Môn: Quản trị rủi ro. QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG CHUỖI CUNG
ỨNG GẠO VIỆT NAM
GVHD: GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân Lớp Ngoại thương 1 – K37
Nguyễn Hoàng Nhi
Nguyễn Ngọc Minh Duyên
Phạm Trần Yến Nhi
Nguyễn Thiên Trang
Nguyễn Thị Ngọc Bích
1 Mục lục
Chương 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LOGISTICS
VÀ CHUỖI CUNG ỨNG. 4
1.1. Khái niệm logistics và chuỗi cung ứng. 4
1.1.1. Khái niệm. 4
1.1.2. Cấu trúc chuỗi cung ứng. 7
1.1.3. Vai trò – ý nghĩa của logistics và chuỗi cung ứng trong hoạt động kinh doanh 10
1.1.4. Quản trị logistics và chuỗi cung ứng 13
1.2. Quản trị rủi ro trong logistics và chuỗi cung ứng. 22
3
4.2. Đo lường rủi ro 97
4.3. Giải pháp 99
4.3.1. Giải pháp chung cho toàn chuỗi cung ứng 99
4.3.2. Giải pháp cho từng khâu 101
4.3.3. Kiến nghị nhà nước 110
Kết luận 112
Tài liệu tham khảo 113 4 Chƣơng 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LOGISTICS
VÀ CHUỖI CUNG ỨNG.
1.1. Khái niệm logistics và chuỗi cung ứng.
1.1.1. Khái niệm.
Logistics và chuỗi cung ứng là hai khái niệm không còn quá mới mẻ trong
hoàn cảnh kinh kế mà thị trường toàn cầu ngày càng mở rộng và phát triển. Theo
quan điểm của các nhà quản trị thì chuỗi cung ứng chính là giai đoạn phát triển cao
hơn của logistics. Bởi lẽ, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và quản
lý cuối thế kỷ 20 đã đưa logistics lên một tầm cao mới. Hơn nữa, trong bối cảnh cạnh
tranh khốc liệt ở thị trường toàn cầu hiện nay, việc giới thiệu sản phẩm mới với chu kỳ
sống ngày càng ngắn hơn, cùng với mức độ kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng đã
thúc đẩy các doanh nghiệp phải đầu tư, và tập trung nhiều vào chuỗi cung ứng của nó.
Điều này, cùng với những tiến bộ liên tục trong công nghệ truyền thông và vận tải, đã
thúc đẩy sự phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý
nó.
“Logistics” theo nghĩa đang sử dụng trên thế giới có nuồn gốc từ từ
thƣơng mại, theo đó thƣơng nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc
bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ
tục giấy tờ khác, tƣ vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng
hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng
để hƣởng thù lao. Dịch vụ logistics đƣợc phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-
stíc (Điều 233- Luật Thương mại Việt Nam năm 2005).
Qua các khái niệm trên, cho dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt, cách trình
bày nhưng trong nội dung tất cả các tác giả đều cho rằng logistics chính là hoạt động
quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho,
sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng nhằm giảm tối đa chi phí
phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của
nguyên vật liệu phục vụ ản xuất cũng như phân phối hàng háo một cách kịp thời.
6
Tóm lại, theo quan điểm của cá nhân thì logistics được hiểu như sau:
Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hoá, nguyên vật liệu
từ khi mua sắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối cho đến khi đưa
đến tay người tiêu dùng.
Các giai đoạn phát triển của logistics
Có thể thấy rằng, khái niệm và hoạt động chuỗi cung ứng ra đời vào những
năm 1980s. Thời kì này các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy rằng phải coi các khách
hàng và các nhà cung ứng như là đồng minh chiến lược, những đơn vị cộng tác kinh
doanh. Chính sự hợp tác, liên kết giữa các bên là cơ sở để hoạt động logistics đạt được
hiệu quả ngày càng cao, giảm sự chồng chéo, hao phí không cần thiết, tập trung vào
việc kinh doanh, thúc đẩy thắng lợi chung. Chuỗi cung ứng ra đời. Đó là một mạng
lưới các cơ sở hạ tầng (nhà máy, kho hàng, cầu cảng, cửa hàng…), các phương tiện
(xe tải, tàu hoả, máy bay, tàu biển…) cùng với hệ thống thông tin được kết nối với
nhau giữa các nhà cung ứng của một công ty và các khách hàng của công ty đó. Các
hoạt động logistics (dịch vụ khách hàng, quản trị dự trữ, vận chuyển và bảo quản hàng
gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao
gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và
khách hàng của nó.
