giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công trình tại công ty Tây Hồ - Pdf 25


MỞ ĐẦU
Vấn đề hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay đang được bàn đến rất nhiều trên
các thông tin đai chúng, đặc biệt sau khi Việt Nam ra nhập tổ chức thương
mại WTO. Đảng và Nhà nước đã khẳng định điều này sẽ mang đến nhiều cơ
hội những cũng sẽ ẩn chứa nhiều thách thức mà ta sẽ phải đối mặt.
Muốn Việt Nam vững bước trên con đường hội nhập thì ta phải giải
quyết triệt để các vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay. Hiện nay, một trong
những vấn đề gây bức xúc nhiều trong giới dư luận chính là việc các công
trình đầu tư lớn của Nhà nước bị đổ sập. Năm vừa qua là năm liên tiếp sập các
công trình xây dựng như vụ sập cầu Cần thơ, cao ốc Pacific cuối năm
1997 . . . Nó thật sự là thảm họa đã cướp đi sinh mạng của nhiều người và gây
thiệt hại hàng tỷ đồng cho ngân sách nhà nước. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế
nào để giải quyết được tình trạng chất lượng công trình đang ngày càng bị vi
phạm một cách nghiệm trọng như vậy. Phải chăng chúng ta nên quan tâm
đúng mức hơn nữa đến vấn đề nâng cao chất lượng công trình? Đúng vậy, vấn
đề này đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trong toàn xã hội, trong đó doanh
nghiệp xây dựng giữa vai trò hết sức quan trọng bởi họ chính là những người
trực tiếp thực hiện các công trình. Do vậy, các doanh nghiệp cần chủ động
hơn nữa trong việc nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng để tránh xảy ra
những tình trạng đáng tiếc như trong năm vừa qua.
Công ty Tây Hồ là đơn vị thuộc tổng cục Công nghiệp quốc phòng, được
thành lập năm 1996, từ đó đến nay Công ty đã tham gia nhiều công trình xây
dựng cơ bản và tất cả các công trình đến nay vẫn trong quá trình sử dụng tốt.
Nhưng cũng có một số công trình trong khi đang thi công đã gặp sự cố về chất
lượng. Mặc dù Công ty đã kịp thời phát hiện và khắc phục nhưng dù sao thì
nó cũng đã gây tổn thất về mặt tài chính cho Công ty và làm giảm sức cạnh

1

tranh của Công ty với các đối thủ trên thị trường xây dựng. Thật ra đây là vấn

1.1.1. Chất lượng sản phẩm.
1.1.1.1. Khái niệm về chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử
dụng rất phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Tuy nhiên, để
hiểu rõ và đầy dủ về khái niệm chất lượng sản phẩm thì thật không hề đơn
giản. Bởi đây là một phạm trù phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ
thuật, kinh tế và xã hội. Đứng ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục
tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất
lượng sản phẩm thành những nhóm chủ yêu sau:
- Quan niệm siêu việt: cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo
nhất của sản phẩm.
Quan niệm này quá tính trừ tượng bởi chất lượng sản phẩm không thể
xác định một cách chính xác.
- Quan niệm theo hướng công nghệ: cho rằng chất lượng sản phẩm là
tồng hợp những đặc tính bên trong sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh
được, phản giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng yêu cầu
định trước cho nó, trong những yêu cầu xác định về kinh tế xã hội.
Ưu điểm của quan niệm này là có thể dễ dàng đánh giá được chất lượng
đơn thuần về mặt kỹ thuật và ở mặt tương đối tĩnh.

3

Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là dễ dẫn đến nguy cơ làm cho chất
lượng không kịp thời cải tiến, không gắn chặt với nhu cầu thị trường và dẫn
đến kết quả là tiêu thụ sản phẩm kém.
- Quan niệm theo hướng khách hàng: theo hướng này có rất nhiều
chuyên gia nổi tiếng như:
Theo W.E.Deming: “ Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng
đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp
nhận”.

