BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
______________
ĐỀ ÁN
ĐỔI MỚI CƠ CHẾ THU HÚT, TUYỂN CHỌN VÀ ĐỔI
MỚI CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ THUỘC
NGÀNH TƯ PHÁP
8228
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
6. Xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở cho cán bộ, công chức 38
7. Xây dựng và thực hiện chế độ chính sách, chế độ đặc thù đối với cán bộ
Ngành Tư pháp 39
8. Về một số chế độ, định mức đặc thù trong hoạt động chuyên môn,
nghiệp vụ
của ngành Tư pháp 39
9. Cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của cán bộ 39
PHẦN THỨ BA: TỔ CHỨC THỰC HIỆN 40 2
I. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp 40
II. Trách nhiệm của Bộ Nội Vụ 40
III. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 41
HỆ CHUYÊN ĐỀ TRUNG ƯƠNG:
Chuyên Đề 1: Chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội đối với công chức,
viên chức - Thực trạng và phương hướng cải cách đến năm 2010, 2015 và 2020
(Nguyễn Quang Dũng - Phó Vụ trưởng Vụ Tiền lương- Bộ Nội vụ)………… 61
Chuyên đề 2: Đổi mới cơ chế tuyển chọn, sử dụng và quản lý cán bộ, công
chức - Cơ sở lý luận, thực trạ
ng và các giải pháp (Ts. Hoàng Mai - Giảng Viên
Học viện Chính trị, Hành chính quốc gia)…………………………… … 76
Chuyên đề 3: Cơ chế thu hút, tuyển chọn và thực hiện chế độ chính sách đối
với cán bộ, công chức thi hành án dân sự (PGS. TS. Nguyễn Văn Luyện - Phó
Tổng Cục trưởng - Tổng Cục Thi hành án dân sự)…………………………… 111
Chuyên đề 4: Đổi mới cơ chế thu hút, tuyển chọn và thực hiện chế độ chính
sách đối với trợ giúp viên pháp lý (TS. Tạ Thị
Minh Lý - Cục Trưởng Cục Trợ
CÁC PHỤ LỤC
1. Báo cáo kết quả khảo sát xã hội học 259
2. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cơ quan Bộ Tư pháp (giai đoạn 2007-
2010) 285
3. Đội ngũ công chức các cơ quan Thi hành án dân sự năm 2010 286
4. Tổng hợp tình hình đội ngũ công chức, viên chức Sở Tư
pháp (tính đến tháng
5/2010) 288
5. Đội ngũ công chức Phòng Tư pháp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
(tính đến tháng 5/2010) 290
6. Thực trạng đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch xã, phường, thị trấn (tính
đến tháng 5/2010) 292
7. Kinh nghiệm thực hiện một số nội dung về chế độ thu hút, tuyển chọn và chế
độ chính sách đối với cán bộ, công chức của mộ
t số nước trên thế giới 294
4
PHẦN THỨ NHẤT
SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I. Chủ trương, chính sách của Đảng về thu hút, tuyển chọn và đổi
mới chế độ, chính sách đối với cán bộ nói chung và cán bộ Ngành Tư pháp
Thực tiễn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng
như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay đã kh
chỉ rõ “Cải cách hệ thống chính sách, đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất, công
bằng trong thực hiện chính sách cán bộ giữa các cấp, các ngành, các địa
phương, các đối tượng cán bộ; gắn chính sách cán bộ trong từng khâu của công
tác cán bộ, gắn trách nhiệm, nghĩa vụ với quyền lợi; khuyến khích cán bộ công
tác ở địa bàn khó khăn, ở cơ sở; cải cách cơ bản chế độ ti
ền lương, tiền tệ hoá
tiền lương và các chế độ theo lương; ban hành chính sách về nhà ở, nhà công vụ
đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang”. 5
Đối với ngành Tư pháp, trong những năm qua, cùng với việc ban hành
nhiều chủ trương, đường lối, chính sách về xây dựng, củng cố nâng cao hiệu
quả hoạt động của hệ thống chính trị, Đảng và Nhà nước đã ban hành những
chủ trương, chính sách về cải cách pháp luật và tư pháp như: Nghị quyết 08-
NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị "về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật việt nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”. Đặc
biệt, ngày 02 tháng 6 năm 2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-
NQ/TW về "chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", trong đó Nghị quyết đã
xác định mụ
c tiêu “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ”. Để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ
trên, Nghị quyết số 49-NQ/TW đã xác định một trong những giải pháp cơ bản,
có ý nghĩa quyết định, đó là: “Có cơ chế thu hút, tuyển chọn nhữ
ng người có
tâm huyết, đủ đức, tài vào làm việc ở các cơ quan tư pháp. Mở rộng nguồn để
thức, tư tưởng và hành động cụ thể, tác động trực tiếp vào quá trình đổi mới về
tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp và pháp luật.
