Nghiên cứu liên kết các mô hình thủy văn - thủy lực trong dự báo lũ sông Hương - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI H ỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
rlii yì i ì K
OlffllCnnJttiliD
ĐỂ TÀI NGHÊN CỨU KHOA HỌC
ĐẠI H ỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
NGHIÊN CỨU LIÊN KẾT
CÁC MỒ HÌNH THUỶ VẢN-THUỶ Lực

TRONG Dự BÁO LŨ SÔNG HƯONG
Mã số: QT 05-38
Chủ trì: PGS-TS. Nguyễn Hữu Khải
.'.AI HỌC QUÔC GIA HA NOl
'RUNG TẨM THÔNG TIN THƯ VIỀN
Dĩ/ s n
■ — -
-HÀ NỘI 2-2006
BÁO CÁO TÓM TẮT
1.Tẽn đề tài: Nghiên cứu liên kết các mô hình thuỷ văn - thuỷ lực trong dự báo lữ
sòng Hương.
2. Mã số: QT-05~38
3. Người chủ trì: PGS-TS Nguyễn Hữu Khải
4.Cán bộ tham gia: - ThS. Đặng Quý Phượng
- CN. Trần Anh Phương
5.Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:
Do đặc điểm của lưu vực sông Hương cũng như các sông miền Trung khác, việc
áp dụng đan thuần mô hình thuỷ văn để tính toán và dự báo sẽ đưa đến độ chính xác
không cao. Vì vậy đề tài nghiên cứu khả năng liên kết mô hình thuỷ vãn HEC-HMS

SUMMARY IN ENGLISH
1-Name subject:
“Researching connection of hydrologic-hydraulic models in flood forecaste in
Huong river basin”
Numerial code: QT-05-38
2. The main responsible person for subject: Ass. Prof Dr Nguyen Huu Khai
3. Combined persons: - Master Dang Quy Phuong
- Post-graduate Tran Anh Phuong
4.Aim and content of the study:
Besause of characteristics of Huong river basin and diffrence basins in Central
part of Vietnam, alone use of hydrologic model to compute and forecast flood didn’t
give hight accuracy. Therefore this subject researched capacity for connection of HEC-
HMS hydrologic model (with help of HEC-GEOHMS model) to route for hillslope
and HEC-RAS hydraulic model to route for downstream of Huong river basin with
aim raising accuracy of flood forecaste.
Contents of subject include 3 problems::
-Generalizating natural characteristics of Huong river basin
-Researching theoretical basic of HEC-HMS, HEC-GEOHMS and HEC-RAS
models.
-Applying above-named models in flood computation and forecast in Huong
river basin.
5. Attained results:
a. About science:
-Gathered a set of topographic, soil, meteoro-hydrologic data of Huong river
basin serving subject
-Researched theoretical basic of HEC-HMS, HEC-GEOHMS and HEC-RAS
models, capacity for they’s connection to predict flood in Huong river basin.
-Applyed above 3 models to compute and forecast flood in Huong river. Results
of calibration and verification of models for nearly great floods showing that
connection of models gived good effect, raising accuracy of predictions.


20
2.1 .Tổng quan các mô hình toán thuỷ vãn 20
2.2. Khái quát cơ sở lý thuyết các mô hình HEC-GeoHMS, HEC-HMS,
HEC-RAS 23
CHUƠNG 3. ÚNG DỤNG CÁC MÔ HÌNH THƯỶ VĂN THUỶ Lực DựBÁO
LŨ SÔNG HUƠNG 38
3.1.Kết hợp các mô hình trong dự báo lũ sông Hương

38
3.2.SỐ liệu đầu vào

38
3.3.Kết quả ứng dụng mô hình
.

