Thực trạng và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong khu vực Asean - Pdf 25

A - LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu
thế chung. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra cơ hội cho các nền kinh tế,
vừa tăng sức ép cạnh tranh. Trong điều kiện đó, nỗ lực của một nền kinh tế về cải
cách, phát triển, tăng trưởng phải được so sánh với các nền kinh tế cạnh tranh khác
chứ không chỉ so với nền kinh tế của chính mình trong quá khứ. Những tiến bộ đạt
được trước đây rất đáng trân trọng, song mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp, mỗi
ngành nghề phải tiến nhanh hơn các đối thủ cạnh tranh của mình để không bị tụt
hậu và thua thiệt trong kinh doanh.
Nước ta đang đứng trước những bước phát triển mới về hội nhập đòi hỏi phải
nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngành dệt may là một ngành quan
trọng trong cơ cấu nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là ngành dệt may Việt Nam cần
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong nền kinh tế thế giới. Để làm được
điều đó thì trước hết cần phải đánh giá được lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt
Nam ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam so với các
nước khác trong khu vực Asean như thế nào?
Nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề này trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện
nay, tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của
ngành dệt may Việt Nam trong khu vực Asean”.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian hạn hẹp và hiểu biết còn
nhiều hạn chế, nên đề tài thảo luận không tránh khỏi các khuyết điểm. Rất mong
các ý kiến đóng góp của Quý thầy Cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn!
Xin chân thành cảm ơn!
1
B – NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm lợi thế cạnh tranh quốc gia
Lợi thế cạnh tranh quốc gia là lợi thế của một quốc gia trên thị trường quốc
tế đạt được nhờ nhiều điều kiện bên trong khác nhau.
1.2 Các nhân tố tác động đến lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tại sao một quốc gia thành công trên thương trường quốc tế ở một ngành

xem là mối quan tâm chiến lược. Những nhân tố này rõ ràng là những lợi thế hoặc
bất lợi quan trọng đối với ngành công nghiệp phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên
nhiên.
* Nhân tố tri thức
Thể hiện sự hiểu biết của một lượng dân cư đáng kể liên quan đến thị
trường, khoa học, công nghệ của một quốc gia. Sự hiện diện của những nhân tố này
thường xuyên qua chức năng nghiên cứu của một số trường Đại học và viện nghiên
cứu của Chính phủ, tư nhân tại quốc gia đó. Những nhân tố này hết sức quan trọng
để đạt được thành công trong sản xuất sản phẩm và dịch vụ tinh vi, và được tiến
hành trong thị trường phức tạp.
* Nhân tố nguồn vốn
Các quốc gia thường thay đổi khả năng sử dụng, số lượng, chi phí và các
hình thức sử dụng vốn của các ngành công nghiệp quốc gia. Tỷ lệ tiết kiệm, lãi
suất, luật Thuế và thâm hụt ngân sách Chính Phủ của một quốc gia, tất cả đều tác
động đến khả năng sử dụng các nhân tố này. Lợi thế, đối với những ngành chi phí
vốn thấp thường tốt hơn những ngành khác ở những quốc gia với chi phí vốn tương
đối cao, đôi khi mang tính quyết định. Những hãng có chi phí vốn thấp có thể giữ
mức giá của họ thấp và buộc những hãng có chi phí vốn cao hoặc phải chấp nhận
lợi tức đầu tư thấp hoặc dời bỏ ngành kinh doanh.
* Nguồn lực về cơ sở hạ tầng
3
Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống Ngân hàng, hệ thống giao thông vận tải, hệ
thống thông tin liên lạc, hệ thống chăm sóc sức khỏe và khả năng sử dụng cũng như
chi phí sử dụng của hệ thống này của một quốc gia…Cơ sở hạ tầng cũng bao gồm
hệ thống nhà ở, các tổ chức văn hóa ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc sống và
mức độ quốc gia đó thu hút người dân đến sinh sống và học tập.
