâu
lưu thông. Khối lượng hàng bán thường nhỏ, phong phú đa dạng cả về chủng loại,
mẫu mã. Trong bán lẻ có thể áp dụng các hình thức sau:
"HE( /)48(+ Đây là hình thức bán hàng mà
nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách hàng và giao hàng cho khách.
Trong hình thức này nhân viên bán hàng là người chịu trách nhiệm vật chất về số
hàng đã nhận ra quầy để bán lẻ. Để phản ánh rõ số lượng hàng nhận ra và đã bán
thì nhân viên bán hàng phải tiến hành hạch toán nghiệp vụ trên các thẻ hàng ở
B#N%E( /43
Là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần. Người mua sẽ thanh toán lần
đầu tại thời điểm mua. Số tiền còn lại người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp
theo. Ngoài số tiền phải trả theo giá mua hàng hoá, người mua còn phải trả thêm
một khoản tiền lãi do trả chậm. Theo hình thức trả góp, về mặt hạch toán khi giao
hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ. Hình thức
này giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ, thu hút được nhiều khách
hàng.
6<65C;4
Trong các doanh nghiệp thương mại hiện nay, kế toán nói chung và kế toán
bán hàng nói riêng đã giúp cho doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước đánh giá mức
độ hoàn thành kế hoạch về giá vốn hàng hoá, chi phí và lợi nhuận, từ đó khắc phục
được những thiếu sót và hạn chế trong công tác quản lý. Việc tổ chức, sắp xếp hợp
lý giữa các khâu trong quá trình bán hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng, đồng thời tạo nên sự thống nhất
trong hệ thống kế toán chung của doanh nghiệp. Nhằm phát huy vai trò của kế toán
D! "##
trong công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, kế toán bán hàng cần thực
hiện tốt những nhiệm vụ sau:
- Phản ánh và giám đốc kịp thời, chi tiết khối lượng hàng hoá dịch vụ mua
vào, bán ra, tồn kho cả về số lượng, chất lượng và giá trị. Tính toán đúng đắn giá
vốn của hàng hoá và dịch vụ đã cung cấp, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp và các chi phí khác nhằm xác định kết quả bán hàng.
- Kiểm tra giám sát tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch bán hàng, doanh
thu bán hàng của đơn vị, tình hình thanh toán tiền hàng, nộp thuế với Nhà nước.
- Phản ánh kịp thời doanh thu bán hàng để xác định kết quả bán hàng, đôn
đốc, kiểm tra, đảm bảo thu đủ và kịp thời tiền bán hàng, tránh bị chiếm dụng vốn
bất hợp lý.
- Đối với hàng hoá dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa có thuế
GTGT.
- Đối với hàng hoá dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc
chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ là tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế GTGT).
- Đối với hàng hoá dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc
thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá thanh toán
bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu.
6=6,6G &&34
Trong doanh nghiệp thương mại doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
thường được thực hiện cho riêng từng loại đó là:
- Doanh thu bán sản phẩm hàng hoá (DTBH).
DTBH = Số lượng hàng bán x giá bán đơn vị
- Doanh thu cung cấp dịch vụ (DTCCDV).
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ là số chênh lệch giữa tổng
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ với các khoản giảm trừ.
H! "##
GTGT phải nộp theo phuơng pháp trực tiếp.
- !"#$: Là số tiền mà doanh nghiệp đã giảm trừ, hoặc đã
thanh toán cho khách hàng do việc khách hàng đã mua hàng hoá, dịch vụ với khối
lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng mua bán.
! "##
- &: Là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn bán
hàng hay hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như: hàng kém
phẩm chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời hạn, không đúng địa
điểm trong hợp đồng.
- 34'$: Là số hàng hoá được coi là tiêu thụ nhưng bị người
mua trả lại và từ chối thanh toán do không phù hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn, quy
cách kỹ thuật, hàng kém phẩm chất, không đúng chủng loại như đã ký kết trong
hợp đồng.