Đối với ngành Tư pháp, quán triệt và thể chế hoá những quan điểm trên,
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức
và hoạt động của ngành Tư pháp, cụ thể
như: Luật Công chứng (2006), Luật
Trợ giúp pháp lý (2006), Luật Tương trợ tư pháp (2007), Luật Luật sư (2006),
Luật Thi hành án dân sự (2008), Luật Quốc tịch (2008), Nghị định
158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về quản lý và đăng ký hộ
tịch, Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản
sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký . Đồ
ng
thời, thực tiễn phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
hội nhập khu vực và quốc tế, thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp,
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã và đang đặt ra cho ngành Tư pháp
những yêu cầu và nhiệm vụ mới với khối lượng công việc ngày càng lớn, với
tính chất ngày càng phức tạp, đ
òi hỏi cao về tiến độ, chất lượng, hiệu quả.
Để kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của ngành
Tư pháp ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ mới, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 93/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Tư pháp (sau đây gọi là Ngh
ị định số 93/2008/NĐ-CP) thay thế
Nghị định số 62/2003/NĐ-CP. Đối với cơ quan tư pháp địa phương: Căn cứ
Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức
các quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, Nghị định số 16/2009/NĐ-CP ngày 16/02/2009 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung khoản 2 Điều 8 Nghị định số
13/2008/NĐ-CP và Nghị định số
- Sở Tư pháp được bổ sung, tăng cường chứ
c năng, nhiệm vụ quản lý nhà
nước về: Thi hành pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, trợ giúp pháp lý,
bán đấu giá tài sản; đồng thời, cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp cũng tăng trung
bình từ 1-2 đơn vị cấp phòng. Phòng Tư pháp và Tư pháp cấp xã được bổ sung,
tăng cường các nhiệm vụ quản lý nhà nước về: thi hành pháp luật, đăng ký và
quản lý hộ tịch, chứng thực.
Ngoài ra, t
ừ khi Nghị định số 93/2008/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số
01/2009/TTLT-BTP-BNV được ban hành đến nay, trong lĩnh vực tư pháp, Nhà
nước tiếp tục ban hành các văn bản có giá trị pháp lý cao như Luật Lý lịch tư
pháp (2009), Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (2009). Theo đó,
ngành Tư pháp tiếp tục được giao thêm chức năng và nhiệm vụ mới về quản lý
nhà nước trong lĩnh vực lý lịch tư pháp, xây dựng cơ s
ở dữ liệu lý lịch tư pháp
quốc gia tại Bộ Tư pháp và tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thống
nhất quản lý về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Bên cạnh đó, theo lộ trình thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 và ti
ếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo tinh
thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khoá X, ngành Tư pháp sẽ còn
được giao đảm nhiệm những chức năng, nhiệm vụ mới như:
- Giúp Chính phủ, UBND các cấp thống nhất quản lý công tác thi hành
án, trong đó có quản lý và tổ chức thi hành án hình sự
1
, hành chính;
- Tiếp tục quản lý toàn diện, chuyên sâu về xây dựng và thi hành pháp
luật
2
tăng của xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.
