ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TựN HIÊN
♦ S Ê * * * * * * * * * * *
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN c ú ư NHŨNG YẾư T ố VĂN HỌC
TRONG GIÁO TRÌNH TIÊNG a n h n h ằ m n â n g c a o
HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY TIÊNG a n h c ơ sở
TẠI TRƯỜNG ĐHKHTN, ĐHQGHN
MÃ SỐ: QT - 09- 67
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI:
ThS. Trần Thị Nga
9 *1 H O C ouoc G iA h a n o i
tAỤNS 1ẤM THÔNG TIN THỤ VIỆN
ì P T / m
_______
=
HÀ NỘI -2 01 0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TựN H IÊN
**** * * ***** * *
TÊN ĐỂ TÀI:
NGHIÊN c ú u NHŨNG YẾư T ố VĂN HỌC
TRONG GIÁO TRÌNH TIÊNG ANH NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY TIENG a n h c ơ sở
TẠI TRƯỜNG ĐHKHTN, ĐHQGHN
MÃ SỐ: QT - 09- 67
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI:
ThS. Trần Thị Nga
CÁC CÁN BỘ THAM GIA:
ThS. Nghiêm Thị Bích Diệp
ThS. Trương Thu Hà
văn học phù hợp để giáng dạy nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Anh
cơ cở cho sinh viên của trường.
e. Các kết quả đạt được:
BÁO CÁO TÓM TẮT
3
• Việc đưa các tác phẩm văn học vào giáo trình giảng dạy ngoại ngữ là xu
hướng rất phổ biến.
• Trong các tài liệu phụ trợ cũng thường được giáo viên đưa thêm các yếu tố
văn học. Mục đích cũng nhằm luyện bổ trợ cho các kiến thức và kỹ năng được
dạy trong bài.
• Các tác phẩm văn học đưa vào sử dụng đều chứa đựng nhiều giá trị văn hóa
của ngôn ngữ mà sinh viên được học. Như vậy giúp người học tăng cường hiểu
biết vể một nền vãn hóa mới và tránh được sốc văn hóa.
• Các tác phẩm văn học đều chứa đựng những giá trị ngôn ngữ và được giáo
viên sử dụng để phục vụ cho mục đích bài giảng. Qua đó tăng cường củng cố
kỹ năng một cách lâu bển cho người học.
• Khi giáo viên sử dụng các yếu tố vãn học trong giờ giảng thì cơ hội thực
hành nói trên lớp nhiều hơn và sinh viên tham gia tích cực hơn so với giờ
giảng không có yếu tố văn học.
f. Tình hình kinh phí của đề tài: 25.000.000 đ
Đã chi theo đúng dự toán.
Đơn vị quản lý
ThS. Trần Thị Nga
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TựN HIÊ N
4
SUMMARY OF THE PROJECT
a. Name of the project:
"In search o f literature values in the English language textbooks so as to
help improve the efficiency o f teaching basic English at Ha Noi University
of Science, VNU"
• Supplementary materials also include literary texts to reinforce learning and
consolidate language skills.
• Cultural values are inherent in literary texts. This helps the learner develop
his/ her awareness of the target language’s culture, thus avoiding culture
shock.
• Linguistic values are obvious in literary texts and are used selectively by
language teachers to serve the aims of their teaching practices. This helps
reinforce learning and consolidate learners’ language skills.
• With literature in classroom contact hours, there are more opportunities for
students to practice and the learner is more active in participating in class
activities.