Sơ đồ một chuỗi cung ứng điển hình
1.1.2. Cấu trúc chuỗi cung ứng.
Trong chuỗi cung ứng có sự kết hợp của một số công ty thực hiện những chức
năng khác nhau. Những công ty đó là nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán sỉ, nhà bán
lẻ và khách hàng cá nhân hay khách hàng là tổ chức.
Nhà sản xuất
8
Nhà sản xuất là các tổ chức sản xuất ra sản phẩm. Nhà sản xuất bao gồm những
công ty sản xuất nguyên vật liệu và công ty sản xuất thành phẩm. Các nhà sản xuất
nguyên vật liệu như khai thác khoáng sản, khoan tìm dầu khí, cưa gỗ. . . và cũng bao
gồm những tổ chức trồng trọt, chăn nuôi hay đánh bắt thuỷ hải sản. Các nhà sản xuất
thành phẩm sử dụng nguyên vật liệu và các bộ phận lắp ráp được sản xuất ra từ các
công ty khác.
Nhà phân phối
Nhà phân phối là những công ty tồn trữ hàng với số lượng lớn từ nhà sản xuất
và phân phối sản phẩm đến khách hàng. Nhà phân phối bán sản phẩm cho những nhà
kinh doanh khác với số lượng lớn hơn so với khách hàng mua lẻ. Do sự biến động nhu
cầu về sản phẩm, nhà phân phối tồn trữ hàng hóa, thực hiện bán hàng và phục vụ
khách hàng. Một nhà phân phối điển hình là một tổ chức sở hữu nhiều sản phẩm tồn
kho mua từ nhà sản xuất và bán lại cho người tiêu dùng. Có những chức năng khác mà
nhà phân phối phải thực hiện là quản lý tồn kho, vận hành cửa hàng, vận chuyển sản
phẩm cũng như chăm sóc khách hàng. Nhà phân phối cũng là một tổ chức chỉ đại diện
bán hàng giữa nhà sản xuất và khách hàng, không bao giờ sở hữu sản phẩm đó. Loại
nhà phân phối này thực hiện chức năng chính yếu là khuyến mãi và bán sản phẩm.
Với cả hai trường hợp này, nhà phân phối là đại lý nắm bắt liên tục nhu cầu của khách
hàng, làm cho khách hàng mua sản phẩm từ các công ty sản xuất.
Những chiến lược khác nhau cũng dẫn đến các chuỗi cung ứng khác nhau, vì
thế một công ty cần tập trung vào sự nhanh chóng trong phân phối điều này sẽ xây
dựng một chuỗi khác tập trung vào việc hạ thấp chi phí. Những nhân tố này cũng ảnh
hưởng đến cấu trúc của chuỗi cung ứng là: yêu cầu của khách hàng, xu hướng chung
của nền kinh tế, sự sẵn sàng của dịch vụ hậu cần, yếu tố văn hóa, tốc độ đổi mới, sự
cạnh tranh, thị trường, sự sắp xếp về tài chính.
Điểm nhấn trong cấu trúc chuỗi cung ứng là tính tương tác và sự kết nối giữa
các chủ thể trong chuỗi thông qua 3 dòng liên kết:
- Dòng thông tin: Dòng giao và nhận của các đơn đặt hàng, theo dõi quá trình
dịch chuyển của hàng hoá và chứng từ giữa người gửi và người nhận
- Dòng sản phẩm: Con đường dịch chuyển của hàng hoá và dịch vụ từ nhà
cung cấp tới khách hàng, đảm bảo đúng đủ về số lượng và chất lượng
- Dòng tài chính: Chỉ dòng tiền bạc và chứng từ thanh toán giữa các khách
hàng và nhà cung cấp, thể hiện hiệu quả kinh doanh.