Các nhân tố nhân lực, vật chất, vốn, tri thức có thể di chuyển giữa các quốc
gia. Những lao động tay nghề di chuyển giữa các nước, vì vậy kiến thức, kỹ thuật
và khoa học cũng di chuyển theo. Sự di chuyển này càng ngày càng gia tăng bởi thế
giới ngày càng kết nối nhiều hơn và việc di chuyển cũng dễ dàng hơn. Việc có sẵn

- Phân khúc thị trường: Nếu có thị trường lớn thì có lợi thế về quy mô dẫn
đến có lợi thế cạnh tranh quốc gia. Nếu có sản phẩm đáp ứng thị phần lớn
trong nước tạo cho doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm để xâm nhập vào
thị trường thế giới… và ngược lại.
- Đặc tính khách hàng nội địa: Nếu khách hàng nội địa có đòi hỏi cao, có
những yêu cầu bất thường về sản phẩm…điều đó tạo ra những áp lực lớn
cho doanh nghiệp buộc họ phải luôn luôn cải tiến và đổi mới sản phẩm,
do đó tạo ra lợi thế cạnh tranh.
- Dự đoán nhu cầu: Dự đoán nhu cầu đem lại lợi ích về cạnh tranh cho
doanh nghiệp trong trường hợp: Thị trường trong nước, nhu cầu nội địa
dự báo nhu cầu thế giới.
Quy mô và mô hình tăng trưởng cầu nội địa càng trở nên quan trọng khi kết
cấu cầu nội địa là phức tạp và phản ánh trước được nhu cầu bên ngoài.
Sự phát triển của nhu cầu nội địa phụ thuộc vào: số lượng khách hàng độc
lập, mức tăng trưởng của nhu cầu nội địa, nhu cầu nội địa ban đầu và mức độ dự
báo của nhu cầu nội địa ban đầu với nhu cầu thế giới, bão hòa sớm thị trường nội
địa và tăng trưởng thị trường nước ngoài.
5
Sự tăng trưởng thị trường nội địa một cách nhanh chóng là một điều
khuyến khích khác nữa để đầu tư vào và chấp nhận những công nghệ mới một cách
nhanh hơn và để xây dựng nên các đơn vị sản xuât có hiệu quả và quy mô lớn. Một
cầu nội địa mới, đặc biệt là nếu nó mô phỏng trước được nhu cầu thế giới, sẽ mang
lại cho các doanh nghiệp trong nước lợi thế nhanh hơn so với các đối thủ cạnh
tranh khi tham gia vào nước ngoài. Một điều quan trọng hơn nữa là sự bão hòa thị
trường mong đợi, điều này sẽ đặt áp lực lên một công ty phải mở rộng những thị
trường quốc tế và tiếp tục đổi mới. Bão hòa thị trường đặc biệt quan trọng nếu nó
xảy ra đồng thời với sự tăng trưởng nhanh chóng của các thị trương nước ngoài.
Đây là tác động qua lại của các điều kiện về cầu, theo đó tạo ra lợi thế cạnh
tranh. Do tầm quan trọng đặc biệt của mình, những điều kiện này có thể dẫn đến
những khích lệ ban đầu và tiếp theo cho việc đầu tư, đổi mới và tiếp tục tăng cường

ảnh hưởng đến bộ mặt quốc tế của doanh nghiệp.
Có lẽ tác động mạnh nhất đến lợi thế cạnh tranh là từ những cuộc cạnh tranh
khốc liệt trong nước. Cạnh tranh trong nước thúc đẩy tính năng động của ngành và
tạo ra áp lực tiếp theo cho việc cải tiến và đổi mới. Cạnh tranh khốc liệt khu vực
buộc các doanh nghiệp phải phát triển các sản phẩm mới, cải tiến các sản phẩm
hiện có, giảm chi phí và giá cả, phát triển công nghệ mới và cải tiến chất lượng và
dịch vụ. Cạnh tranh trong nước sẽ phải đấu tranh với nhau không chỉ vì thị phần mà
còn vì tài năng của nhân viên, vì những tiến bộ kỹ thuật mới của chương trình R&D
và uy tín trên thị trường nội địa. Cuối cùng, cạnh tranh nội địa mạnh mẽ sẽ đẩy các
hãng tới việc tìm kiếm thị trường quốc tế để hỗ trợ cho việc mở rộng quy mô và
đầu tư R&D. Việc thiếu vắng các cuộc cạnh tranh đáng kể sẽ tạo ra sự tự bằng lòng
với bản thân của các doanh nghiệp nội địa và cuối cùng gây hậu quả làm cho các
doanh nghiệp trở nên phi cạnh tranh trên thị trường thế giới.