6
M ưcLỤ C
BÁO CÁO TÓM TÁT 3
SUMMARY OF THE PROJECT 5
MỤC LỤC 7
CAC BANG BIỂU 8
Chương ĩ. MỞ Đ ẦU 9
1.1. Lý do nghiên cứu 9
1.2. Mục đích nghiên cứu 10
1.3. Phạm vi và phương thức nghiên cứu 11
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu 12
Chương II. LÝ LUẬN CHUNG VỂ VAI TRÒ CỦA VÃN HỌC Đ ố i VỚI 14
VIỆC HỌC NGOẠI NG Ữ
II. 1. Một số định nghĩa cơ bản 14
11.2. Văn học và yếu tô vãn hóa 15
11.3. Văn học và giá trị ngôn ngữ 18
11.4. Văn học và điều kiện học ngoại ngữ thành công 22
Chương III. NGHIÊN c ú u 26
III. 1. Bối cảnh nghiên cứu 26
Bảng 5: Giá trị văn hóa trong giáo trình New Headway và Lifelines 36
Bảng 6: Giá trị văn hóa trong tài liệu phụ trợ 37
Bảng 7: Giá trị ngồn ngữ trong giáo trình New Headway và Lifelines 44
Bảng 8: Giá trị ngôn ngữ trong tài liệu phụ trợ 45
Bảng 9: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHE buổi học trước 50
Bảng 10: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHE buổi học sau 50
Bảng 11: Mức độ tham gia của sinh viên lớp c -L E buổi học trước 51
Bảng 12: Mức độ tham gia của sinh viên lớp c -LE buổi học sau 51
Bảng 13: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHP buổi học trước 52
Bảng 14: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHP buổi học sau 52
Bảng 15: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LP buổi học trước 53
Bảng 16: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LP buổi học sau 53
Bảng 17: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHI buổi học trước 54
Bảng 18: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-NHI buổi học sau 54
Bảng 19: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LI buổi học trước 54
Bảng 20: Mức độ tham gia của sinh viên lớp C-LI buổi học sau 55
Bảng 21: So sánh mức độ tham gia của sinh viên 56
8
CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO NGHIÊN cúu
Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đang tiến hành các cách thức tiến bộ
nhằm nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên
không chuyên ngữ ở các trường đại học thành viên của ĐHQGHN. Việc điều
chuyển giảng viên ngoại ngữ từ trường Đại hoc Khoa học Tự nhiên và Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn sang trường Đại học Ngoại ngữ và cơ cấu lại tổ
chức chính là nhằm đưa ĐHQGHN lên tầm cao mới, bắt kịp với xu thế phát
triển của thời đại.
Cũng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, để có thể thực hiện được mục
tiêu hội nhập và phát triển thì giảng dạy ngoại ngữ đóng vai trò vô cùng quan
định hướng nhằm thúc đẩy và nâng cao động cơ học tập của người học. Chính
vì vậy, việc triển khai nghiên cứu những yếu tố văn hóa trong giáo trình giảng
dạy và trong các tài liệu bổ trợ cho dạy và học ngoại ngữ là vấn đề trọng tâm
nghiên cứu của đề tài QT-09-67.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ú u
Xuất phát từ sự cẩn thiết như đã nêu trên, đề tài QT-09-67 mong muốn nâng
cao được tầm nhìn và hiểu biết sáu sắc hơn về cơ sở lý luận từ việc khai thác
và sử dụng văn học phục vụ cho mục đích dạy và học ngoại ngữ. Cụ thể, đề tài
đã đặt ra những muc đích nghiên cứu sau:
(1) Tìm hiểu sâu hơn về cơ sở lý luận của yếu tố văn học trong dạy và học
ngoại ngữ: giá trị về văn hóa và giá trị về ngôn ngữ.
(2) Tìm hiểu mối quan hộ giữa việc đưa những yếu tố văn học vào giáo trình
giảng dạy ngoại ngữ và sự thành công của người học ngoại ngữ.
(3) Nghiên cứu những yếu tố văn học trong một số giáo trình cũng như những
tài liệu bổ trợ đang được sử dụng để giảng dạy tiếng Anh tại trường ĐHKHTN
dưới góc độ văn hóa và ngôn ngữ.