42
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
M Ở ĐẨU
Các sông ngòi miền Trung Việt nam, trong đó có sông Hương thường ngẩn
và dốc, hầu hết bắt nguổn từ dãy Trường sơn và đổ ra biển. Địa hình lưu vực thay
đổi nhanh chóng và phức tạp. Phần thượng lưu cao và dốc, lũ lên nhanh nhiều nguy
cơ gây lũ quét, còn phần hạ lưu thấp, độ dốc nhỏ, lòng sông mở rộng, các sông nối
với nhau thành một mạng lưới chẳng chịt, phần của sông gần biển lại hình thành các
đầm phá làm cản trở khả năng thoát nước. Do vậy khi gặp lo lớn vùng này thường
xuyên bị ngập sâu trong nưóc, lũ rút chậm gây nhiều thiệt hại về người và của. Ảnh
hưởng của thuỷ triều lại làm cho mực nước ở khu vực này dâng cao hơn và rút chậm
hơn. Do đặc điểm trên nên nếu chỉ diễn toán lũ đơn thuần bằng mô hình thủy văn sẽ
gặp nhiều khó khăn, nó chỉ tỏ ra có ưu thế khi diễn toán mưa - dòng chảy ở phần

vùng khác nhau: núi, gò đồi trước núi, đồng bằng duyên hải và đụn cát.
1.2.1.Vùng núi
Vùng núi chiếm khoảng 51-55% tổng diện tích lưu vực chủ yếu phân bố ở
phía tây. Ngoài ra ở giữa đồng bằng rải rác có những naọn núi thấp, v ề phương diên
hình thái ở đây chỉ có núi trung bình và thấp. Núi có độ cao trung bình trẽn 1000 m
chiếm 15%. Núi cao nhất của lưu vực sông Hương là dãy Bạch Mã có độ cao 1444
m. Diện tích phân bố của núi thấp chiếm khoảno 40-55% với độ cao từ 100 đến
3
1000m. So với lãnh thổ núi trung bình, núi thấp có độ dốc mặt đất thoải hơn, độ che
phù rừng cũng giảm sút hơn.
1.2.2.Vùng gò đồi trước núi và đồng bằng duyên hải
Đây là vùng lãnh thổ nằm kế cận với vùng núi, có độ cao từ lOOm xuống 15-
lOm và chiếm khoảng 30% diện tích lưu vực.
Đồng bằng duyên hải trải rộng trên không gian 15% điện tích lãnh thổ. Độ
cao mặt đất dao động khoảng từ 0.5- 1 đến 10 -I5m (ở phía tây). Tuy có hướng
nghiêng ra biển Đông nhưng nó có độ dốc rất nhỏ (0.2%-5%). Một vài nơi vẫn gặp
địa hình trũng thấp hơn 0.5- Im, đó là các đầm phá, trằm, bàu. Đồng bằng duyên hải
bị chia cắt mạnh mẽ bởi các mạch núi đâm ngang ra biển .
1.2.3.Cồn cát ven biển
Những cồn cát cao kéo dài song song với đường bờ biển và di động nên gây
cản trở cho việc thoát lũ, là nguyên nhân di động của các cửa sông và gây ngập úng.
1.3.ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, THỔ NHUỠNG
1.3.1.Đặc điểm chung
Các chi lưu của sông Hương chảy qua các vùng đá gốc khác nhau. Thượng
nguồn của sông Hữu Trạch chảy qua các đá mắc ma của phức hệ Quế Sơn, phức hệ
Hải Vân và chảy qua các đá trầm tích, biến chất của hệ tầng Long Đại và hệ tầng
Tân Lâm. Thượng nguồn sông Tả Trạch chảy qua các đá mắc ma của phức hệ Hải
Vân, Quế Sơn, Hải Lộc và chảy qua các đá trầm tích-biến chất thuộc hệ lầng A
Vươtig, hệ tầng Tân Lâm. Đoạn từ ngã ba Tuần đến cửa Thuận An chảy qua các
khối đá mắc ma của phức hệ Bà Nà, phức hệ Đại Lộc và các đá trầm tích của hệ tầng