Cho tới nay quan niệm chất lượng sản phẩm tiếp tục được mở rộng hơn
nữa, “Chất lượng là sự kết hợp giữa các đặc tính của sản phẩm thỏa mãn
những nhu cẩu của khách hàng trong giới hạn chi phí nhất định. Trong thực tế
ta thấy rằng các doanh nghiệp không theo đuổi chất lượng cao với bất cứ giá
nào mà luôn đặt nó trong một giới hạn về công nghệ, kinh tế, xã hội.
1.1.1.2. Phân loại chất lượng sản phẩm.
Qua sự phân tích nghiên cứu, các chuyên gia chất lượng sản phẩm đã
đưa ra 6 loại chất lượng sản phẩm như sau:
Chất lượng thiết kế: là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của
sản phẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra để
sản xuất, chất lượng thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, các
yêu cầu về vật liệu chế tạo, những yêu cầu về gia công, sản xuất chế tạo, yêu
cầu về bảo quản, về thử nghiệm và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng. Chất
lượng thiết kế còn gọi là chất lượng chính sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lý
thuyết đối với nhu cầu thị trường, còn thực tế có đạt được điều đó hay không
thì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.

5

Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó
được phê duyệt trong quá trình quản lý chất lượng và người quản lý chính là
các cơ quan quản lý và chính chỉ có họ mới có quyền phê chuẩn. Sau khi phê
chuẩn rồi thì chất lượng này trở thành pháp lệnh, văn bản pháp quy.
Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản
phẩm và nó được thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sản
phẩm.
Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng
chuẩn và chất lượng thực tế của sản phẩm. Chất lượng cho phép do cơ quan
quản lý chất lượng sản phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế,
hợp đồng giữa đôi bên quy định.

sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
- Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật:
Trong thời đại ngày nay, trình độ chất lượng của bất cứ sản phẩm nào
cũng gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học – kỹ thuật, đặc biệt
là sự ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Hướng chính
của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:
+ Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế.
+ Cải tiến hay đổi mới công nghệ.
+ Cải tiến sản cũ và chế thử sản phẩm mới.
- Hiệu lực của cơ chế quản lý:

7

Có thể nói rằng khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi
tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý của mỗi nước.
Hiệu lực quản lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất
lượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy
tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dung.
Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải
tiến chất lượng sản phẩm của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi
cho việc huy động các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng
những phương pháp quản lý chất lượng hiện đại.
* Nhóm yếu tố bên trong tổ chức.
Trong phạm vi một tổ chức thì có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất
lượng sản phẩm ( được biệu thị bằng quy tắc 4 M), đó là:
- Men (con người): lực lượng lao động trong tổ chức (bao gồm tất cả
thành viên trong tổ chức, từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên thừa hành). Năng
lực, phẩm chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng.
- Methods (phương pháp): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức

của quản lý chất lượng chính là các sản phẩm của tổ chức, trong đó bao gồm
hàng hóa, dịch vụ hoặc quá trình.
[2]
[
1] Quản lý chất lượng trong các tổ chức, Nxb Thống kê( từ trang 35-37)
[
2] Trang web: Công ty cổ phần cơ giới, lắp máy & xây dựng - VIMECO

9

1.1.2.2. Sự ra đời của quản lý chất lượng trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế.
Ta sẽ chỉ xét quản lý chất lượng ở cấp doanh nghiệp. Hoạt động quản lý
chất lượng trong các doanh nghiệp hay nói rộng hơn là của các tổ chức không
phải là nhà nước hết sức đa dạng do tính chất hoạt động của các tổ chức này.
Theo Bộ Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000 được thông qua lần đầu tiên vào
năm 1987 (ISO 9000:1987), đến năm 2000 bộ tiêu chuẩn này đã được sửa đổi
bổ xung lần thứ ba với ký hiệu ISO 9000:2000. Đây là sự thay đổi về chất đối
với bộ tiêu chuẩn này, đó chính là sự thay đổi khái niệm “đảm bảo chất
lượng” bằng “quản lý chất lượng”. Khái niệm “quản lý chất lượng” không chỉ
dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn
cho tất cả các tổ chức khác như tổ chức sự nghiệp: Nhà trường, bệnh viện,
viện nghiên cứu…và cả các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính
trị. Nghĩa là có thể áp dụng cho tất cả những tổ chức nào muốn nâng cao hiệu
quả hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng tăng của
khách hàng khi sử dụng sản phẩm của mình. Khái niệm sản phẩm ở đây theo
đó cũng hết sức rộng: ‘nó là kết quả của một quá trình hoạt động của con
người’. Đây cũng là hệ quả tất yếu của quá trình quản lý chất lượng của thế
giới trước tác động của quá trình toàn cầu hóa nói chung và tự do hóa thương
mại nói riêng đang ngày càng sâu rộng. Các phương pháp quản lý chất lượng