III. Tính chất đặc thù công việc của ngành Tư pháp
1. Trong hoạt động xây dựng pháp luật:
Xây dựng pháp luật là hoạt động cơ bản của nhà nước, là kết tinh của quá
trình thể ch
ế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, là cả
một quá trình nghiên cứu, tìm tòi, khảo nghiệm hiện thực xã hội, tổng kết thực
tiễn, kế thừa kinh nghiệm, bài học lịch sử, nắm bắt các qui luật vận động của tự
nhiên và xã hội nhằm mục tiêu thúc đẩy xã hội phát triển, vì dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Do đó, trong công tác xây dựng
pháp luật,
để thể chế hoá đầy đủ, toàn diện đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và nhà nước, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao đòi hỏi
người làm công tác xây dựng pháp luật, phải nghiên cứu phân tích chủ trương,
chính sách, nhìn nhận sự vật, hiện tượng xã hội trong sự vận động, tác động lẫn
nhau và phát triển không ngừng, với những yêu cầu chuyên biệt, không chỉ trong
lĩnh vực chuyên ngành mà cả trong các l
ĩnh vực khác của đời sống xã hội nhưng
đặc biệt là phải nhìn nhận dưới lăng kính pháp luật, bằng các phạm trù, chế định
pháp luật, thông qua đặc trưng của cấu trúc pháp luật với tính cách là một loại
đơn vị do lường, một khuôn thước làm chuẩn mực cho hành vi, cách ứng xử của
con người, qua đó tạo hành lang pháp lý, khuôn viên, không gian pháp luật cho
hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Bên cạnh đ
ó xây dựng pháp
luật đòi hỏi tuân thủ quy trình, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ, từ xây dựng chương
trình, xây dựng dự thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra đến ban hành văn bản;
đồng thời, trong các giai đoạn này, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều cơ
quan đơn vị, tổ chức, cá nhân, bao gồm cả các tổ chức ngoài nhà nước, các
chuyên gia, nhà khoa học nhằm nâng cao chất l
đoạn hiện nay. Tuy nhiên, việc kiểm tra và xử lý v
ăn bản quy phạm pháp luật
không hề đơn giản mà rất phức tạp, khó khăn, đòi hỏi người thực hiện phải có
chuyên môn, nghiệp vụ cao, không chỉ nắm vững các quy định của pháp luật
trong lĩnh vực được kiểm tra mà còn phải am hiểu pháp luật thuộc các chuyên
ngành khác có liên quan, thậm chí là cả hệ thống pháp luật; đồng thời, phải hiểu
biết sâu về lĩnh vực mà văn bản quy ph
ạm pháp luật điều chỉnh cũng như có
kiến thức xã hội rộng để phân tích, tìm hiểu, đối chiếu các quy phạm pháp luật
để từ đó tìm ra các quy định mâu thuẫn, chồng chéo thậm chí trái với quy định
có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc không còn phù hợp với thực tiễn để kiến nghị
cơ quan, người có thẩm quyền xử lý, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn
bản quy phạ
m pháp luật để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất
của hệ thống pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
3. Hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của một số chức danh tư pháp
Theo quy định hiện hành của pháp luật, hoạt động của các chức danh tư
pháp thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp (chấp hành viên, thẩm tra viên thi
hành án dân sự; trợ giúp viên pháp lý; công chứng viên và giám định viên tư
pháp), ngoài những đặc điểm chung giống như lao động của các cán bộ, công
chức và người lao động bình thường, còn có những đặc thù, khác biệt xuất phát
từ những yêu cầu về trình độ, năng lực chuyên môn; tính phức tạp, khó khăn 10
của công việc; trách nhiệm đối với công việc cũng như hệ quả phát sinh từ công
việc do mình giải quyết, bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
- Lao động của các chức danh Tư pháp là lao động trí óc, phải tuân thủ
do công việc mà họ giải quyết luôn có nhiều khó khăn, phức tạp, liên quan trực
tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, nếu để sảy ra sai sót thì
hậu quả thường khó khắc phục, do vậy đòi hỏ
i một số chức danh tư pháp phải
công bằng, vô tư, khách quan. Để đạt được yêu cầu khắt khe đó, các chức danh
tư pháp phải luôn luôn rèn luyện phẩm chất đạo đức, phải nghiêm khắc với
mình. Nói một cách khái quát, đặc thù này đòi hỏi các chức danh tư pháp phải
có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn tận tâm với nền
công lý vì lợi ích của con người. Đây là đặ
c điểm nổi bật nhất về tính đặc thù
trong lao động của các chức danh tư pháp.