5678: Là sắc thuế tiêu thụ dùng đánh vào một số hàng hóa,
dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục Nhà nước quy định.
9!!: Là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu trong quan hệ
thương mại quốc tế.
&&-0"#00/ 0Là tổng giá trị doanh thu thu về và
chi phí bỏ ra đã bao gồm cả thuế, không tách riêng ra thành 2 phần: Doanh thu tính
thuế (chưa có thuế) và thuế
6=6=6F334.
$EO?M5P
- Hoá đơn bán hàng: Dùng trong doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT
theo phương pháp trực tiếp, hoặc những mặt hàng không phải chịu thuế GTGT.
- Phiếu thu tiền, giấy báo Có của ngân hàng.
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho.
- Hoá đơn GTGT (dùng trong doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ), hoá đơn GTGT cần phải ghi rõ 3 chỉ tiêu: Giá bán chưa tính thuế
+ Thuế GTGT ( đối với các cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương
pháp trực tiếp)
- Kết chuyển doanh thu bán hàng thuần vào tài khoản 911 “ Xác định kết quả kinh
doanh”
F$
- Doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thực hiện trong kì
- Các khoản doanh thu trợ cấp giá, phụ thu mà DN được hưởng
<! "##
* Tài khoản 512 – Doanh thu nội bộ
TK này phản ánh doanh thu của số sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ trong
nội bộ doanh nghiệp hoạch toán ngành. Ngoài ra, Tk này còn sử dụng để theo dõi
một số nội dung được coi là tiêu thụ khác như sử dụng sản phẩm hàng hoá để biếu
tặng, quảng cáo, chào hàng … Hoặc để trả lương cho người lao động bằng sản
phẩm, hàng hoá.
Nội dung TK 512 tương tự như tài khoản 511 và được chi tiết thành 3 TK cấp 2
- TK 5121 “ Doanh thu bán hàng ”
- TK 5122 “ Doanh thu bán thành phẩm ”
- TK 5123 “ Doanh thu cung cấp dịch vụ”
6=6>6F3 52I346
* Tài khoản 521 - Chiết khấu thương mại
TK này dùng để phản ánh các khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho
khách hàng mua với số lượng lớn
, !
Bên Nợ: Các khoản chiết khấu thương mại thực tế phát sinh trong kì
Bên Có: Kết chuyển toàn bộ khoản chiết khấu thương mại sang TK 511
* Tài khoản 531 – Hàng bán bị trả lại
TK này dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm hàng hoá đã tiêu thụ bị
khách hàng trả lại do các nguyên nhân được doanh nghiệp chấp nhận ( kém phẩm
TK 3332, 3333
Thuế TTĐB, XK phải nộp
TK 911
K/c doanh thu thuần
về tiêu thụ
6>67V
6>66751V6
Trị giá vốn hàng xuất bán của doanh nghiệp thương mại chính là trị giá mua
của hàng hoá cộng với chi phí mua hàng phân bổ cho hàng xuất kho trong kỳ.
6>6,6G &&WVX.
A! "##
Hàng hoá mà doanh nghiệp mua về nhập kho, xuất bán ngay hoặc gửi bán…
được sản xuất và mua từ nhiều nguồn, nhều nơi khác nhau, nên giá trị thực tế của
chúng ở những thời điểm khác nhau thường là khác nhau. Do đó khi xuất kho cần
tính giá thực tế theo một trong các phương pháp sau:
%."#00:0";<9!";
Theo phương pháp này,giả thuyết rằng số hàng nào nhập trước thì xuất trước,
xuất hết số hàng nhập trước thì mới xuất số nhập sau theo giá thực tế của số hàng
xuất. Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của hàng mua trước
sẽ được dùng làm gía để tính giá thực tế của hàng xuất trước và do vậy giá trị hàng
tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số hàng mua vào sau cùng.
%."#00:0=<9!";
Phương pháp này giả định những hàng mua sau cùng sẽ được xuất trước tiên,
ngược lại với phương pháp nhập trước xuất trước.
