ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
ĐÀO THỊ LỢI
NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CÁC LỚP ĐÀO TẠO BẬC ĐẠI HỌC
THEO HÌNH THỨC LIÊN KẾT TẠI TRUNG TÂM
GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐẶNG XUÂN HẢI
HÀ NỘI - 2006 1.2.6. Giáo dục bậc đại học 27
1.2.7. Giáo dục thường xuyên 27
1.3. Vài nét về xã hội học tập ở nƣớc ta. 31
1.4. Xu thế phát triển của giáo dục thƣờng xuyên và đào tạo
33 bậc Đại học theo hình thức liên kết ở nƣớc ta trong thời kỳ
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc những thập kỷ đầu
của thế kỷ 21- Vấn đề đa dạng hoá phƣơng thức đào tạo bậc
đại học.
1.4.1 Bối cảnh thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá 33
1.4.2 Một số xu thế phát triển của giáo dục thường xuyên
nói chung và đào tạo đại học theo hình thức liên kết nói 36
riêng ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước những thập kỷ đầu của thế kỷ 21.
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC LỚP ĐÀO TẠO
39
BẬC ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC LIÊN KẾT TẠI
TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN TỈNH
2.1. Tình hình kinh tế-xã hội và giáo dục-đào tạo của 39
tỉnh Bắc Giang.
2.1.1. Vài nét về tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh Bắc Giang 39
2.1.2. Khái quát tình hình giáo dục-đào tạo của tỉnh Bắc Giang 44
2.2. Thực trạng phát triển GD-ĐT tại trung tâm GDTX 49
tỉnh Bắc Giang
2.2.1. Một số nét về Trung tâm GDTX tỉnh Bắc Giang
49
2.2.2. Thực trạng GD-ĐT tại trung tâm GDTX
50
tỉnh Bắc Giang
đại học theo hình thức liên kết tại Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên tỉnh Bắc Giang
3.2.1. Mục đích 85
3.2.2. Nội dung thử nghiệm 85
3.3.3. Phương pháp thử nghiệm 86
3.3.4. Tổ chức thử nghiệm 86
Kết luận và khuyến nghị 91
Danh mục các tài liệu tham khảo 95
Phụ lục 100
DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 CLĐT Chất lượng đào tạo
2 CNTT Công nghệ thông tin
3 CNH&HĐH Công nghiệp hoá và hiện đại hoá
4 CĐ Cao đẳng
5 ĐH Đại học
6 GD Giáo dục
7 GD & ĐT Giáo dục và đào tạo
8 GDTX Giáo dục thường xuyên
9 GDCQ Giáo dục chính qui
10 GV Giáo viên
11 HS Học sinh
12 KHCN Khoa học công nghệ
hành đẩy mạnh sự phát triển về giáo dục. Hiện nay chạy đua về phát triển
thực chất là chạy đua về khoa học-công nghệ, mà khoa học-công nghệ đƣợc
quyết định bởi trí tuệ cao - một sản phẩm của nền giáo dục phát triển.
Tuy nhiên để nâng cao mặt bằng dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đủ
số lƣợng, hợp lý về cơ cấu không thể chỉ dựa vào phƣơng thức giáo dục
chính qui. Muốn thực hiện mục tiêu của GD&ĐT, nhằm "nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài", thực hiện công bằng giáo dục và "mọi
ngƣời đi học, học thƣờng xuyên, học suốt đời", thì phải "mở rộng các hình
thức học thƣờng xuyên, đặc biệt là hình thức học từ xa ". [1, tr 34]
Mặt khác, bản thân giáo dục thƣờng xuyên đã tự khẳng định vị trí, vai
trò của mình trong hệ thống giáo dục quốc dân. Cụ thể trong Luật giáo dục đã
2
đƣợc Quốc hội Nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày
14/06/2005 đã khẳng định: "Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính
qui và giáo dục thƣờng xuyên", "giáo dục thƣờng xuyên giúp mọi ngƣời vừa
làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng
hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất
lƣợng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã
hội. Nhà nƣớc có chính sách phát triển giáo dục thƣờng xuyên, thực hiện giáo
dục cho mọi ngƣời, xây dựng xã hội học tập".
Giáo dục thƣờng xuyên đã trở thành một phƣơng thức quan trọng trong
việc thực hiện học tập thƣờng xuyên, suốt đời, giúp mọi thành viên có cơ hội
đƣợc học tập, dễ dàng cập nhật những thông tin về khoa học-công nghệ, đang
từng giờ, từng phút thay đổi.