Ngoài các bộ tiêu chuẩn của ISO về hệ thống quản lý chất lượng (ISO
9001), nhiều các hệ thống khác cũng đang được các doanh nghiệp Việt Nam
xem xét áp dụng, như ISO 14001 – hệ thống quản lý môi trường, HACCP –
Hệ thống Phân tích các nguy cơ và Kiểm soát các điểm trọng yếu trong lĩnh

11

vực nông sản thực phẩm, GMP – Quy chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnh
vực dược và thực phẩm, OHSAS 18001 – Hệ thống quản lý an toàn và sức
khỏe nghề nghiệp, SA 8000 Hệ thống trách nhiệm xã hội và các hệ thống
quản lý chất lượng tích hợp hoặc đặc thù như ISO 22000 Hệ thống quản lý an
toàn thực phẩm (food chain), ISO/TS 29001 Công nghiệp dầu khí và hóa dầu
– Hệ thống quản lý chất lượng trong các ngành công nghiệp đặc thù- yêu cầu
đối với các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ.
Ngoài các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp và các cơ quan hành
chính nhà nước cũng được quan tâm. Điều này chứng tỏ quản lý chất lượng
ngày càng trở nên quan trọng và được áp dụng sâu rộng trong mọi lĩnh vực
của cuộc sống.
1.1.2.3. Các nguyên tắc quản lý chất lượng
Nguyên tắc 1: Định hướng bởi khách hàng.
Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu
những nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng để không chỉ đáp ứng mà
còn vượt cao hơn sự mong đợi của họ.
Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo.
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của
doanh nghiệp. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh
nghiệp để hoàn toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu của
doanh nghiệp.
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.

Chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công
năng, độ tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy;
tính thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế; và đảm bảo về
tính thời gian (thời gian phục vụ của công trình).
Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu
không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản phẩm xây
dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn
đề liên quan khác. Một số vấn đề cơ bản trong đó là:
- Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ trong khi
hình thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến
khảo sát, thiết kế, thi công... đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công
trình sau khi đã hết thời hạn phục vụ. Chất lượng công trình xây dựng thể
hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng , chất lượng dự án đầu tư xây dựng
công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽ thiết kế...
- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của
nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các
bộ phận, hạng mục công trình.
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm,
kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình
thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của

14

đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động
xây dựng.
- Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với
người thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng
đối với đội ngũ công nhân, kỹ sư xây dựng;
- Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng có
thể phục vụ mà còn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trình

tạo, có kỹ năng và kinh nghiệm thích hợp.
- Đảm bảo sắp xếp công việc sao cho phù hợp với chuyên môn của mỗi
cán bộ, công nhân, để phát huy tối đa năng lực của họ.
- Lập báo cáo đánh giá năng lực của các cán bộ kỹ thuật, công nhân hàng
năm thông qua kết quả làm việc để từ đó có kế hoạch cụ thể trong việc xắp
xếp công việc phù hợp với năng lực của từng người. Đồng thời đó sẽ là cơ sở
để xem xét việc tăng lương, thăng chức cho các cán bộ, công nhân.
- Lưu giữ hồ sơ thích hợp về trình độ, kỹ năng, kinh ngiệm chuyên môn,
hiệu quả làm việc của mỗi người lao động. Sau này sẽ dựa vào đó để xem xét
lựa chọn người được cử đi học chuyên tu nâng cao chuyên môn, tay nghề.
- Công ty cần có chính sách đãi ngộ hợp lý cho các bộ cán bộ,công nhân
để có thể khuyến khích họ làm việc hăng say và có trách nhiệm trong công
việc. Việc khuyến khích phải tuân theo nguyên tắc:
+ Gắn quyền lợi với chất lượng công việc. Lấy chất lượng làm tiêu
chuẩn đánh giá trong việc trả lương, thưởng và các quyền lợi khác.
+ Kết hợp giữa khuyến khích vật chất và khuyến khích tinh thần. Thiên
lệch về một phía thì sẽ dễ gây ra tác động ngược lại.

16

- Ngoài ra, Công ty cần lập kế hoạch cụ thể cho việc tuyển dụng lao
động để đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng nguồn lao động để tránh
tình trạng thừa lao động nhưng lại thiếu lao động có tay nghề cao. Kế hoạch
tuyển dụng có thể tiến hành hàng năm hoặc 5 năm 1 lần, tùy theo nhu cầu của
Công ty, và tính chất công việc.
Việc tuyển dụng cần được thực hiện như sau:
+ Lập hồ sơ chức năng: nêu rõ những yêu cầu, tính chất công việc cần
tuyển dụng.
+ Dự kiến trước nội dung thi và cách thức tổ chức, đánh giá và tuyển
chọn.