%."#00#>?@
Theo phương pháp này, giá thực tế của hàng xuất kho trong kỳ được tính theo công
Số lượng vật tư hàng tồn đầu kỳ + Số lượng vật tư hàng nhập trước
lần xuất thứ i
>?@B/D Giá này được xác định sau khi kết thúc kỳ
hạch toán nên có thể ảnh hưởng đến công tác quyết toán.
Giá đơn vị bình
quân cả kỳ dự trữ
=
Trị giá thực tế hàng tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Số lượng hàng thực tế tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
%."#00$
Khi áp dụng phương pháp này, toàn bộ hàng biến động trong kỳ được tính theo
giá hạch toán. Cuối kỳ, kế toán phải tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang giá
thực tế theo công thức:
Giá thực tế của hàng
xuất dùng trong kỳ
=
Giá hạch toán của hàng
xuất dùng trong kỳ
x Hệ số giá
Trong đó:
Hệ số giá =
Giá thực tế của hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ
Giá hạch toán của hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ
%."#00/ E
Theo phương pháp này, hàng được xác định theo đơn chiếc hay từng lô và giữ
nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất dùng. Khi xuất hàng nào sẽ tính theo giá
thực tế của hàng đó.
6>6<6( YZ3C2[\V6
D! "##
gửi đi bán được xác định đã tiêu thụ bán bị trả lại
Trị giá vốn của hàng hóa xuất bán
TK 111, 112
Bán hàng vận chuyển thẳng
Thuế GTGT TK 133 TK 1562 TK 911
K/C sang TK
Phân bổ chi phí thu mua cho hang bán ra XĐKQKD
vào cuối kỳ
(T](^7J(KLQL8_PQOL(`KGabQGLG
7c7Nf7g
Cuối kì K/c trị giá hàng còn lại ( chưa tiêu thụ)
TK 156, 157, 151 TK 611 TK 632 TK 911
,H! "##
Đầu kì KC hàng KC giá vốn hàng bán Giá vốn hàng
hóa tồn kho xác định kết quả
kinh doanh
TK 111, 112, 131
Nhập kho hàng
hóa
- TK 641.4: “ Chi phí khấu hao TSCĐ”
- TK 641.5: “ Chi phí bảo hành”
- TK 641.7: “ Chi phí dịch vụ mua ngoài”
- TK 641.8: “ Chi phí bằng tiền khác”
(4H8*+,-
TK 334
TK641 TK111,112,1388
Tiền lương nhân Các khoản ghi giảm
,,! "##
viên bán hàng chi phí bán hàng
TK 152,153 TK 911
Chi phí vật liệu, CCDC Cuối kỳ k/c CPBH để
(phân bổ 1 lần) xác định kết quả KD
TK 214
Trích khấu hao TSCĐ
TK111,112,331 TK 133.1
Thuế GTGT
Chi phí dịch vụ mua ngoài
và chi phí bằng tiền khác
TK 335
Trích trước chi phí
sửa chữa lớn TSCĐ
TK 142, 242
Phân bổ chi phí trả trước
6A6,67&W 0/34&6
-6)(Q23'5,Là những khoản chi phí có
liên quan chung đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng
được cho bất kỳ hoạt động nào. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí
TK 642 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành các tiểu khoản:
- TK 642.1: “ Chi phí nhân viên quản lý”
- TK 642.2: “ Chi phí vật liệu quản lý”
- TK 642.3: “ Chi phí đồ dùng văn phòng”
- TK 642.4: “ Chi phí khấu hao TSCĐ”
- TK 642.5: “ Thuế, phí và lệ phí”
- TK 642.6: “ Chi phí dự phòng”
- TK 642.7: “ Chi phí dịch vụ mua ngoài”
- TK 642.8: “ Chi phí bằng tiền khác”
,=! "##
Tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng ngành, từng đơn vị, có thể mở thêm một
số tiểu khoản khác để theo dõi các nội dung, yếu tố chi phí thuộc quản lý doanh
nghiệp.
(4H8*+,-
TK 334
TK642 TK111,112,1388
,>! "##