1.1.3. Vai trò – ý nghĩa của logistics và chuỗi cung ứng trong hoạt động kinh
doanh
Ngành logistics - chuỗi cung ứng có vị trí ngày càng quan trọng trong các nền
kinh tế hiện đại và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia và
toàn cầu. Phần giá trị gia tăng do ngành logistics và chuỗi cung ứng tạo ra ngày càng
lớn và tác động của nó thể hiện rõ dưới những khía cạnh dưới đây:
11
Logistics - chuỗi cung ứng là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế trong
một quốc gia và toàn cầu qua việc cung cấp nguyên liệu, sản xuất, lưu thông phân
phối, mở rộng thị trường. Trong nền kinh tế hiện đại, sự tăng trưởng về số lượng của
khách hàng đã thúc đẩy sự gia tăng hàng nghìn sản phẩm và dịch vụ mới và giới thiệu,
bán ra và phân phối chúng hàng ngày đến các ngõ ngách của thế giới trong thập kỷ
vừa qua. Để giải quyết các thách thức do thị trường mở rộng và sự tăng nhanh của
hàng hóa và dịch vụ, các hãng kinh doanh phải mở rộng quy mô và tính phức tạp, phát
triển các nhà máy liên hợp thay thế cho những nhà máy đơn. Chuỗi cung ứng hiện đại
đưa 1 sản phẩm đến đúng thời điểm, đúng số lượng, đúng khách hàng. Sản xuất coi
logistics và hoạt động chuỗi cung ứng là việc lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy,
chọn nguồn cung ứng tốt và phân phối hàng hóa thuận tiện, thông suốt…Bởi lẽ các
hoạt động này ảnh hưởng và liên quan chặt chẽ đến thời gian điều hành sản xuất, kế
họach sản xuất, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, tính thời vụ của sản xuất, chi phí
sản xuất, thậm chí ngay cả vấn đề bao bì đóng gói sản phẩm trong sản xuất công
nghiệp hiện đại.
Logistics và chuỗi cung ứng giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi
phí sản trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Quan điểm marketing cho rằng, kinh doanh tồn tại dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu
khách hàng và cho thấy 3 thành phần chủ yếu của khái niệm này là sự phối hợp các nỗ
lực marketing, thỏa mãn khách hàng và lợi nhuận công ty. Logistics và chuỗi cung
ứng đóng vai trò quan trọng với các thành phần này theo cách thức khác nhau. Nó
giúp phối hợp các biến số marketing –mix, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, trực
tiếp làm giảm chi phí, gián tiếp làm tăng lợi nhuận trong dài hạn.
Logistics và chuỗi cung ứng cho phép doanh nghiệp di chuyển hàng hóa và
dịch vụ hiệu quả đến khách hàng: Logistics không chỉ góp phần tối ưu hóa về vị trí
mà còn tối ưu hóa các dòng hàng hóa và dịch vụ tại doanh nghiệp nhờ vào việc phân
bố mạng lưới các cơ sở kinh doanh và điều kiện phục vụ phù hợp với yêu cầu vận
động hàng hóa. Hơn thế nữa, các mô hình quản trị và phương án tối ưu trong dự trữ,
vận chuyển, mua hàng…và hệ thống thông tin hiện đại sẽ tạo điều kiện để đưa hàng
13
hóa đến nơi khách hàng yêu cầu nhanh nhất với chi phí thấp, cho phép doanh nghiệp
thực hiện hiệu quả các hoạt động của mình
Logistics và chuỗi cung ứng có vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định
chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm tàng cho
doanh nghiệp: Một hệ thống logistics và chuỗi cung ứng hiệu quả và kinh tế cũng
tương tự như một tài sản vô hình cho công ty. Nếu một công ty có thể huy động nhanh
nguồn đầu vào và cung cấp sản phẩm cho khách hàng của mình một cách nhanh chóng
chuỗi cung ứng.