(4) Đề xuất một số tiêu chí giúp giáo viên ngoại ngữ lựa chọn những tác phẩm
văn học phù hợp khi đưa vào lớp học nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng
Anh cơ sở tại trường Đại học KHTN, ĐHQGHN.
10
1.3. PHẠM VI VÀ PHƯƠNG THỨC NGHIÊN c ú u
Đối với đề tài nghiên cứu này, công việc nghiên cứu được thực hiện ở trường
Đại học KHTN. Đề tài tiến hành nghiên cứu trên các giáo trình chính đang
được sử dụng giảng dạy tiếng Anh cơ sở tại trường Đại học KHTN cũng như
tài liệu phụ trợ phục vụ cho mục đích bài giảng.
Một số giáo trình đang giảng dạy là:
- Soars, L. and J. Soars. 2003. (The New Edition). New Headway:
Elementary Student's Book. Oxford: Oxford University Press.
- Soars, L. and J. Soars. 2005. (The New Edition). New Headway: Pre-
Intermediate Student's Book. Oxford: Oxford University Press.
yếu tố văn học đối với hành vi trong lớp học của sinh viên.
- Ngoài ra chúng tôi cũng tiến hành buổi toạ đàm trao đổi với các đồng nghiệp
xung quanh vấn đề các yếu tố văn học và dạy và học ngoại ngữ.
1.4. Ý NGHĨA NGHIÊN c ú u
Để tài nghiên cứu khái quát hoá một số vấn đề lý luận chung về vai trò của
văn học trong việc giảng dạy và học ngoại ngữ. Qua đó đề tài giúp tăng cường
nhận thức về cơ sở lý luận - một phần quan trọng trong nền tảng của giảng dạy
ngoại ngữ.
Kết quả nghiên cứu có thể được tham khảo và ứng dụng trong các giờ giảng
dạy tiếng Anh tại trường đại học KHTN và có thể mở rộng ra cho đối tượng
sinh viên ở các trường không chuyên ngữ khác như trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân vãn, Đại học Kinh tế, Đại học Giáo dục thuộc Đại Học Quốc
Gia Hà Nội.
Đề tài QT-09-67 cũng đưa ra một số gợi ý giúp người giáo viên biết cách khai
thác những yếu tố vãn học trong giáo trình cũng như trong tài liệu bổ trợ để
giới thiệu ngôn ngữ và củng cố các kỹ năng mà sinh viên đã được học.
12
Đề tài QT-09-67 cũng đưa ra những tiêu chí cần thiết giúp giáo viên chọn lọc
các tác phẩm văn học phù hợp với mục đích giảng dạy của mình. Qua đó có
thể giúp thúc đẩy quá trình học, tiếp thu và vận hành ngôn ngữ của sinh viên.
13
CHƯƠNG II
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VÃN HỌC
ĐÔÌ VỚI VIỆC HỌC NGOẠI NGỮ
II. 1. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA c ơ BẢN
Dưới đây là một số định nghĩa về các khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề
tài QT-09-67.