7
Không phải số lượng các cuộc cạnh tranh mới là quan trọng mà thay vào đó
là cường độ của cạnh tranh và chất lượng của các đối thủ cạnh tranh, điều này tạo
ra sự khác biệt. Đồng thời, chúng cũng rất quan trọng bởi vì chúng tạo ra những đối
thủ cạnh tranh mới và bảo vệ họ chống lại những công ty lâu đời về mặt vị trí cũng
như về sản phẩm và dịch vụ thông qua một tỷ lệ phát triển các doanh nghiệp tương
đối cao.
1.1.2.5 Cơ hội
Cơ hội đóng vai trò trong việc phân loại môi trường cạnh tranh. Cơ hội
thường xuyên xuất hiện ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp, các ngành công
nghiệp và chính phủ. Liên quan đến vấn đề này là những mặt như chiến tranh và
thời kỳ hậu chiến, những phát minh, sáng chế mới quan trọng, những cuộc chuyển
đổi đột ngột nhân tố hay chi phí đầu vào như là khủng hoảng dầu lửa, thay đổi đột
ngột tỷ giá hối đoái…
Cơ hội quan trọng vì chúng tạo ra những sự gián đoạn lớn trong công nghệ
mà điều này cho phép các quốc gia và các doanh nghiệp không có khả năng cạnh
tranh lại có thể vượt qua nhiều đối thủ cạnh tranh lâu đời, thậm chí là cả những

nhân tố đó. Có vẽ như Chính phủ chỉ có thể thúc đẩy lợi ích của việc giành được lợi
thế cạnh tranh nhưng thiếu khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh đó.
Những nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh quốc gia cho phép mỗi một công ty,
trong những ngành nhất định sẽ tìm kiếm và xây dựng được lợi thế riêng biệt để
đảm bảo sự thành công trên thị trường quốc tế. Đó cũng là cơ sở để lựa chọn chiến
lược cạnh tranh mà công ty sẽ áp dụng trên thị trường quốc tế.
9
II. LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC GIA TÁC ĐỘNG ĐẾN NGÀNH DỆT
MAY VIỆT NAM
2.1 Sơ lược vài nét về Ngành dệt may Việt Nam
Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp
Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành dệt may
Việt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát
triển khá mạnh.
Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn
nhanh, tận dụng nguồn nhân lực dồi dào ở Việt Nam và có điều kiện thuận lợi để
mở rộng thị trường trong và ngoài nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế khác nhau, dệt may Việt Nam đã có những bước tiến thần kì trong tăng trưởng
xuất khẩu với hàng loạt các mặt hàng khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg ngày
10/3/2008 Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt - May Việt Nam
đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Với mục tiêu phát triển ngành Dệt - May
trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu,
đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã
hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới.
Năm 2010, ngành dệt may dự kiến kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt khoảng 10,5
tỷ USD, tăng trưởng 12%.
Năm qua, mặc dù hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp,
ngành hàng gặp nhiều khó khăn bởi suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng vẫn là một
năm đầy thành công đối với ngành dệt may Việt Nam.

lực lượng lao động của Thái Lan, Singgapore dự đoán chỉ tăng 1%/năm. Singapore
và Thái Lan tiếp tục phải đối diện với tình trạng thiếu lao động trầm trọng. Do đó,
11
Việt Nam có lợi thế cạnh tranh quốc gia về nguồn nhân lực dồi dào hơn so với
Singgapore và Thái Lan.
Tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động tăng từ 51% lên 65%. Hiện nay,
Việt Nam đang có “Cơ cấu dân số vàng” đây là một lợi thế cạnh tranh quốc gia của
Việt Nam so với Singgapore, Thái Lan đang phải đối mặt với hậu quả kinh tế xã
hội của lực lượng lao động già hóa.
Theo báo cáo được tổ chức Business Monitor International (BMI) công bố,
Việt Nam vẫn có lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài do lực
lượng lao động dồi dào với chi phí thuê mướn rẻ.
Vào Tháng 10/2008, chính phủ Việt Nam đã quyết định nâng mức lương tối
thiểu cho lao động phổ thông làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài từ mức 1,000,000 VND/tháng lên 1,200,000 VND/tháng. Mức lương tối
thiểu tương ứng đối với lao động tại các nhà máy thuộc doanh nghiệp quốc nội
được điều chỉnh trong khoảng 650,000 VND/tháng đến 800,000 VND/tháng. Mức
lương tối thiểu mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2009. Dù vậy, ngay cả khi áp dụng
chính sách này, giá nhân công ở Việt Nam vẫn còn rẻ tương đối so với các nước
trong khu vực Asean (mức lương trả cho lao động Việt Nam cao hơn Cămpuchia,
Lào, Mianma, bằng Indonesia, Philipines nhưng thấp hơn Thái Lan, Malaysia).
Ngành dệt may cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của lợi thế này. Với đặc
thù riêng biệt của mình, ngành dệt may đã tận dụng triệt để lợi thế cạnh tranh này.
Đó là, nhân công dồi dào, cơ cấu dân số vàng, giá nhân công tương đối rẻ…
Tuy nhiên, mặc dù Việt Nam cũng như ngành dệt may đang tân dụng triệt để
lợi thế cạnh tranh quốc gia của mình về yếu tố nhân lực nhưng hiện nay Việt Nam
đang đứng trước nguy cơ mất dần lợi thế cạnh tranh này.
Theo dự kiến đến năm 2015 Việt Nam mới bước vào giai đoạn dân số già,
nhưng với tỷ lệ người trên 65 tuổi năm 2008 là 7,5% thì dân số nước ta đã già
hóa.“Như vậy, quá trình già hóa dân số của chúng ta đến sớm hơn dự kiến. Việt

13
thấp và các cao nguyên. Nguồn nhiệt ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào, số lượng các
giống loài động, thực vật biển và trên cạn khá phong phú, nguồn khoáng sản đa
dạng v.v… là những thuận lợi mà thiên nhiên đã dành cho chúng ta.
Đối với ngành dệt may cũng vậy, việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên để làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất đang được quan tâm.
Trồng bông tập trung làm nguyên vật liệu cho sản xuất. Trên cơ sở kết quả nghiên
cứu khoa học ở Nha Hố, Tập đoàn Dệt May Việt Nam đã cho áp dụng hai phương
thức trồng bông chủ yếu là: trang trại và trong nhân dân. Sau khi tích cực tìm kiếm
những vùng đất thích hợp với cây bông, được sự hỗ trợ tích cực của các địa phương
và các tổ chức liên quan, các công ty bông đã xây dựng được bảy dự án trồng bông
trang trại. Cho đến nay đã có ba dự án được triển khai gồm: 54 ha tại xã Phong
Phú, huyện Tuy Phong (Bình Thuận); 192,5 ha tại xã Ea Súp, huyện Ea Súp (Ðác
Lắc); 20 ha tại xã Lương Sơn, huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận). Các công ty bông
đang tiếp tục hoàn thiện và đưa vào khai thác ba dự án mới: trang trại 200 ha tại xã
Ðác Nông, huyện Cư Giút; trang trại 200 ha tại xã Ðác Gla, huyện Ðác Min (Ðác
Nông); trang trại 120 ha tại huyện Ðiện Bàn (Quảng Nam).