Trong những năm qua giáo dục thƣờng xuyên đã góp phần đáng kể
trong công cuộc xoá mù chữ, phổ cập giáo dục, từng bƣớc nâng cao mặt bằng
dân trí, nâng tỷ lệ ngƣời lao động đƣợc qua đào tạo cao hơn trƣớc. Đặc biệt
bằng các hình thức liên kết với các trƣờng đại học để đào tạo đại học hệ vừa
xuyên tỉnh Bắc Giang.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình đào tạo bậc đại học nói chung và đào tạo bậc đại học theo
hình thức liên kết nói riêng.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
4
Những biện pháp quản lý các lớp đào tạo bậc đại học theo hình thức
liên kết tại Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên tỉnh Bắc Giang.
5. Giới hạn của đề tài
Về không gian: Các lớp đào tạo bậc đại học theo hình thức liên kết tại
Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên tỉnh Bắc Giang.
Về thời gian: Nghiên cứu sự quản lý các lớp đào tạo bậc đại học theo
hình thức liên kết tại Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên tỉnh Bắc Giang từ
năm 2001-2006.
6. Những luận điểm bảo vệ
Để nâng cao chất lƣợng các lớp đào tạo bậc đại học theo hình thức liên
kết tại Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên tỉnh Bắc Giang thì cần phải:
1. Tăng cƣờng công tác dự báo và lấy thông tin phản hồi đối với việc mở
các lớp liên kết.
2. Tăng cƣờng kế hoạch hoá việc liên kết đào tạo đối với các lớp liên kết.
3. Tăng cƣờng sự phối hợp trong việc triển khai kế hoạch dạy học và
kiểm tra-đánh giá kết quả học tập của học viên.
4. Thực hiện tƣ tƣởng xã hội hoá giáo dục trong quá trình triển khai các
lớp liên kết.
7. Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu tìm ra và vận dụng tốt những biện pháp quản lý các lớp đào tạo
bậc đại học theo hình thức liên kết thì sẽ nâng cao đƣợc chất lƣợng đào tạo
theo hình thức liên kết.
6
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý các lớp đào tạo bậc đại học theo hình
thức liên kết tại Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên tỉnh Bắc Giang.
Chƣơng 3: Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng các lớp
đào tạo bậc đại học theo hình thức liên kết tại Trung tâm giáo dục thƣờng
xuyên tỉnh Bắc Giang.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ CÁC LỚP ĐÀO TẠO BẬC
ĐẠI HỌC THEO HÌNH THỨC LIÊN KẾT
1.1.Vài nét về lịch sử của vấn đề đào tạo liên kết
Nền giáo dục Đại học XHCN của nƣớc ta bắt đầu đƣợc xây dựng từ
1956, sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), Miền Bắc đƣợc giải phóng, đất
nƣớc chuyển sang giai đọan "Xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, giải
phóng Miền Nam thống nhất đất nƣớc".
Đại hội Đảng lần thứ III (Năm 1960) đề ra chủ trƣơng "Vừa đào tạo tập
trung, vừa đào tạo tại chức".
7
Thuật ngữ đại học tại chức đƣợc sử dụng với nghĩa là học không tập
lĩnh vực giáo dục, nghị quyết Đại hội đã ghi: "Phải bố trí hợp lí cơ cấu hệ
thống giáo dục, thể hiện tính thống nhất của quá trình giáo dục, bao gồm
nhiều hình thức đào tạo và bồi dƣỡng chính quy và không chính quy, tập
trung tại chức ". Từ những năm 1988-1991, đã thí điểm hệ đào tạo đại học
không chính quy với những hình thức mới đi đôi với những tên gọi mới nhƣ
đại học mở rộng, tự học có hƣớng dẫn, đào tạo từ xa, Đại học mở (thành lập 2
viện Đại học mở).
Nghị định 90/ CP ngày 24/11/1993 của chính phủ thừa nhận giáo dục
thƣờng xuyên là một trong 5 thành phần của hệ thống giáo dục quốc dân.
Luật giáo dục (Quốc hội thông qua ngày 2/12/1998) coi "giáo dục
không chính quy là một phƣơng thức giáo dục giúp mọi ngƣời vừa làm vừa
học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết,
nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lƣợng
cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội". Với quan niệm
nhƣ vậy thì khái niệm giáo dục không chính quy đồng nghĩa với giáo dục
thƣờng xuyên. Trong luật giáo dục đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã
hội
chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/ 06/ 2005 đã khẳng định: "Hệ thống
giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thƣờng xuyên".