Thuật ngữ học ngôn ngữ thứ hai, theo định nghĩa của Dulay et al (1982:10) là
chỉ quá trình học một ngôn ngữ khác sau khi người học đã học được ngôn ngữ
thứ nhất và việc học ấy có thể diễn ra cả ở nước ngoài cũng như ở nước bản
tiếng mình đang học là vô cùng cần thiết bởi lẽ văn hóa phản ánh hành vi và
lối sống của con người. Theo Brown (1994: 164), văn hóa chính là “ý tưởng,
phong tục tập quán, kỹ năng, mỹ nghệ, và công cụ biểu thị đặc trưng của
nhóm người trong thời gian nhất định nào đó.” ( “the ideas, customs, skills,
arts, and tools which characterize a given group o f people in a given period o f
time. ”) Văn hóa không chỉ bó gọn trong những thành phần cấu thành mà còn
là “Một hệ thống liên kết các thành phần cấu thành nên nó và chi phối hành
vi con người “ ( “It is a system o f integrated patterns which govern
human behaviour ”) (Condon 1973: 4). Bởi lẽ ngôn ngữ được sử dụng để
phản ánh văn hóa nên ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ rất khăng khít với
nhau. Brown (1994) đã chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa văn hóa và ngôn
ngữ như sau: "Ngôn ngữ là một phần của văn hoá và văn hoá cũng chính là
một phẩn của ngôn ngữ. Hai thứ đó hoà quyện vào nhau tới mức mà người ta
không thể tách chúng ra mà lại không làm mất đi ý nghiã hoặc của ngôn ngữ
hoặc của văn hoá". ( “A language is a part o f a culture and a culture is a part
o f a language; the two are intricately interwoven such that one cannot
separate the two without losing the significance o f either language or
culture”) (p.165). Nhiều các nhà giáo dục học và ngồn ngữ học khác như Du
(1986), Marckwardt (1978), Stem (1987), Gwin (1990), Truitt (2002), Le Thi
Anh Phuong (2003), Tran Thi Nga (2003), Nault (2006), và Nguyen Thi
Thom Thom (2009) đều nhận thấy những mối quan hệ khăng khít giữa văn
hoá và ngôn ngữ. Rõ ràng rằng việc học ngôn ngữ thứ hai sau tiếng mẹ đẻ
chính là nắm bắt thêm một nền vãn hoá mới.
15
Chúng ta có thể nhận thấy rằng sự hiểu biết về nền văn hoá của thứ tiếng mình
đang học là không thể thiếu được đối với người học ngoại ngữ. Nó cũng chính
là yếu tố tạo nên sự thành công của người học. Vậy thì đâu là nguồn tài liệu
cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về văn hóa? Một trong những nguồn tài
liệu đó chính là các tác phẩm văn học. Nhiều nhà ngôn ngữ cũng thừa nhận
văn học như là một cách thức rất hữu ích để học về văn hóa. Du (1986: 24)
văn hóa” (Stem 1987: 47). Sage (1987) còn chỉ ra rằng một trong những mục
đích của văn học là “thể hiện văn hóa thông qua các nhân vật trong truyện”
nên nó sẽ “thành công hơn rất nhiều những thể loại đọc khác” (tr, 41).
Rõ ràng rằng không gì có thể phủ nhận được mối quan hệ khăng khít giữa
ngôn ngữ và vãn hóa được thể hiện trong văn học. Do vậy chúng ta có thể thấy
rất nhiều những yếu tố văn học trong các giáo trình giảng dạy tiếng nước
ngoài. Mặt mạnh của việc học hiểu thêm một nền văn hóa nằm ở chỗ nó nâng
cao được nhận thức của người học về những sự khác biệt trong lối sống, lối
suy nghĩ thể hiện ngay từ những lối chào hỏi dến những chiến thuật giao tiếp
tinh tế hơn. Nói cách khác, sử dụng văn học trong giảng dạy ngoại ngữ sẽ mở
đường cho sinh viên hiểu biết cách thức giáo tiếp thực thụ giữa các thành viên
từ những nền văn hóa khác nhau và nhờ đó mà người học sẽ dần nắm bắt được
tốt ngôn ngữ mình đang học (Marquardt, trích trong Stem 1987). Chính do có
mối quan hệ khăng khít giữa ngôn ngữ và văn hóa mà việc giảng đạy và học
ngoại ngữ cần tạo điều kiện cho sinh viên đến với nền văn hóa của ngôn ngữ
mình đang học - nền văn hóa ấy được phản ánh trong các tác phẩm văn học.