- Lao động của các chức danh tư pháp là lao động đòi hỏi phải phục tùng
nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật cũng như phải chịu trách nhiệm cá 11
nhân trước pháp luật. Muốn vậy, các chức danh tư pháp phải có bản lĩnh, dũng
cảm đấu tranh với mọi sự can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của mình vì
công lý. Đây là một yêu cầu nghề nghiệp rất cao.
IV. Thực trạng đội ngũ cán bộ ngành Tư pháp
1. Những kết quả đạt được
Trong hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành của ngành Tư pháp Việt
Nam, đội ng
ũ cán bộ ngành Tư pháp bao gồm cán bộ, công chức, viên chức làm
việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp và cơ
quan thi hành án dân sự địa phương (Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương, Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Ban Tư
pháp xã, phường, thị trấn (công chức Tư pháp - Hộ tịch) và các cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh, cấp huy
4
Số liệu tính đến ngày 31/5/2010 theo Báo cáo cáo sơ kết 01 năm thực hiện Thông tư liên tịch số
01/2009/TTLT-BTP-BNV. 12
Tư pháp, hiện có hàng ngàn công chứng viên và người làm tư vấn pháp luật làm
việc trong các văn phòng công chứng, văn phòng luật sư, công ty luật, trung tâm
tư vấn pháp luật trong cả nước. Đội ngũ cán bộ này là nhân tố quyết định việc
thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Bộ và địa phương, đồng thời bảo đảm sự
thống nhất quản lý công tác tư pháp từ trung
ương đến cơ sở, góp phần xứng
đáng vào các thành tựu chung của cả nước và của địa phương trong từng thời
kỳ.
1.2. Về chất lượng: Chất lượng dội ngũ cán bộ ngành Tư pháp ngày càng
được nâng cao. Hiện nay, trong 1299 cán bộ của Bộ Tư pháp có 02 giáo sư
(tăng 100% so với năm 2007), 19 phó giáo sư (tăng 73% so với năm 2007, 130
tiến sỹ (tăng 27% so với năm 2007), 249 thạc sĩ, 678 cử
nhân và 151 cao đẳng,
trung cấp và trình độ khác (xem phụ lục 1). Sở Tư pháp có 73,83 % công chức
có trình độ từ cử nhân luật trở lên, trong đó có 05 tiến sỹ, 93 thạc sỹ và 2796 cử
nhân. Phòng Tư pháp có 74% công chức có trình độ cử nhân luật trở lên, trong
đó có 10 thạc sỹ, 2076 cử nhân. Tư pháp cấp xã có trên 74,71 % công chức Tư
pháp - Hộ tịch có trình độ trung học luật trở lên (trình độ đại học, cao đẳng đạt
20,47%, trình độ trung cấp đạt 54,24%), 15,54% công chứ
c Tư pháp - Hộ tịch
có trình độ từ trung cấp khác trở lên, 91,33% công chức Tư pháp - Hộ tịch có
trình độ trung học phổ thông. Cơ quan thi hành án dân sự địa phương có trên
Thực tiễn trong thời gian qua, Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp
địa
phương được giao thêm nhiều nhiệm vụ mới, nhiều nhiệm vụ được tăng cường,