-Tầng sét, sét pha, cát và cát pha. Phần trên những lớp này thường bị lateit
hoá nên xuất hiện màu loang lổ. Tầng cát, cát pha màu vàng rất đặc trưng, phân bô'
thành từng dải có nhiều ở khu vực Huế. Thành phần chính là cát thạch anh hạt mịn
đều trung bình.
Các thành phần trầm tích trong thời kỳ Holoxen (Qiv) là bộ tầng quan trọng
nhất tạo nên diện mạo hiện tại của vùng đồng bằng khu vực Huế và lân cận, có các
lớp sau:
-Lớp cát màu xám vàng hạt thô đến trung bình.
-Lớp sét, cát có chứa bùn hữu cơ màu xám xanh chiều dày ở khu vực Huế
khoảng từ 10 -20m.
Q-
Tầng trầm tích tuổi (Vlv) rất pho biến trên khu vực sông Hương. Thành phần
chính là sét, sét pha, một vài khu vực cục bộ xuất hiện lớp bùn mỏng. Trong tầng
này có chứa nhiều vật chất hữu cơ nên có màu đen rất đặc trưng. Vị trí của tầng này
tương đối ổn định. Dọc bờ sông Hương lộ ra ở mức xấp xỉ mặt nước vào mùa khô ở
đoạn trung lưu .
Tóm lại, trên lưu vực sông Hương cơ bản là nguồn vật liệu hạt vừa đến mịn.
Do vậy, trên sông Hương ít phát triển các bãi bồi lớn giữa sông. Thổ nhưỡng lưu vực
sông Hương xấu thường nghèo bùn, ít đạm, nghèo lân, nghèo kali nên năng suất cây
trồng thấp.
1.4.ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU
Với vị trí nằm trong khu vực nhiệt đới nèn lưu vực thừa hưởng một chế độ
bức xạ phong phú và có nền nhiệt độ tương đổi cao. Là vùng chuyển tiếp giữa khí
5
hâu miển bắc và khí hậu miền nam với dãy Bạch Mã là ranh giới tự nhiên giữa hai
miền vì vậy đày là nơi diễn ra sự tương tác giữa các vùng không khí xuất phát từ các
trung tâm khí hậu tác động khác nhau trong khu vực gió mùa Đông Nam á, không
khí lạnh từ phía bắc tràn xuống, không khí xích đạo từ phía nam chuyển lên, không
khí biển từ phía đông lấn vào và không khí ở vịnh Bengan từ phía tây vượt qua. Hệ
quả là khí hậu trên lưu vực có tính biến dộng lớn hay xảy ra những dị thường dãn

27.6 26.1
24.4
22.2 19.9
24.4
Mùa hạ có từ 3-4 tháng (khoảng từ tháng IV đến tháng VIII) nhiệt độ trung
bình đạt tói trên 28°c. Nhiệt độ tối cao khoảng 33°c và nhiệt độ tối thấp khoảng
23°c. Biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ khoảng 7- 8°c. Thời kỳ dao động
mạnh nhất là các tháng giữa và đầu mùa hạ, biên độ này đạt tới 9- 10°c. Thời kỳ dao
động ít nhất vào các tháng giữa mùa đông, với biên độ khoảng 5- 6°c.
1.4.2.ĐỘ ẩm
Độ ẩm trong khu vực này rất cao, trung bình năm đạt tới 85- 88%, các tháng
có độ ẩm lớn kéo dài từ tháng IX đến tháng VI, với độ ẩm trung bình trên dưới 90%
(bảng 1.2). Tháng ẩm nhất là giữa mùa đông (tháng XII hoặc tháng I) có độ ẩm
trung bình 90- 93%. Những tháng khô kéo dài khoảng 4 tháng (từ tháng V đến
tháng VII) độ ẩm trung bình vào khoảng 75- 80%. Độ ẩm thấp thường quan trắc
được ở những ngày gió tây khò nóng, độ ẩm tối thấp vào khoảng 15- 20%.
6
Bảng 1.2: Độ ẩm tương đổi trung bình nhiều nám của cúc tháng và cà năm
Trạm
I Q
m
IV V VI
vn
vm
IX X XI xn
Nám
Huế 88
89
86
82 77

ngày/tháng. Trong khu vực này lũ tiểu mãn xuất hiện vào khoảng tháng V hoặc VI.
Bảng 1.3 : Lượng mưa trung bình nhiéu năm của các tháng và cả nãm
Trạm
I n m IV
V
VI vn
vm
IX X XI
xn Nãm
Huế
161.3 62.6
47.1
51.Ế
82.1 116. 95.3
104
473.1 793. 580.6
279. 2867.'
A Lưới
64.5
16.4 58.3 161 194. 251. 148.
150
433.6 732. 639.1
168. 3018.:
Nam Đông
117.1
40.s
42.3 114 182. 298. 169.
176. 477.2
890
696.0 195. 3399.