"Nhà nƣớc có chính sách phát triển giáo dục thƣờng xuyên, thực hiện
giáo dục cho mọi ngƣời, xây dựng xã hội học tập".
9
Báo cáo của Chính phủ trƣớc Quốc hội tháng 10/2004: "Các chƣơng
trình giáo dục từ xa vẫn đang trong quá trình xây dựng, tiến độ còn chậm,
chất lƣợng còn thấp; cơ sở vật chất còn nghèo nàn, điều kiện tổ chức thực
hành thực nghiệm còn rất hạn chế. Việc quản lí lỏng lẻo đối với các hệ liên
kết đào tạo có cấp văn bằng đã dẫn đến tình trạng "học giả bằng thật". Đây là
một khâu yếu nghiêm trọng của giáo dục không chính quy ở nƣớc ta".
Theo PGS-TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí thì quản lí
là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra.[19]
Bất luận một tổ chức nào có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều
cần phải có sự quản lí và có ngƣời quản lí để tổ chức hoạt động và đạt đƣợc
mục đích của mình. Ngƣời quản lí là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân
lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ
tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích.
Trên phƣơng diện hoạt động của một tổ chức thì: "quản lí là tác động
có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những ngƣời lao
động nói chung là khách thể quản lí nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến".
[32, tr24]
Hoặc "Hoạt động quản lí là tác động có định hƣớng, có chủ đích của
chủ thể quản lí (ngƣời quản lí) đến khách thể quản lí (ngƣời bị quản lí) trong
một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ
chức". [8,tr1]
Có thể nói: "Quản lý là sự tác động liên tục, có định hƣớng của chủ thể
quản lí ( ngƣời quản lí hay tổ chức quản lí ) lên khách thể (đối tƣợng ) quản
lí
11
về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các
chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra
môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng". [26, tr7]
Theo PGS-TS Đặng Quốc Bảo: Hoạt động quản lí bắt nguồn từ sự phân
công, hợp tác lao động.
Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đạt đến hiệu quả nhiều hơn,
năng suất cao hơn. Trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều
hành, kiểm tra, chỉnh lý. [17]
"cách làm, cách thức tiến hành". [35, tr161]
Biện pháp là cách thức hành động để thực hiện một mục đích, là cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
Các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đã đƣa ra 4 biện pháp quản
lý chính: Biện pháp giáo dục, biện pháp quản lý hành chính, biện pháp tâm
lý-xã hội, biện pháp kích thích lợi ích kinh tế.
- Biện pháp quản lý hành chính tổ chức đó là những hình thức, biện
pháp mà chủ thể quản lý dùng quyền lực trực tiếp đƣa ra các mục tiêu, nhiệm
vụ yêu cầu để khách thể quản lý thực hiện.
Biện pháp này biểu hiện qua các hình thức nhƣ văn bản thông báo, chỉ
thị, nghị quyết, thông tƣ, hoặc là những quy chế nội dung, quy định trong nội
bộ, nhƣ thời khóa biểu, phân công công tác, cũng có thể là chỉ thị bằng lời
nói.
Đặc điểm nổi bật tích cực của biện pháp này là có căn cứ pháp lý, trên
cơ sở các văn bản chính xác cụ thể tạo ra sự thống nhất trong tổ chức, làm
nên sức mạnh tập thể. Đồng thời có sự phân công, phân nhiệm, phân cấp,
phân quyền giữa các tổ chức và các thành viên của nó, tác động trực tiếp
13
đến đối tƣợng, dứt khoát và có hiệu lực nhanh, có tính bắt buộc phải chấp
hành đồng loạt theo nguyên tắc "phục tùng". Tuy nhiên nếu lạm dụng tuyệt
đối hóa biện pháp này dễ dẫn đến tình trạng quan liêu, mệnh lệnh , mất dân
chủ dễ gây tâm lý nặng nề, tiêu cực, thụ động tạo nên tâm lý tự vệ của đối
tƣợng quản lý. Khi vận dụng phƣơng pháp hành chính tổ chức vào thực tiễn
nhà quản lý phải nắm vững pháp chế, nhận thức đƣợc quyền hạn trách nhiệm
cuả mình theo luật định khi đƣa ra văn bản, các quyết định hành chính phải có
cơ sở khoa học và thực tiễn, luôn nắm bắt thông tin phản hồi để có những
điều chỉnh kịp thời.
- Biện pháp kích thích lợi ích kinh tế: Là cách thức tác động gián tiếp
ngƣời quản lý phải làm gì-cũng chính là tìm hiểu các chức năng quản lý.