mở rộng như: quản lý nhà nước về thi hành pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho doanh
nghiệp, lý lịch tư pháp, trách nhiệm bồi thường của nhà nước, bán đấu giá tài
sản, phân cấp quản lý lĩnh vực hộ tịch và chứng thực cho cấp huyện và cấp
xã Trong khi đó, việc bổ sung biên chế chưa
đáp ứng và chưa tương xứng với
khối lượng và công việc được giao, cụ thể là: Bộ Tư pháp, trong 03 năm 2008,
2009 và 2010 chỉ được giao bổ sung 51 biên chế (năm 2008 10 biên chế, năm
2009 30 biên chế, năm 2010 11 biên chế) công chức; các cơ quan tư pháp địa
phương, tính đến 31/5/2010
5
, mỗi Sở Tư pháp có trung bình 29 công chức, mặc
dù tăng 3,5 công chức so với năm 2007 nhưng theo báo cáo của các địa phương
thì đây là do số biên chế thực hiện tăng lên trong khi biên chế được phân bổ mới
hầu như không tăng; Phòng Tư pháp có trung bình 04 công chức/phòng, chỉ
tăng 7% so với năm 2007
6
; Tư pháp cấp xã đã được bổ sung, tăng cường về số
lượng (xem mục 1.1), đặc biệt, do thực hiện đẩy mạnh phân cấp quản lý các lĩnh
vực tư pháp cho địa phương và cơ sở đã dẫn đến nhiệm vụ và khối lượng công
việc của Tư pháp cấp xã tăng cao, nhất là trong các lĩnh vực hộ tịch và chứng
thực (Trong lĩnh vực hộ t
ịch, trước khi có Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, bình
quân mỗi công chức thực hiện 19 việc/tháng, trong khi đó tại thời điểm năm
2007 và quý 1 năm 2008 thì bình quân trong 01 tháng, một công chức Tư pháp
phải thực hiện 39 việc, tăng 100%. Trong lĩnh vực chứng thực, trước khi được
chuyển giao nhiệm vụ chứng thực theo Nghị định số 79/2007/NĐ-CP, bình
quân công chức chỉ phải thực hiện 45 việc/tháng, trong khi đó, sau khi
quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước trên 26 lĩnh vực bằng chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch, pháp luật, cơ chế, chính sách nhưng số lượng chuyên
viên cao cấp và tương đương còn quá thấp, chỉ có 34 người/1229 cán bộ, chiếm
2,76%; chuyên viên chính và tương đương chỉ có 263 người, chiếm 21,4%. Các
Sở Tư pháp chỉ có 28 chuyên viên cao cấp và tương đương/3918 cán bộ, công
chức, viên chức, chiếm 0,71%; chuyên viên chính và tương đương cũng chỉ
có
355 người, chiếm 9%, so với năm 2007 tuy có tăng 20 người nhưng về tỉ lệ thì
lại giảm 2%.
Cơ cấu cán bộ về ngành nghề chưa phù hợp, do lĩnh vực pháp luật và tư
pháp, ngoài kiến thức về pháp luật còn đòi hỏi hiểu biết, nắm vững kiến thức
thuộc các chuyên ngành khác, nhưng trong thời gian qua, ngành Tư pháp mới
chỉ chủ yếu tuyển dụng cán bộ chuyên ngành luật. C
ơ cấu về độ tuổi cũng chưa
phù hợp, còn hẫng hụt, chưa đảm bảo sự kế thừa giữa các thế hệ cán bộ, nhất là
cán bộ lãnh đạo, quản lý.