thường đem đến tổng lượng mưa trung bình từ 150mm đến 400mm, lượng mưa
trung bình trong 24 giờ có thể đạt trên 240mm. Trono trường hợp bão đổ bộ vào đất
liền thuộc khu vực nhưng trước khi vào đất liền quĩ đạo di chuyển của bão không
đơn thuần, đôi khi có dạng thắt nút hoặc đường di gấp khúc, thời gian mưa kéo dài,
tổng lượng mưa biến động lớn và phụ thuộc vào thời gian hoạt động của bão
(ATNĐ). Khi bão đổ bộ trực tiếp vào khu vực, nhima phạm vi bão hẹp hoặc chỉ là
một áp thấp nhiệt đới đom lẻ (không nằm trong dải hội tụ), hướng di chuyển là tây
hay tây nam, thì chỉ gây ra một lượng mưa không vượt quá I50mm, thời gian mưa
không quá 2 ngày.
- Mưa do bão, áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến khu vực và tiếp sau đó là áp
cao Thái Bình Dương xâm nhập vào phía tây. Hình thế này tạo ra một đới gió đông
phát triển ĩừ thấp lên trên 5000m, gây ra một đợt mưa to đến rất to. Với tổng lượng
mưa phổ biến từ 300 đến 500mm ở đồng bằng, từ 500 đến 800mm ở vùng núi, đới
mưa tăng dần từ nam ra bắc.
- Mưa do hai cơn bão liên tiếp, hay tiếp sau đó là áp thấp nhiệt đới (hoặc
ngược lại). Đây là trường hợp mưa rất lớn, thời gian mưa trung binh từ 4 đến 5 ngày
8
vói lượng mưa 12 giờ trên 100mm, 24 giờ từ 150 đến 300mm. Mưa trong trường hợp
này thường trải dài trên diện khá rộng trên toàn bộ lưu vực.
- Mưa do bão (ATNĐ) hoạt động ở nam biên Đông hay đổ bộ trực tiếp vào
phía nam khu vực Trung Bộ trong khi đó phía bắc có sự xâm nhập về phía nam của
khổng khí lạnh hoặc phía bắc của bão (ATNĐ). Trong trường hợp này trường gió
đông bắc phát triển lên đến trẽn 3000m, tạo ra một đợt mưa to đến rất to trên diện
rộng, thời gian mưa kéo dài từ 3 đến 5 ngày vói tổng lượng mưa phổ biến từ 400 đến
800mm. Từ ngày 1 đến ngày 3/IX/1999 liên tiếp có các đợt không khí lạnh mạnh di
chuyển xuống phía nam và chi phối thòi tiết các tỉnh Trung Trung Bộ, trong khi đó
phía nam biển Đông xuất hiện một áp thấp nằm trong dải hội tụ có trục từ 8 đến 10°
vĩ bắc đến ngày 5/XI mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới di chuyển theo hướng tây tây
bắc, bên trên trường gió đông phát triển lên trên 7000m, trường độ ẩm bao trùm toàn
bộ khu vực, Với hình thế thời tiết trên nên gây mưa rất to, tại Thừa Thiên Huế từ