Vào năm 1979, Wal-Mart chỉ là một nhà bản lẻ nhỏ ở miền Nam chỉ với 229
cửa hiệu và doanh thu bình quân khoảng một nửa so với cửa hàng của Kmart. Trong
10 năm, Wal-Mart đã thay đổi chính bản thân mình; vào năm 1992, Wal-Mart đạt kỷ
lục về doanh số cao nhất cho mỗi mét vuông diện tích cửa hàng, vòng quay tồn kho
lớn nhất và lợi nhuận hoạt động lớn nhất trong cửa hàng bán lẻ chiết khấu. Ngày nay
Wal-Mart là nhà bán lẻ lớn nhất và lợi nhuận cao nhất trên toàn thế giới. Thực ra, vào
năm 1999, Wal-Mart chiếm gần 5% chi tiêu về bán lẻ của toàn nước Mỹ. Wal-Mart đã
thực hiện được điều đó như thế nào? Khởi điểm chính là nhờ tập trung thường xuyên
vào việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng; mục tiêu của Wal-Mart là đảm bảo cho
khách hàng có được hàng hóa bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu họ muốn và xây dựng
cấu trúc chi phí cho phép có một mức giá cạnh tranh. Yếu tố then chốt để đạt được
mục tiêu này là tạo ra cách thức giúp công ty bổ sung tồn kho trên cơ sở chiến lược về
tồn kho.
Các ví dụ trên mô tả nhiều câu chuyện thành công về quản trị chuỗi cung ứng.
Chúng gợi ý rằng trong một số ngành, quản trị chuỗi cung ứng có lẽ là một nhân tố
quan trọng nhất quyết định thành công của doanh nghiệp. Các ví dụ cũng nêu bật một
câu hỏi quan trọng. Nếu các công ty này cải thiện hiệu quả chuỗi cung ứng bằng cách
tập trung vào sự hợp tác chiến lược, sử dụng các kho hàng tập trung hoặc sử dụng
15
chiến lược dịch chuyển chéo, điều gì ngăn cản công ty khác trong việc áp dụng các kỹ
thuật giống nhau để thiện hiệu quả chuỗi cung ứng của họ?
1.1.4.1.2. Quan điểm chung về quản trị chuỗi cung ứng.
Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng - SCM ra đời sau quản trị logistics và đang
trở thành “mốt thời thượng” trong các hoạt động kinh doanh hiện đại. Người ta bàn về
việc thiết lập các giải pháp SCM, mạng lưới SCM, các bộ phần mềm SCM, nhưng
vẫn băn khoăn tự hỏi: Thực chất SCM là gì ? Ứng dụng SCM ra sao?
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về quản trị logitics và chuỗi cung ứng.
Theo định nghĩa của Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung
hoạt động quản trị logistics và chuỗi cung ứng thành một hoạt động quản trị. Bởi vì
việc phân biết hai hoạt động này lệ thuộc vào ai đang đánh giá vấn đề này, nên từ
phần này sẽ không phân biệt giữa quản trị logistics và quản trị chuỗi cung ứng và coi
quản trị logistics là một bộ phần cấu thành của quản trị chuỗi cung ứng.
1.1.4.1.3. Vai trò của SCM đối với hoạt động kinh doanh
Đối với các công ty, SCM có vai trò rất to lớn, bởi có không ít công ty đã gặt
hái thành công lớn nhờ biết soạn thảo chiến lược và giải pháp SCM thích hợp, ngược
lại, có nhiều công ty gặp khó khăn, thất bại do đưa ra các quyết định sai lầm như chọn
sai nguồn cung cấp nguyên vật liệu, chọn sai vị trí kho bãi, tính toán lượng dự trữ
không phù hợp, tổ chức vận chuyển rắc rối, chồng chéo
Ngoài ra, SCM còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là
marketing mix (4P: Product, Price, Promotion, Place). Chính SCM đóng vai trò then
chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp.
Mục tiêu lớn nhất của SCM là cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng với tổng
chi phí nhỏ nhất.
17
Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận rằng hệ thống SCM
hứa hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty và tạo điều kiện
cho chiến lược thương mại điện tử phát triển. Đây chính là chìa khoá thành công cho
B2B. Tuy nhiên, như không ít các nhà phân tích kinh doanh đã cảnh báo, chiếc chìa
khoá này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các chiến lược dựa trên hệ thống sản
xuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên kết trọng yếu nhất trong dây chuyền
cung ứng.
Trong một công ty sản xuất luôn tồn tại ba yếu tố chính của dây chuyền cung
ứng: thứ nhất là các bước khởi đầu và chuẩn bị cho quá trình sản xuất, hướng tới
những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ; thứ hai là bản thân chức
năng sản xuất, tập trung vào những phương tiện, thiết bị, nhân lực, nguyên vật liệu và
chính quá trình sản xuất; thứ ba là tập trung vào sản phẩm cuối cùng, phân phối và
một lần nữa hướng tới những thông tin tập trung vào khách hàng và yêu cầu của họ.
và đòi hỏi công nghệ tân tiến và cách tiếp cận đổi mới để giải quyết.