- Ký hợp đồng giao khoán cho tổ đội thi công -> Theo Quy trình hợp
đồng.
- Ký hợp đồng lao động thời vụ -> Theo quy trình ký kết hợp đồng.
- Phòng QLTC, CNCT lập danh sách BCH, công nhân, đăng ký tạm trú,
tạm vắng.
- Phòng KH-VT thực hiện việc xây dựng lán trại, văn phòng, nhà kho, hệ
thống cấp điện thi công, cấp nước thi công -> Theo quy trình Quản lý Mua và
Thuê và Quy trình ký kết hợp đồng
- BCH công trường và Phòng QLTC thực hiện các nội dung sau (BCH
công trường thực hiện, Phòng QLTC hướng dẫn và nhắc nhở đôn đốc):

18

+ Nhận bàn giao mặt bằng xây dựng công trình (diện tích, mốc, cao độ),
lập biên bản giao nhận
+ Lập danh mục Hệ thống hồ sơ Pháp lý - kỹ thuật trong nhật ký nội bộ
và bảo quản bảo mật tại công trường.
+ Chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ, tài liệu, biểu mẫu… phục vụ thi công theo
quy định về các văn bản, biểu mẫu.
+ Tổ chức cho công nhân học tập về nội quy, an toàn lao động trên công
trường. Lập danh sách xác nhận đã được học ATLĐ.
+ Kiểm tra điều kiện văn phòng, lán trại, kho tàng, đường giao thông, hệ
thống điện, nước, vệ sinh môi trường, kế hoạch vật tư, tài chính. Lập biên bản
xác nhận đủ điều kiện phục vụ thi công.
* Triển khai tổ chức thi công:
• Lập kế hoạch, tiến độ thi công chi tiết :
- Căn cứ biện pháp kỹ thuật thi công được duyệt, BCH công trường và
các tổ đội thi công bàn bạc, thống nhất phân chia tiến độ cho từng giai đoạn
thi công (thể hiện rõ thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc) hoặc phân chia
khối lượng công việc theo từng tháng (xác định rõ khối lượng đầu tháng, khối

đề ra. Khi có sự sai khác vượt mức độ kiểm soát của CNCT, CNCT phải lập
báo cáo đột xuất để đề xuất xin ý kiến xử lý về Phòng QLTC hoặc Ban giám
đốc để có biện pháp điều chỉnh, kiểm soát lại công tác thi công tại công
trường.
• Nghiệm thu công việc nội bộ :
- Quá trình nghiệm thu được thực hiện liên tục song song với công tác
thi công của công nhân trên công trình. Trợ lý kỹ thuật có trách nhiệm đo đạc,

20

kiểm tra, nhắc nhở sửa chữa (nếu có sai sót) trong suốt quá trình thao tác thi
công của công nhân.
- Khi tổ đội thi công hoàn thành một bộ phận hay một công việc, Ban chỉ
huy công trường sẽ xác nhận và cho phép thi công công việc tiếp theo bằng
phiếu nghiệm thu trong phiếu nghiệm thu phải thể hiện khối lượng và chất
lượng kỹ thuật của công việc hoàn thành hoặc số lượng, quy cách mẫu sản
phẩm được lấy để làm kiểm nghiệm.
- Mỗi phiếu nghiệm thu được lập thành 02 bản, mỗi bản đính kèm cho hồ
sơ thanh toán nội bộ của tổ đội thi công. Một bản lưu ở công trường để phục
vụ công tác theo dõi khối lượng ở công trường và việc kiểm soát nội bộ.
- Sau khi thực hiện công tác nghiệm thu nội bộ mới thực hiện việc mời
Tư vấn giám sát, Kỹ thuật A nghiệm thu theo quy định hiện hành.
- Thanh toán nội bộ: Căn cứ vào Hợp đồng giao khoán (thông thường 02
tuần 1 lần vào cuối ngày thứ năm hàng tuần), CNCT nghiệm thu và đề nghị
thanh toán cho tổ đội thi công dựa trên khối lượng từ phiếu nghiệm thu công
việc và đơn giá giao khoán khi cần.
• Quản lý vật tư, máy móc, thiết bị :
- Phòng KH-VT căn cứ phiếu yêu cầu của Ban chỉ huy công trình để
điều động nhân viên cung ứng vật tư hoặc nhà cung cấp cung cấp các loại vật
tư, vật liệu, thiết bị, dịch vụ để công trường theo tiến độ yêu cầu của công

được phân công được thực hiện liên tục trong suốt thời gian thi công của công
trường, kết quả kiểm tra được báo cáo hàng ngày vào nhật ký nội bộ.