nằm ở ngang vĩ tuyến 16, thì tổng lượng mưa lên đến 80 đến 150mm/đợt.
-Gió mùa đông bắc xâm nhập xuống phía nam theo hướng đông đông nam.
Hình thế thời tiết này đem đến một lượng mưa lớn với tổng lượng mưa phổ biến từ
100 đến 200mm, trên diện rộng, cá biệt một số nơi lượng mưa có thể có tổng lượng
từ 200 đến 300mm/đợt. Phần lớn các đợt không khí lạnh lệch đông thường tập trung
hợp với hình thế áp cao Thái Bình Dương có trục nầm ờ vĩ tuyến 16(>B òa tây nằm ở
kinh tuyến 112°Đ, rãnh Đông Nam Á nằm theo hướng đông bắc-tây nam, điểm cực
nam rãnh ở đông kinh tuyến 115.
Một đặc điểm đáng chú ý ở Thừa Thiên Huế là mưa 10 lớn thường không
phải do một loại hình thế thời tiết gây nên mà thườn2 là kết quả của sự tác động
tổng hợp của nhiều hình thế thời tiết gây mưa lớn trên diện rộng và kéo dài, Bên
cạnh đó yếu tố địa hình cũng góp phần làm cho mưa lũ ở đày diễn biến đặc biệt do
vậy việc nghiên cứu tổng hợp các yếu tố tác động đến diển biến mưa lũ là điều rất
cần thiết.
Mưa trên lưu vực xảyỉa với cưòng độ rất lớn. Mưa rất lớn diện rộng và tập
trung trong một vài ngày nên dễ gây Lũ quét và sạt lở đất ở vùng núi, xói lở bờ sông.
Thời gian xuất hiện mưa ngày lổm nhất thường vào tháng X, các tháng V, VI cũng
có xuất hiện, song với tần suất rất nhỏ. Một số kết quả quan trắc được thể hiện ở
bảng 3.1 dưới đây:
Bảng 1.4: Kết quả quan trắc lượng mua lớn nhất ở trạm H uế mua trên lưu vục sông Hương
Lượng mưa 1 giờ
Lớn nhất (mm)
Lượng 12 giờ mưa
lớn nhất (mm)
Lượng mưa 24 giờ ; Luợng mưa ngày
lớn nhất (mm) lớn nhất (ram)
Lượng mưa 2 ngày
lớn nhất (mm)
120 768
1.422 ! 978

99.1
135 155 148.5 60.2 42.4 32.1
44.3 933.'
Nam Đông
44.1 50.2 88.8 103 114, 108
115.8 100.8 73.9
46.2
35/ 46. ỉ 916.<
1.5.ĐẶC ĐIỂM LỚP PHỦ THỤC VẬT
Qua bảng 1.5 ta thấy rằng bên cạnh tổng diện tích rừng tăng (150.290 nghìn
năm 1990, 214.2 nghìn ha năm 1999) thì một bộ phận không nhỏ rùng bị suy thoái
về chất lượng. Đặc biệt là những loại rừng có khả năng phòng hộ cao giảm mạnh về
diện tích như rừng giàu giảm hơn 10 nghìn ha, rừng trung bình giảm gần 9000 ha.
Những loại rừng khấc tăng về diện tích nhưng khả năng phòng hộ chưa cao như rừng
nghèo rừng trồng và rừng phục hổ i.
Bảng 1.6 :Diển biến tài nguyên rừng lưu vực sóng Hương (1990-1999 )
Hạng mục Năm
Diễn biến
1990 1999
Tảng
Giảm
Tổng diện tích tự nhiên
(nghìn ha)
150.290
214.2 63.91
A. Đất rừng cỏ
71.345 83.381
12.036
A1.Rừng tự nhiên 67,785 69.422 1.637
Rừng giàu 20.808 10.70