Trong học tiếng Anh, sự hiểu biết về nền văn hoá của thứ tiếng ấy khồng thê
thiếu được. Các tác phẩm văn học như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch và thơ ca
sẽ là nguồn tài liệu phong phú cung cấp cho người học những kiến thức và
hiểu biết thêm về một nền văn hoá của những nước nói tiếng Anh. Khi chúng
ta đọc một câu truyện hoặc một tiểu thuyết chúng ta có thể thấy đựơc lối sống
và làm việc của những người trong nền văn hoá ấy: cách thức làm quen nhau,
cuộc sống gia đình với mối quan hệ giữa những thành viên trong gia đình,
những phong tục tập quán, lễ hội, cung cách làm việc, cung cách học tập, lối
suy nghĩ và cách ứng xử v.v.
Như vậy việc dạy tiếng nước ngoài khi lồng các thể loại văn học vào là tạo
điều kiện cho sinh viên có cơ hội đê khám phá những yếu tố văn hoá của
người nói thứ tiếng ấy và thông qua đó họ có thể hiểu biết được từ những lối
nói, lối chào hỏi cho đến những phương thức giao tiếp tinh vi hơn.
OAI HOC ouoc r|A NO,
nhiều nhà giáo dục học như Widdowson (1984), Zughoul (1986), Munro
(trích trong Zughoul 1986), John (1986), Du (1986), Krsul (1986), Truitt
(2002), Trần Thị Nga (2003), và Nguyen Thi Thom Thom (2009).
Liên quan đến nhận định của Widdowson khi cho rằng văn học có đóng góp
đáng kể đối với cả quá trình cũng như mục đích học tập, Basturkmen (1990)
18
cho rằng sự đóng góp của văn học nhằm thúc đẩy quá trình học tập thể hiện ở
chỗ nó tạo ra nhiều cơ hội thiết yếu cho người đọc ghi mã và giải mã ngữ
nghĩa. Đây chính là quá trình quan trọng cho việc phát triển ngôn ngữ (tr. 18).
Thêm vào đó, văn học còn góp phần thực hiện mục đích giảng dạy và học
ngoại ngữ bởi nó là đặc trưng ngôn ngữ được sử dụng thực tế, có nghĩa là
ngôn ngữ được sử dụng trong những bối cảnh xã hội và giao tiếp với những
mục đích khác nhau.
Văn học, đặc biệt thơ ca, kịch, và truyện ngắn đã chứng tỏ được ý nghĩa của
nó như một phương tiện hữu ích trong giảng dạy ngoại ngữ. Maley và Duff
(1989) đã lưu ý tới những nét gợi mở, nhiều màu sắc và liên tưởng của thơ ca.
Chính nét đặc biệt này đã giúp gửi đi những bức thông điệp rất tinh tế tới mọi
người. Mặt mạnh của nó thể hiện ở chỗ thơ ca, kịch, và truyện cho phép người
ta hiểu theo nhiều cách khác nhau mà vẫn đảm bảo được giá trị ngữ nghĩa. Do
kênh tiếp nhận của mỗi người khác nhau nên đây sẽ tạo ra những cơ hội cho
sự bàn luận hứng thú và sôi nổi xoay quanh một chủ đề lý thú. Cả hai học giả
đều tin ràng thơ ca là phương tiện rất tốt để tăng cường niềm tin cho người học
vì nó tạo cho họ cơ hội khám phá ngôn ngữ theo nhiều khía cạnh khác nhau.
Những âm thanh của thơ ca, theo như Sage (1987: 9) nhận định, sẽ vô cùng
hữu ích đối với luyện âm. Yếu tố thực dụng này đã được Baurain (2002) -
người đã coi thơ ca như một cách thức vô cùng hứng thú đê luyện âm và ngữ
điệu - sử dụng trong các giờ giảng tiếng Anh của mình cho sinh viên Việt
Nam và sinh viên các nước Châu Á khác. Brown (1994) cũng cho rằng những
yếu tố về trọng âm, ngữ điệu, nhịp nói trong thơ ca là những yếu tố thiết yếu
giúp cho người học ngoại ngữ phát triển khẩu ngữ và nói năng trôi trảy.