22

- Trước khi triển khai một số công tác như: Đổ bê tông, lắp đặt cấu kiện
BTCT, kết cấu sắt thép, lợp mái, lắp đặt hệ thống kỹ thuật và một số công tác
có nguy cơ mất an toàn lao động cao như tháo dỡ coffa, hoàn thiện bên ngoài
phải tiến hành kiểm tra các điều kiện về an toàn là lập biên bản kiểm tra.
• Quản lý các công việc phát sinh :
- Các công tác phát sinh do yêu cầu của Chủ đầu tư:
Ban chỉ huy công trình phải thực hiện đúng những việc sau:
+ Lập biên bản xử lý hiện trường xác nhận nguyên nhân, nội dung, khối
lượng phát sinh có đủ chữ ký A, B, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát.
+ Theo dõi, thực hiện đôn đốc quy trình trình duyệt hồ sơ phát sinh. Từ
chủ trương, thiết kế, dự toán đến khi ra quyết định chỉ định thầu cho đơn vị
thi công.
+ Báo cáo về Công ty (phòng QLTC) các kết quả của từng bước duyệt
hồ sơ phát sinh.
+ Khi cần sự hỗ trợ của Công ty phải báo cáo. Tuy nhiên BCH công
trường vẫn là đầu mối trực tiếp giải quyết các công việc cho đến khi ra văn
bản phê duyệt dự toán phát sinh và chỉ định thầu thi công.
Việc triển khai các bước thi công tiếp theo cho công tác phát sinh thực
hiện theo đúng Quy trình : Biện pháp lỹ thuật, tiến độ, giá cả, giao khoán và
Quy trình: ký phụ lục hợp đồng với Chủ đầu tư, ký hợp đồng giao khoán cho
đội.
- Công tác phát sinh nội bộ
+ Với những phát sinh lớn ảnh hưởng đến kỹ thuật kinh tế, BCH công
trường xem xét, đề xuất xử lý báo cáo ngay về Công ty khi phát hiện.



+ Chuyển hồ sơ thanh toán đã đầy đủ pháp lý, phiếu giá thanh toán đến
bộ phận kế toán của Chủ đầu tư, lập phiếu giao nhận hồ sơ và chuyển một bản
của phiếu giao nhận hồ sơ cho Phòng tài chính - Kế toán.
- Phòng quản lý thi công
+ Kiểm tra hồ sơ thanh toán do Ban chỉ huy công trình chuyển về theo
đúng các quy định đã thống nhất với Chủ đầu tư và Nghị định về quản lý chất
lượng của Nhà nước.
+ Xác nhận vào phiếu đề nghị kiểm tra và trình ký
+ Trường hợp hồ sơ còn thiếu sót thì yêu cầu và phối hợp với Ban chỉ
huy công trường để hoàn chỉnh trong thời gian sớm nhất.
- Phòng Tài chính kế toán:
+ Khi nhận được phiếu giao nhận hồ sơ giữa Ban chỉ huy công trường
và cơ quan thanh toán vốn, Phòng tài chính kế toán đưa vào danh mục theo
dõi nguồn vốn chuẩn bị được thu hồi.
+ Liên hệ cơ quan thanh toán vốn để đôn đốc việc thanh toán vốn.
Trường hợp hồ sơ thanh toán còn gặp vướng mắc thì phối hợp với Ban chỉ
huy công trường để giải quyết.
+ Khi thu hồi được nguồn vốn, tổng hợp và báo cáo trong các hội nghị
giao ban của Công ty.
• Kiểm soát nội bộ :
Việc kiểm soát chất lượng nội bộ được thực hiện ở 2 cấp. Cấp công
trường và cấp Công ty.
- Đối với cấp công trường:
+ CNCT kiểm tra các trợ lý, nhân viên, công nhân dưới sự quản lý của
mình thực hiện đúng quy trình công việc đối với nhiệm vụ được giao.

25

Trích đoạn Những mặt đã đạt được trong công tác quản lý vật liệu xây Những mặt còn hạn chế trong công tác quản lý vật liệu xây Những mặt đã đạt được trong công tác quản lý chất lượng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status