3.852
c. Đất khác
20.545
19.742
0.803
11
Sau gần 10 năm diện tích rừng tăng thêm được 63.91 nghìn ha, nâng độ che
phù của rừng trong khu vực từ 47.5% lên tới 55.5%. Đây là ti lệ khá lớn so với trung
bình cả nước (45%). Trong đó rừng tự nhiên tăng 1637 ha bình quân mỗi năm tăng
182 ha, là dấu hiệu đáng chú ý do công tác khoanh nuôi, phục hồi rừng tự nhiên đặc
biệt trong thời gian gần đây.
1.6.ĐẶC ĐIỂM THUỶ VĂN VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN c ú u
1.6.1.Hệ thống sông Hương
Sông Hương là con sồng lớn nhất của tỉnh Thừa Thên Huế thuộc khu vực Bắc
Trung Bộ với diện tích 2830 km2 chiếm 56% diện tích tỉnh Thừa Thiên Huế, hệ
thống sông Hương do ba con sông nhánh lớn hợp thành là sông Tả Trạch, sông Hữu
Trạch và sông Bồ. Sông Tả Trạch được coi là thượng nguồn sông Hương. Bắt nguồn
từ vùng núi Mang (1708m) ở sườn tây của dãy Bạch Mã, sông Tả Trạch chảy theo
hướng tây nam - đông bắc đến ngã ba Tuần cách thành phố Huế 10 km về phía
thượng lưu tiếp nhận thêm nhánh sông Hữu Trạch sau đó tiếp tục chảy xuôi xuống
ngã ba sinh cách thành phố Huế 8 km về phía bắc tiếp nhận thêm nhánh sông Bồ rồi
chuyển hướng nam bắc đổ ra biển tại cửa biển Thuận An.
Toàn bộ hệ thống sông Hương có 18 nhánh sông các cấp với 5 sông cấp I, 12
sông cấp II và 1 sông cấp III. Sông Hữu Trạch là sông nhánh lớn của sông Hương
bắt nguồn từ vùng núi cao 1200m ở sườn đông dãy Trường Sơn thuộc biên giới Việt-
Lào, chạy theo hướng gần nam bắc đến gần quốc lộ 9 thì đổi hướng tảy-đông nhập
với sông Tả Trạch tại ngã ba Tuần.
Bảng 1.7: Đặc trưng hình thái lưu vực sông Hương
Sông
Diện tích

rồi chuyển hướng gần tây-dông đến gần quốc lộ 1A lại chuyển hướng tây bắc-đông
nam cho đến Quảng Trị thì chia làm hai nhánh: Dòng chính đổ vào sông Hương tại
ngã ba Sình, nhánh sông Hồi Sia chảy vào phá Tam Giang.
12
Sông ngòi kênh rạch ờ hạ lưu sông Hưcms nối với nhau thành mạng lưới
chằng chịt, các sông này nhò hẹp và nông nên tiêu thoát lũ kém làm cho vùng đổng
bằng khi có lũ vể thường bị ngập lụt ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội và
đời sống của nhân dãn .
1.6.2.Đặc điểm dòng chảy lưu vực sông Hương
Mùa lũ được xác định từ tháng X đến tháng x n nhưng thực tế có những năm
xảy ra lũ sớm hoặc muộn hcm, những mưa gây lũ như vậy được gọi là những trận
mưa sớm và muộn sinh lũ. Những trận mưa sớm cần có lượng lớn mới có khả năng
sinh lũ vì lưu vực vừa trải qua thời kỳ khô hạn kéo dài trong suốt mùa khô, nước
sông bị tổn thất do thấm lớn. Ngược lại những trận mưa muộn chỉ cần lượng mưa
vừa phải cũng có thể gây ra ỉũ vì lúc này mực nước sống đang cao, đất đã bão hoà
nước do vậy tổn thất nhỏ mưa có thể tập trung vào việc sinh dòng chảy mặt.
Do nhận được lượng mưa lớn nên lượng dòng chảy trẽn lưu vực sóng Hương
rất lớn với mô đun lưu lượng đạt khoảng 77.59 1/s.km2 nhưng phân phối dòng chảy
không đều trong năm. Mùa lũ bắt đầu từ tháng X đến tháng XII chiếm 66.67% tổng
lượng nước năm, mùa ít nước kéo dài 9 tháng từ tháng I đến tháng IX nhưng chỉ
chiếm 33.33% tổng lượng nước năm. Tháng có dòng chảy lớn nhất thường vào tháng
X (Qtn = 50.68m3/s).
r>
6 Ũ —04 0
2 0