Nhiều kết quả nghiên cứu về khả năng viết của sinh viên đã minh chứng cho
cho lợi ích của việc tiếp cận với văn học trong học ngoại ngữ. Watt (trích
trong Sage 1987) đã tiến hành nghiên cứu kỹ năng viết của sinh viên ở Ghana.
Kết quả cho thấy những lỗi về ngữ pháp, đặc biệt lỗi về sử dụng thời của động
từ, lỗi về dạng thức số nhiều và số ít đã dần bớt đi khi sinh viên được học thơ
ca. Tương tự như vậy, Norman (1990) cũng chỉ ra ảnh hưởng tích cực của việc
sử dụng các tác phẩm văn học trong quá trình giảng dạy ngoại ngữ: sinh
viên có xu hướng viết được các bài luận tốt hơn trong các bài kiểm tra khi họ
viết về các chủ đề thường gặp trong giáo trình dạy viết. Họ sử dụng những cấu
trúc phức tạp hơn và từ vựng tinh tế hơn. Họ chú ý nhiều tới xắp xếp và bố cục
của bài. Họ luôn sẩn sàng liên tưởng và liên kết tới những gì họ đã được học
từ văn học” (tr. 46). ( " the students tend to produce better compositions in
tests than the compositions they w rite on topics commonly found in current
20
books on teaching writing. They use more complex structures and
sophisticated vocabulary. They pay more attention to organization. They are
more willing to relate to the experience provided by literature ”).
Ngoài việc giúp phát triển cả bốn kỹ năng về tiếng: nói, nghe, đọc và viết, văn
học còn giúp phát triển khả năng phân tích tổng hợp. Đây cũng là một điều
kiện thiết yếu cho việc học ngoại ngữ thành công. Khi bình luận về truyện
ngắn, Sage (1987: 43) đã nói: truyện ngắn cũng giống như những tác phẩm
văn học khác, giúp cho việc phát triển khả năng phân tích trí não, đưa người
học tới những tổng hợp cô đọng của một tình huống ở một không gian và thời
gian. Trọng tâm và ghi nhớ, đó chính là một phần quan trọng của ngôn ngữ và
những trải nghiệm văn hóa quý giá có được đối với người học ngoại ngữ thứ
hai.” like all literature, contributes to the development of cognitive
analytical ability, bringing the whole self to bear on a compressed account o f
a situation in a single place and moment. Focused and memorable, it is an
essential part o f the language and cultural experience available to ESL
students”).
của việc lấy các tài liệu từ kho tàng văn học vào dạy và học tiếng nước ngoài.
II.4. VĂN HỌC VÀ ĐIỀU KIỆN HỌC NGOẠI NGỮTHÀNH CÔNG
Với những giá trị vãn hóa và ngôn ngữ của văn học trong các giờ giảng dạy
ngoại ngữ, văn học quả thực đã đảm bảo được một số điều kiện tất yếu cho
việc học ngoại ngữ thành công.
Thứ nhất, theo Schumann (1978) thì Tiếp biến văn hóa (Acculturation) - được
hiểu như một quá trình hòa nhập vào nền văn hóa mới (nhờ đó mà người học
sẽ học được ngôn ngữ thứ hai) - được quyết định bởi các yếu tố xã hội và tâm
lý. Một trong những yếu tố xã hội chính là sốc vãn hóa. Sốc văn hóa là “nỗi lo
lắng khi người học gặp phải những xa lạ trong nền văn hóa mới” (tr. 167).