Có thể khẳng định, lĩnh vực sản xuất nguyên liệu cho dệt may trong nước
thời gian qua đã có những bước tiến, tỷ trọng nội địa hoá trong các sản phẩm dệt
may đã tăng trong năm 2009. Theo số liệu ước tính của các chuyên gia thì đến nay
nguyên liệu trong nước cho ngành dệt may như bông đã đáp ứng được 10%; xơ, sợi
tổng hợp đáp ứng khoảng 60%; sợi 70%; vải 50%; Tuy nhiên, để tạo thành lợi thế
cạnh tranh mạnh mẽ thì Việt Nam còn phải cố gắng rất nhiều. Hiện nay, nguyên
liệu trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu; sản lượng, diện tích trồng bông trong
nước còn ít; một số nguyên liệu khác trong nước đã sản xuất được thì giá thành lại
không thấp hơn sản phẩm nhập khẩu mà chất lượng lại không ổn định.
Việt Nam hiện đang phải cạnh tranh rất lớn về nguyên liệu với các nước
trong khu vực Asean, đặc biệt là Indonesia khi đây là nước có nguồn nguyên phụ
liệu dồi dào, các doanh nghiệp hiểu sâu về thị trường xuất khẩu.
14

thôn cũng đã rất phát triển, nhiều vùng sâu, vùng xa cũng đã có đường nhựa đến tận
trụ sở xã. Hệ thống đường sắt, đường thủy, đường hàng không ngày càng được
nâng cấp và phục vụ đắc lực nhu cầu sản xuất cũng như phân phối.
Như vậy, so với Lào có mạng lưới giao thông chưa phát triển : đường bộ vẫn
chưa rải nhựa nhiều, đường sắt không có, đường thủy thì kém phát triển, chủ yếu
lưu thông bằng ô tô và máy bay. Tuy nhiên hai mạng lưới giao thông này cũng
chưa phát triển, giá thành còn cao, chất lượng chưa tốt. Thì Việt Nam có mạng lưới
giao thông phát triển mạnh, phong phú, chất lượng phục vụ ngày càng tăng.
Với một cơ sở hạ tầng ngày một nâng cao là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn
đến lợi thế cạnh tranh quốc gia, nó nâng cao, cũng cố năng lực cạnh tranh quốc gia
đó. Ngành Dệt may Việt Nam cũng không thoát khỏi ảnh hưởng này. Nhờ có hệ
thống Ngân hàng mà ngành có thể huy động vốn một cách nhanh chóng và thuận
tiện hơn, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn trong kinh doanh. Nhờ có hệ thống giao
thông vận tải thuận lợi mà việc vận chuyển nguyên nhiên vật liệu cũng như sản
phẩm cũng dễ dàng hơn, tốn ít chi phí hơn.
Dệt may Việt Nam đã và đang tận dụng rất thành công những lợi thế cạnh
tranh quốc gia về nhân tố nhân lực, như nguồn nhân công dồi dào, ổn định; có tay
nghề, cẩn thận, tỉ mỉ; chi chí lao động giá rẻ Đây có thể coi là lợi thế cạnh tranh
lớn nhất và mạnh nhất của dệt may Việt Nam.
2.2.1.2 Ảnh hưởng của các cơ hội
Cùng với việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã
nhận được các ưu đãi thương mại dành cho thành viên cũng như khả năng tiếp cận
thị trường quốc tế một cách thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm thay đổi vị thế của nhiều nền kinh
tế, thậm chí có trường hợp đã đẩy một vài nền kinh tế xuống tình trạng trượt dốc.
Cămpuchia là một vị dụ đáng quan tâm. Trước khủng hoảng kinh tế, nền kinh tế
16
Cămpuchia đã từng tăng trưởng 10% năm 2007, đến nay, theo dự báo của WB chỉ
còn 1%. Cămpuchia tăng trưởng mạnh nhờ 80% kim ngạch thu được từ xuất khẩu
quần áo giá rẻ sang Mỹ. Nhưng khi kinh tế Mỹ suy thoái, chỉ trong mấy tháng (từ

phó có hiệu quả với áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, tăng lợi thế về nguồn lực thông
qua các chính sách giáo dục, lao động , giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn nguyên
phụ liệu nhập khẩu.