Bốn chức năng quản lý chủ yếu , cơ bản là:
- Kế hoạch hoá (Planning)
- Tổ chức (Organizing)
- Chỉ đạo-lãnh đạo (Leading)
- Kiểm tra (controlling)
1.2.3.2. Kế hoạch hoá
i-Kế hoạch hoá là một chức năng quản lý. Kế hoạch hoá có nghĩa là xác
định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tƣơng lai của tổ chức và các con
đƣờng, biện pháp, cách thức để đạt đƣợc mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội
dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá:
- Xác định, hình thành mục tiêu (phƣơng hƣớng) đối với tổ chức.
- Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các
nguồn lực của tổ chức để đạt đƣợc các mục tiêu này.
- Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt đƣợc các
mục tiêu đó.
15
ii- Các loại kế hoạch
Sự phân loại kế hoạch gắn liền với sự phân loại mục tiêu. Có ba loại
mục tiêu chính sau đây: Mục tiêu chiến lƣợc, mục tiêu chiến thuật và mục
tiêu tác nghiệp.
Xuất phát từ ba loại mục tiêu nói trên có ba loại kế hoạch:
- Kế hoạch chiến lƣợc: là các bƣớc hoạt động chi tiết đƣợc vạch ra để
đạt đƣợc mục tiêu chiến lƣợc. Những kế hoạch này hƣớng vào những vấn đề
lớn nhƣ: cần phải hoạt động nhƣ thế nào để đáp ứng đƣợc các điều kiện đang
thay đổi; cần phân phối nguồn lực nhƣ thế nào trong phạm vi toàn bộ tổ chức
; Những hành động nào cần tiến hành để tạo nên một nỗ lực chung, thống nhất
và có sức mạnh trong toàn bộ tổ chức để có thể đạt đƣợc mục tiêu chiến lƣợc. Tám lĩnh vực chính cần quan tâm khi xác định mục tiêu chiến lược
Tám lĩnh vực chủ yếu do Drucker đề
xuất cho các tổ chức sinh lời
Tám lĩnh vực đƣợc diễn dịch cho các
tổ chức không sinh lời
17
1. Thị phần cần chiếm lĩnh
2. Sự đổi mới về sản phẩm và những
đổi mới công nghệ cần thiết.
3. Nguồn nhân lực
4.Nguồn tài chính
5. Nguồn vật lực
6. Năng suất lao động
7. Trách nhiệm xã hội
8. Lợi nhuận
1. Nhu cầu xã hội cần đáp ứng
2. Sự đổi mới về sản phẩm dịch vụ xã
hội và đổi mới phƣơng thức hoạt
động tƣơng ứng
3. Nguồn nhân lục
4. Nguồn tài chính
5. Nguồn vật lực
6. Hiệu quả hoạt động
chủ quan thúc đẩy tổ chức phát triển; những nguy cơ cũng có thể đến từ bên
trong hoặc từ bên ngoài tổ chức, đe doạ sự tồn tại cũng nhƣ sự hƣng thịnh của
tổ chức.
Bƣớc 6: Xác định việc mở rộng những biến đổi có tính chiến lƣợc
Bƣớc 7: Ra quyết định chiến lƣợc
Bƣớc 8: Triển khai chiến lƣợc
Bƣớc 9: Đo lƣờng và kiểm tra những tiến bộ: Khi việc triển khai chiến
lƣợc đang tiếp diễn ngƣời quản lý cần tiến hành kiểm tra những tiến bộ của
việc triển khai đó một cách định kì hoặc ở những giai đoạn then chốt. Việc
kiểm tra sự triển khai chiến lƣợc cần trả lời câu hỏi: Chiến lƣợc có đƣợc triển
khai theo kế hoạch hay không? Chiến lƣợc đang triển khai liệu có đạt đƣợc
kết quả mong muốn hay không? 19 1.2.4. Khái niệm về quản lý giáo dục-đào tạo
1.2.4.1. Khái niệm giáo dục và đào tạo
i. Khái niệm giáo dục
Giáo dục là một nhu cầu không thể thiếu đƣợc của xã hội loài ngƣời.
Về bản chất giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm
sống, kinh nghiệm lao động giữa các thế hệ loài ngƣời. Hoạt động giáo dục là
quá trình tác động đến các cá nhân-đối tƣợng của giáo dục hình thành cho họ
những phẩm chất, nhân cách để họ có thể hòa nhập vào đời sống xã hội.
Theo quan điểm của "giáo dục học", giáo dục đƣợc hiểu theo 4 cấp độ
khác nhau, ở cấp độ rộng nhất, giáo dục là quá trình hình thành nhân cách