-

độ lớn kéo dài trong vài ngày do sự kết hợp các hình thế thời tiết đặc b iệ t: bão (áp
thấp nhiệt đới), hội nhiệt đới, gió mùa đông bắc
Địa hình lưu vực sông Hương thấp dần từ tày sang đông và hạ thấp đột ngột
giữa vùng núi và đồng bằng. Phần phía tây bất nguồn từ sườn đông của dãy Trường
Sơn, sông suối chảy qua vùng núi xuống ngay vùng đổng bằng không trải qua khu
vực trung du như các sông thuộc hệ thống sông Hổna-Thái Bình và sông Cửu Long.
Phần thượng lưu dốc, hẹp, bụng chứa nước nhỏ, phần hạ lưu độ dốc nhỏ độ các sông
nối với nhau thành mạng lưới chằng chịt, bị che chắn bởi các cồn cát cao ven biển
nên thời gian tập trung nước nhanh, dòng chảy lũ chảv tràn ra cánh đổng hẹp tạo
thành những hổ chậm lũ. Do yếu tố địa hình trên qui đinh nên đặc điểm nổi bật của
lũ sông Hương là lên nhanh xuống chậm.
Thảm phủ thực có tác dụng điều tiết dòng chảy 10. Tuy diện tích đất lâm
nghiệp chiếm tỉ lệ lớn (44,9%) nhưng độ che phủ kém, khả năng điều tiết lữ yếu,
làm cho hệ số dòng chảy lũ tăng. Diện tích ao, hổ đầm phá chiếm gần 5% diện tích
lãnh thổ, song tập trung chủ yếu ở gần bờ biển nên tác dụng điều tiết nhỏ. Tốc độ
dòng chảy sườn dốc và trong sồng phần thượng lưu rất lớn gây sạt lở sườn dốc, bờ
sông (nhất là các đoạn sông cong tự do) và tải lượn2 bùn cát thò bồi lấp đồng ruộng
và các cửa sổng. Bờ biển miền Trung khá dốc, hướns. đường bờ chếch hướng đông
bắc tạo điều kiện cho sự tăng cường độ dòng chảy ven bờ gây bồi lấp cửa sông đầm
phá tạo thành các dải cát cao sát biển.
Để phục vụ giao thông, hai tuyến đường chạy song song với nhau là tuyến L A
và tuyến đường sắt bắc-nam đã được xây dựng từ thòi Pháp với cao trình khá cao.
Song chính hai tuyến đường này lại là vật cản trờ thoát lũ. Đã vậy hệ thống cầu được
xây dụng không đủ khẩu độ thoát lũ và phân bô' thiếu hợp lý, chưa đảm bảo thoát lũ
cần thiết trong giai đoạn hiện nay đã làm tăng mức độ ngập úng cửa vùng đổn°
bằng.
14
Hiện nay phong trào đắp đập nuôi trồng thủy hải sản ờ vùng cửa sông phát
triển một cách ổ ạt thiếu qui hoạch nên đã làm không gian cửa sông thu hẹp gây ảnh
hưởng đến tiêu thoát lũ. Đối với vùng núi nhiều dự án phát triển trang trại và cây

234
Tả Trạch
Thượng Nhật
1979-2000
634Ố
6124
6067
Lũ trên sông Hương thường tập trung vào tháng X, XI do mưa kéo dài
trong nhiều ngày với lượng mưa lớn sinh ra. Do gồm nhiều nhánh sông khác nhau
đổ về nên
xảy ra hiện tượng giao thoa sóng lũ, đỉnh lũ các nhánh sông không trùng
nhau nên dạng đường quá trình lũ thường có nhiều đỉnh (chiếm Ớ0?5%). Khi đến
vùng cửa sống dòng lũ còn gặp vùng đầm phá và do ảnh hưởng của thuý triều có
biên độ thấp nên trong khi đỉnh lũ trẽn các nhánh Sôn2 nhọn thì ở vùng đồng bằng
với độ cao thấp lòng sông nông, đỉnh lũ bị bẹt, rút rất chạm gây ngập lụt lớn cho
thành phố Huế và các khu vực lân cận.
15
Bảng 1.9: Cường suất và thời gian lũ của một sô' trận lũ lớn
Đậc trưng
LO năm 1983
Lũ nãm 1999
Thượng
Nhật
Kim Long CỔ Bi
Thượng
Nhật
Kim Long
Cổ Bi
Cường suất lũ
lớn nhất (m/h)