Ngày 8-1-2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 29/QÐ-TTg phê
duyệt chương trình phát triển cây bông vải Việt Nam đến năm 2015, định hướng
đến năm 2020. Theo đó, đến năm 2015, diện tích trồng bông đạt 30 nghìn ha, trong
đó có tưới nước chủ động là 9 nghìn ha, sản lượng 20 nghìn tấn bông xơ; đến năm
2020 là 76 nghìn ha, trong đó có tưới nước chủ động là 40 nghìn ha, đạt sản lượng
60 nghìn tấn bông xơ. Quyết định này cũng nêu rõ ngân sách Nhà nước sẽ hỗ trợ
kinh phí để đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng, các công trình thủy lợi, hệ
thống tưới tiêu tại các vùng được quy hoạch trồng bông tập trung cũng như các cơ
sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm chuyên sâu công nghệ cao. Sẽ thành lập Quỹ bình
ổn giá thu mua bông hạt trong nước để ổn định giá, bảo đảm lợi ích cho người
trồng bông và phát triển ổn định ngành bông. Các đơn vị, tổ chức sản xuất bông
được vay vốn với mức lãi suất phù hợp để mua bông hạt sản xuất trong nước cho
người trồng bông phù hợp với mặt bằng giá thời vụ.
Những chính sách vừa được ban hành sẽ tạo động lực cho người trồng bông,
giúp ngành dệt ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào, tạo chủ động trong sản xuất từ
khâu bông, xơ, vải.
Với vai trò đặc biệt quan trọng của mình, chính phủ Việt Nam đã có tác động
mạnh mẽ và tích cực đối với các yếu tố thuộc nhân tố nguồn lực, các ngành công
nghiệp hỗ trợ và có liên quan, tạo ra rất nhiều cơ hội nhằm gia tăng và phát triển
hơn nữa lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói
riêng.
18
2.2.2 Những nhân tố đang yếu cần phát triển hơn nữa để trở thành lợi thế cạnh
tranh quốc gia
2.2.2.1 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có mối tương quan
Ở Việt Nam, các xí nghiệp sản xuất phụ liệu cho ngành dệt may cũng phát
triển khá nhanh. Hàng loạt nhà máy sản xuất: chỉ, khóa kéo, khuy áo, tấm bông lót,

Nếu làm được như trên thì trong tương lai ngành công nghiệp hỗ trợ và có
mối tương quan với ngành dệt may sẽ phát triển trở thành một lợi thế cạnh tranh
quốc gia mới. Với việc các ngành công nghiệp phụ trợ và hỗ trợ cho Dệt may phát
triển là một tiền đề vô cùng to lớn giúp Dệt may phối hợp và chia sẽ những hoạt
động của dây chuyền sản xuất, giúp cho hoạt động sản xuất cũng như kinh doanh
của ngành đạt hiệu quả cao hơn trên cả thị trường trong nước lẫn quốc tế.
Tuy nhiên, để ngành công nghiệp hỗ trợ này trở thành một lợi thế cạnh tranh
thì ngành dệt may nói riêng và Việt Nam nói chung cần phải cố gắng nỗ lực nhiều
hơn nữa.