1.1.4.2.2. Kiểm soát tồn kho
19
Hãy xem xét trường hợp một người bán lẻ duy trì tồn kho một sản phẩm cụ thể.
Vì nhu cầu khách hàng thay đổi theo thời gian, nhà bán lẻ có thể sử dụng những dữ
liệu quá khứ để dự báo nhu cầu. Mục tiêu của nhà bán lẻ là phải quyết định điểm đặt
hàng lại và mức đặt hàng để tối thiểu chi phí đặt hàng và chi phí tồn kho sản phẩm. Về
cơ bản, tại sao người bán lẻ nên giữ tồn kho ở vị trí đầu tiên? Điều này có phải do sự
không chắc chắn về nhu cầu khách hàng, hay quy trình cung ứng, hoặc do lý do nào
khác? Nếu do sự không chắc chắn về nhu cầu khách hàng, thế có điều gì để giảm thiểu
việc này không? Tác động của các công cụ dự báo được sử dụng trong việc dự báo
nhu cầu khách hàng là gì? Nhà bán lẻ có nên đặt hàng nhiều hơn, ít hơn hay chính xác
nhu cầu dự báo? Và cuối cùng, vòng quay tồn kho nào nên được sử dụng? Điều này
có thay đổi giữa các ngành khác nhau không?
1.1.4.2.3. Các hợp đồng cung ứng
Trong các chiến lược chuỗi cung ứng truyền thống, mỗi bên trong chuỗi tập
trung vào lợi nhuận riêng và vì thế ra các quyết định ít quan tâm đến tác động của
chúng đến các đối tác khác trong chuỗi cung ứng. Mối quan hệ giữa nhà cung cấp và
người mua được thiết lập thông qua phương tiện là các hợp đồng cung cấp cụ thể hóa
về giá cả và chiết khấu số lượng, thời hạn giao hàng, chất lượng, hàng hóa gởi trả lại
và Dĩ nhiên câu hỏi là liệu có hợp đồng cung ứng nào có thể được sử dụng để thay
thế chiến luợc chuỗi cung ứng truyền thống với một chiến lược khác nhằm tối ưu hóa
hiệu quả chuỗi cung ứng của toàn hệ thống? Cụ thể, tác động của chiết khấu số lượng
và các hợp đồng chia sẻ doanh số đến thành tích của chuỗi cung ứng là gì? Có chiến
lược định giá nào mà nhà cung ứng có thể sử dụng để khuyến khích khách hàng mua
nhiều sản phẩm hơn trong khi vẫn gia tăng lợi nhuận của nhà cung cấp?
1.1.4.2.4. Các chiến lược phân phối
Như đã đề cập ở phần trước, đây là chiến lược phân phối mà qua đó các cửa
hàng được cung cấp bởi các nhà kho trung tâm hoạt động như nhà điều phối quy trình
Suy nghĩ đến chiến lược chuỗi cung ứng của bạn không chỉ liên quan đến việc
phối hợp các hoạt động khác nhau trong chuỗi, mà còn quyết định điều gì được thực
21
hiện trong nội bộ và điều gì nên thuê ngoài. Làm thế nào công ty có thể xác định các
hoạt động sản xuất nào thuộc các năng lực cốt lõi và vì vậy nên được hoàn tất ở nội
bộ, và những sản phẩm hoặc bộ phận nào nên được mua từ nguồn cung cấp bên ngoài,
bởi vì các hoạt động sản xuất này không phải là năng lực cốt lõi? Công ty nên sử dụng
việc trao đổi riêng hoặc cộng đồng khi xử lý với các đối tác thương mại?
1.1.4.2.7. Thiết kế sản phẩm
Thiết kế hữu hiệu đóng vai trò then chốt trong chuỗi cung ứng. Hiển nhiên là
việc thiết kế sản phẩm có thể gia tăng chi phí tồn kho hoặc chi phí vận tải liên quan
đến các thiết kế khác, trong khi các phác thảo khác có thể tạo điều kiện thuận lợi
nhằm làm giảm chu kỳ sản xuất.