không phải năm nào cũng có lũ tiểu mãn. Tần suất xảy ra lũ tiểu mãn đạt khoảnơ
40% tức là 2,5 năm mói có một lần. Nhìn chung lũ tiểu mãn thường ở mức độ nhỏ
do xuất hiện trong thời kỳ khò kiệt nên lượng nước bị tổn thất lớn, nhưng cá biệt
cũng có nãm xảy ra lũ vượt trên báo động III như trận lũ tháng V/1989 với mực
nước tại Kim Long là 409 cm vượt báo động III 109 cm. Lũ thường khổng xảy ra
trên diện rộng, các đợt thường kéo dài từ 2 đến 3 ngày. Bảng 3.4 thống kẽ một số
trận lũ tiểu mãn trên sông Hương và sông B6:
16
Bảng 1.10: Một s ố trận ỉũ tiểu mãn trên sông Hương và sóng Bó (1979-2001)
Thời gian xảy ra
Kim Long (sông Hương)
H_„(cnĩ)
Phú ốc (sông Bổ)
Hma,(cm)
20-25/VI/1979
243
259
25-26/VI/1983
302
247
17-19/W1985
308
258
24-25/V/1989
409
442
15-17/V/2001 237
429
Lũ chính vụ
Xuất hiện từ tháng X đến tháng XII, đày ỉà thời kỳ hoạt động của các hình

_____
Nam Đông là 1314 mm; cổ Bi: 1169 mm; Phú ốc: 1011 ram. Lượng mưa ngày lớn
nhất ỏ Huế Là 549 mmt Nam Đòng là 519 mm. Mực nước đỉnh 10 tại Huế là 4.10 m.
-Trận lũ Lịch sử năm 1999(l-6/IX/1999). Do không khí lạnh kết hợp với gió
đông trẽn cao, dải thấp xích đạo ờ vĩ độ 7-9°B và áp thấp nhiệt đới gần bờ vào khu
vực Phú Yên đến Bình Định gây mưa lũ lịch sử. Luợng mưa trong 6 ngày ở Huế là
2288 mm; A Lưới 2224 mm; Nam Đông 1958 mm; Thượng Nhật 1674 mm; Phú ốc
1827 mm. Mực nước ỉớn nhất tại Kim Long là 5,81 m, Phú ốc là 5,18 m, tổng lượng
nước là 3,07 tỉ m3 nước.
-Trận ỉũ 2004: xẩy ra từ 24-28/11/2004. Tổng lượng mưa toàn trận lũ tại Huế
là 933 mm, tại Thượng Nhật là 1217 mm. Lượng mưa ngày lớn nhất (ngày
25/11/2004) tại Kim Long là 527 mm. Đỉnh lũ tại Kim Long là 4.02 m (4h ngày
27/11/2004).
-Trận lũ 2005: Do không khí lạnh kết hợp với áp thấp phía nam diễn ra từ
ngày 29/10-6/11/2005. Lượng mưa cả trận lũ tại Kim Long là 426mm. Lượng mưa
ngày lớn nhất tại Kim Long (ngày 1/11/2005) là 296 mm. .Đỉnh lũ tại Kim Long là
3.91 m (2h ngày 2/11/2005).
1.6.4. Lưới trạm khí tượng thủy vãn
Lưu vực sông Hương - sông Bồ có 11 trạm đo mưa. Các trạm đo mưa có thời
gian quan trắc tương đối dài như trạm Kim Long, Phú ốc, Thượng Nhật, song có một
số trạm quan trắc không liên tục như trạm Bình Điền, cổ Bi, trạm Truồi, Lộc Trị.
Mạng lưới trạm thủy văn sông Hương rất thưa, chì có 3 trạm hoạt động cho đến nay
là trạm Thượng Nhật, Kim Long, Phú Oc. Các trạm này có thời gian hoạt động
tương đối dài, trong đó chỉ có trạm Thượng Nhật là đo mực nước và lưu lượng, hai
trạm còn lại chỉ đo mực nước. Ngoài ra, trên lưu \ỊTC còn một số trạm đo Q, H nhưng
chỉ là những trạm dùng riêng, thời gian hoạt động ngấn và thời gian hoạt động
không liên tục. ử hạ lưu gần cửa sông có một số trạm mực nước đo đạc phục vụ dự
báo cảu tỉnh.
Bảng 1.11: Các trạm khí tượng thủy ván trên hệ thống sông Hương
TT

Truổi
1993-1996
Đo mua
11
Thượng Nhật
1979-nay
Đo mưa, mực nước, lưu lượni
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status