ị" anxiety resulting from the disorientation encountered upon entering a new
culture ”). Khi tiếp cận với một nền văn hóa mới, nếu cơ chế đương đầu và giải
quyết vấn đề trong người học không thực hiện tốt chức năng của mình thì
người học sẽ bị lệch hướng (disorientation) và như vậy sẽ gây ra sự căng
thẳng, bức xúc, lo sợ. Hậu quả là “trí não sẽ sản sinh ra hội chứng mạnh mẽ
phản ứng không chịu tiếp nhận và do đó nó làm tản mát trí lực và chuyên tâm
cho việc học ngôn ngữ thứ hai Trong những điều kiện như vậy thi người học
dường như sẽ không có được những cố gắng cần thiết để học và nói được ngôn
22
ngữ thứ hai” (ibid), (the “resulting mental State can produce a powerful
syndrome of rejection which diverts energy and attention from second
language learning Under such conditions the learner is unlikely to make
effort necessary to become bilingual ”). Sốc văn hóa sẽ ức chế việc học nhưng
quá trình Đồng hóa văn hóa sẽ giúp người học nắm bắt được những tri thức
cần thiết để vận hành hoạt động trong một nền vãn hóa mới. Vậy nếu văn học
dạy về văn hóa, nó sẽ dần tạo dựng lên một hình ảnh tích cực về ngôn ngữ
mình đang học cho sinh viên và giúp họ vượt qua được sốc văn hóa và qua đó
sẽ cố gắng học ngoại ngữ tốt hơn.
Có thể nói rằng quá trình Tiếp biến văn hoá, hay quá trình thích nghi với nền
ngoại ngữ, đã chỉ ra rằng khi người học có được động cơ học tập cao, thì họ sẽ
cố gắng hết mình để học tập. Đây cũng chính là điều kiện cơ bản quyết định
sự thành công cho người học.
Trong nghiên cứu gần đây nhất của Trần Thị Nga (2008) trên sinh viên của
trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học QGHN về động cơ học tập và ảnh
hưởng của nó tới việc học ngoại ngữ, kết quả nghiên cứu đã khẳng định những
ảnh hưởng tích cực đáng kể của động cơ học tập tới kết quả học tập, tới mức
độ cởi mở tham gia các hoạt động trong lớp học cũng như tới ham muốn tiếp
tục theo đuổi học tập khi người học có động cơ học tập cao, đặc biệt là động
cơ định hướng hòa nhập.
Thứ tư, như đã nhắc đến trong phần trước, văn học, đặc biệt là thơ ca, sẽ tạo
nên vô vàn các cơ hội để sinh viên thảo luận và đòi hỏi các hoạt động ngôn
ngữ tương tác ở cấp độ cao. Thông qua những hoạt động tương tác trong lớp,
người học sẽ tăng cường được vốn tri thức ngôn ngữ. Bộ não của họ sẽ trở nên
linh hoạt, và do vậy mà người học sẽ liên tục liên kết những tri thức họ sẵn có
với những gì họ đang học (Rivers 1987: 4,5). Chính từ thực tế này mà chúng
ta sẽ dễ dàng nhận thấy vì sao tương tác trong lớp học lại đóng góp cho sự
thành công của người học.
Thứ năm, văn học bao hàm những chiến thuật giao tiếp. Sage (1987) cho rằng
thông qua văn học, thì “sớm hay muộn sinh viên sẽ gặp phải hầu hết các chiến
thuật giao tiếp mà người nói sử dụng hoặc suy tính sử dụng” (tr. 6). Nếu đúng
như vậy thì thực tế cho thấy một khi chúng ta tạo ra nhiều cơ hội và thời gian
để người học tiếp cận và chìm mình trong văn học, họ sẽ dần nắm bắt được
những chiến thuật giao tiếp quan trọng. Học và sử đụng được những chiến
thuật giao tiếp là điều kiện quan trọng cho việc học ngoại ngữ thành công.
Chính trong những bối cảnh này mà các kỹ năng ngôn ngữ được hình thành,
24
xây dựng và phát triển qua quá trình sử dụng những chiến thuật giao tiếp vào
bối cảnh cụ thể.
Thứ sáu, để hiểu được một tác phẩm văn học, đặc biệt là thơ ca, người học cần