Việc thiết kế sản phẩm thường rất tốn kém. Khi nào thì nên thực hiện việc tái
thiết kế sản phẩm để giảm chi phí hậu cần hoặc giảm thời gian giao hàng trong chuỗi
cung ứng? Những thay đổi nào nên được thực hiện trong chuỗi cung ứng nhằm tận
dụng ưu thế của việc thiết kế sản phẩm mới?
1.1.4.2.8. Công nghệ thông tin và hệ thống hỗ trợ ra quyết định
Công nghệ thông tin là một công cụ then chốt trong việc quản trị chuỗi cung
ứng hiệu quả. Thực ra, rất nhiều quan tâm hiện tại về quản trị chuỗi cung ứng được cỗ
vũ nhờ những cơ hội có đuợc từ sự xuất hiện khối lượng lớn những dữ liệu và các
khoản tiết kiệm có được từ việc phân tích những dữ liệu này. Vấn đề then chốt trong
quản trị chuỗi cung ứng là dữ liệu nào là quan trọng đối với quản trị chuỗi cung ứng
và dữ liệu nào có thể được bỏ qua? Dữ liệu nên được phân tích và sử dụng như thế
nào? Vai trò của thương mại điện tử là gì? Cơ sở hạ tầng nào cần thiết đối với các đối
tác bên trong chuỗi cung ứng? Cuối cùng, vì cả công nghệ thông tin và hệ thống hỗ trợ
ra quyết định là có thể mua được, thế những công nghệ này có thể được nhìn nhận như
là các công cụ chính được sử dụng để đạt được lợi thế cạnh tranh trên thị trường hay
không?
hoạc giao hàng sai địa điểm, hóa đơn có sai sót, khách hàng vì thế sẽ không thanh toán
23
tiền hàng và nhiều vấn đề khác phát sinh. Các sự kiện không dự đoán này có thể gây
ảnh hưởng lớn tới toàn chuỗi logistics và cung ứng.
Rủi ro rất dễ dàng tác động tới chuỗi cung ứng do ranh giới giữa các mắt xích
trong logistics và các chuỗi cung ứng tích hợp rất linh động. Chỉ một tác động nhỏ
cũng có thể gây ra gián đoạn một khâu của chuỗi cung ứng hay toàn bộ chuỗi cung
ứng hay làm phá vỡ dòng vận chuyển vật chất, thông tin… như đã được thiết lập.
1.2.2. Phân loại rủi ro trong Logistics và chuỗi cung ứng.
Rủi ro trong logistics và chuỗi cung ứng có thể phát sinh từ nhiều sự kiện khác
nhau. Có rủi ro chỉ gây tác động nhỏ, cũng có những rủi ro gây tác động lớn tới chuỗi
cung ứng, thậm chí phá hủy toàn bộ chu trình của chuỗi. Và cũng có những rủi ro xuất
hiện thường xuyên trong quá trình vận hành thông thường và có những rủi ro chỉ xảy
ra với tần xuất rất nhỏ như thảm họa thiên nhiên. Song tóm lại có thể phân loại rủi ro
trong logistics và chuỗi cung ứng thành 2 loại sau:
1.2.2.1. Rủi ro bên trong.
Là những rủi ro nằm trong sự kiểm soát của doanh nghiệp như rủi ro tài chính,
lượng tồn kho quá lớn, lỗi và sai sót từ hệ thống công nghệ thông tin, thiết bị, máy
móc, phương tiện kho bãi,.v v, Rủi ro bên trong là loại rủi ro doanh nghiệp kiểm
soát dễ dàng hơn so với rủi ro bên ngoài. Bởi vì chúng xuất phát trong quá trình vận
hành và hoạt động của một doanh nghiệp. Các loại rủi ro thuộc bên trong doanh
nghiệp thường bao gồm:
Rủi ro sản xuất: Rủi ro phát sinh trong quá trình vận hành sản xuất hay
gián đoạn trong một hay nhiều khâu sản xuất của doanh nghiệp, rủi ro do lượng hàng
tồn kho quá mức, thiếu hụt nguyên vật liệu…
Rủi ro kinh doanh: Gây ra do sự thay đổi trong cơ cấu nhân sự, cơ cấu
quản lý trong quá trình kinh doanh, ví dụ như sự thiếu hụt nguồn nhân lực có kĩ năng,
24