Hiện nay, Việt Nam vẫn đang bất lợi về ngành công nghiệp hỗ trợ cho ngành
dệt may so với Thái Lan và Indonexia. Bởi các nước này có nguồn nguyên phụ liệu
dồi dào, có ngành công nghiệp hỗ trợ tương đối mạnh, có thể nói là mạnh nhất
trong khu vực Asean.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2009, Việt Nam đã nhập
khẩu lượng nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất trị giá 9,63 tỉ đô la Mỹ, trong đó
bông chiếm 417 triệu đô la, sợi chiếm 723 triệu đô la, vải chiếm 4,1 tỉ đô la, các
loại phụ liệu chung cho dệt may và da giày chiếm 2,19 tỉ đô la, chất dẻo làm sợi
tổng hợp chiếm 2,2 tỉ đô la. Điều đáng nói là nhiều loại nguyên phụ liệu trong nước
sản xuất được nhưng vẫn nhập khẩu do hàng trong nước chưa đáp ứng được yêu
cầu về chất lượng, mẫu mã, sản lượng, diện tích trồng bông trong nước còn ít; một
số nguyên, phụ liệu trong nước khác đã sản xuất được thì giá thành lại không thấp
20
hơn sản phẩm nhập khẩu mà chất lượng lại không ổn định. Bên cạnh đó, còn do giá
thành của hàng trong nước cao hơn 5% so với hàng nhập khẩu cùng chủng loại, mà
nguồn hàng lại không ổn định
21
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC
GIA CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY TRÊN THỊ TRƯỜNG
QUỐC TẾ
Tuy xét về lợi thế cạnh tranh quốc gia Việt Nam có nhiều lợi thế so với các

Cần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo quan điểm: Đào tạo giữ vị trí
ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng nguồn nhân lực; Đào tạo nguồn nhân lực của
ngành Dệt May cần gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, của ngành, gắn với
tiến bộ của khoa học - công nghệ; Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt May là
công việc chung của chính quyền, của các cơ sở đào tạo, của doanh nghiệp và của
chính bản thân người lao động.
Do đó, Triển khai Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt -
May Việt Nam theo các nội dung sau:
- Mở các lớp đào tạo cán bộ quản lý kinh tế - kỹ thuật, cán bộ pháp chế, cán
bộ bán hàng chuyên ngành Dệt - May, cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề của
các dự án dệt, nhuộm trọng điểm.
- Mở các khoá đào tạo về thiết kế và phân tích vải, kỹ năng quản lý sản xuất,
kỹ năng bán hàng (gồm các kỹ năng thiết kế, làm mẫu, bán hàng, kiến thức về tiêu
chuẩn nguyên liệu, sản phẩm tiêu chuẩn môi trường và lao động).
- Liên kết với các tổ chức quốc tế để cử cán bộ, học sinh tham gia các khoá
đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ pháp chế, cán bộ kỹ thuật, cán bộ bán hàng, đào tạo
công nhân kỹ thuật có tay nghề cao tại các cơ sở đào tạo ở nước ngoài.
- Kết hợp việc đào tạo dài hạn với đào tạo ngắn hạn, kết hợp giữa đào tạo
chính quy với đào tạo tại chỗ, kết hợp giữa đào tạo trong nước với việc cử cán bộ ra
nước ngoài để đào tạo.
23
- Củng cố và mở rộng hệ thống đào tạo chuyên ngành Dệt - May, xây dựng
Trường Đại học Dệt - May và Thời trang để tạo cơ sở vất chất cho việc triển khai
các lớp đào tạo.
- Duy trì thường xuyên các lớp đào tạo hệ cao đẳng, trung cấp, công nhân
thông qua hệ thống các trường chuyên nghiệp của ngành Dệt - May nhằm cung cấp
đủ nguồn nhân lực cho ngành. Hiệp hội Dệt - May Việt Nam và Tập đoàn Dệt -
May Việt Nam là đầu mối để phối hợp và liên kết với các cơ sở đào tạo trong và
ngoài nước triển khai Chương trình đạo tạo nguồn nhân lực cho ngành.
- Chính phủ cần sửa đổi Bộ luật Lao động sao cho phù hợp với việc ưu tiên

Vốn cho đầu tư phát triển: Để giải quyết vốn cho đầu tư phát triển, ngành Dệt -
May Việt Nam huy động vốn từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước thông
qua các hình thức hợp tác kinh doanh, công ty liên doanh, công ty liên kết, cổ phần
hoá các doanh nghiệp, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài. Khuyến
khích các doanh nghiệp huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán (phát
hành trái phiếu, cổ phiếu, trái phiếu quốc tế), vay thương mại với điều kiện có hoặc
không có sự bảo lãnh của Chính phủ.
Vốn cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và xử tý môi trường:
Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các Viện nghiên
cứu, các Trường đào tạo trong ngành Dệt - May Việt Nam để tăng cường cơ sở vật
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status