2.3. Về chất lượng cán bộ: Chất lượng cán bộ, công chức vẫn còn nhiều
mặt chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu,
thiếu kiến thức về phân tích chính sách, kiến thức quản lý, kiến thức thực tiễn,
ngoại ngữ, tin học, dẫn đến việc tham mưu, hoạch định chính sách, tổ chức thực
hiện pháp luật, giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra còn hạn chế; thiếu cán bộ
lãnh đạo, quản lý giỏi, cán bộ có trình độ cao, các chuyên gia đầu ngành, có khả
năng dự báo, xử lý tốt những vẫn đề phức tạp nảy sinh để tư vấn cho Chính phủ,
các bộ, ngành, địa phương giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong phạm vi
bộ, ngành, địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế; phương pháp, lề lối làm
việc chậm được đổi mới, chưa chủ động, sáng tạ
o và thích nghi với cơ chế và
phương thức quản lý mới dẫn tới chất lượng, hiệu quả chưa cao. Tại một số địa
có trình độ cao, người có tài năng. Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày
15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đã quy định,
căn cứ điều kiện đăng ký dự tuyển công chức và yêu cầu công việc, người đứng
đầu cơ quan quản lý công chức
được xem xét, tiếp nhận không qua thi tuyển đối
với các trường hợp đặc biệt: Người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo
trình độ đại học ở trong nước; người tốt nghiệp đại học, sau đại học loại giỏi,
xuất sắc ở nước ngoài; người có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có kinh
nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cầ
n tuyển dụng từ 05 năm trở lên, đáp
ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng. Nghị định
116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng
và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước cũng
quy định ưu tiên trong tuyển dụng đối với người có trình độ cao, cụ thể: Nhữ
ng
người có học vị tiến sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển
dụng được cộng 20 điểm vào tổng số điểm thi hoặc xét tuyển; người có học vị
thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; những
người tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù h
ợp
với nhu cầu tuyển dụng được cộng 20 điểm vào tổng số điểm thi hoặc xét tuyển
Đối với người có trình độ cao, pháp luật đã quy định có ưu đãi về tiền
lương. Người tập sự (thử việc) có trình độ thạc sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển
dụng thì được hưởng 85% mức lương bậc 2 của ngạch tuyển dụng; tr
ường hợp
người tập sự có trình độ tiến sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng
85% mức lương bậc 3 của ngạch tuyển dụng.
Nhóm thứ hai bao gồm các quy định về thu hút, tuyển chọn cán bộ vào
làm việc tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập ở miền núi, biên
ức danh xếp lương theo bảng lương chuyên môn, nghiệp
vụ và bảng lương chức vụ thuộc ngành Tòa án, Kiểm sát, Thanh tra và một số
chức danh tư pháp được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề,
Bên cạnh các chính sách nên trên, các cơ quan, đơn vị từ Trung ương tới
địa phương đã quan tâm, thực hiện tốt công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức; tạo môi trường làm việ
c
tốt; công tác quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo
được thực hiện theo đúng quy trình, đảm bảo khách quan, công bằng, bình đẳng,
minh bạch, qua đó đã gián tiếp thu hút người vào làm việc tại các cơ quan hành
chính, đơn vị sự nghiệp công lập.
b) Đối với Bộ Tư pháp
Là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng thuộc lĩnh vực xây dựng
và thi hành pháp luật, kiểm tra văn b
ản quy phạm pháp luật, phổ biến giáo dục
pháp luật, quản lý và tổ chức thi hành án dân sự, hành chính tư pháp, bổ trợ tư
pháp và công tác tư pháp khác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước về một
số hoạt động dịch vụ, sự nghiệp công, trong những năm qua, công tác tuyển 17
chọn cán bộ của Bộ Tư pháp được thực hiện đúng quy định về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục, đảm bảo nghiêm minh, công bằng, công khai, dân chủ, chất
lượng, hiệu quả theo đúng quy định của pháp luật.
Với mục tiêu tuyển chọn những công chức có trình độ, năng lực, kinh
nghiệm và tâm huyết, đồng thời đảm bảo cơ cấu về lo
ại cán bộ, về trình độ
chuyên môn, về tuổi giữa các thế hệ cán bộ, công chức, bước đầu Bộ đã vận
dụng thực hiện cơ chế chính sách thu hút cán bộ vào làm việc tại cơ quan Bộ
nh để triển
khai thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. Đối với các đơn vị thuộc Bộ (trừ các
cơ sở đào tạo), việc tuyển dụng và tiếp nhận từ năm 2007 đến nay đã thu được
nhiều kết quả tốt: Năm 2007, tuyển dụng được 35 sinh viên tốt nghiệp loại khá
và 02 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, tiếp nhận và tuyển dụng 14 công ch
ức từ
các cơ quan, đơn vị khác về; năm 2008, tuyển dụng mới 03 sinh viên tốt nghiệp
8
Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1195/QĐ-BTP ban hành Quy chế chọn, cử và quản lý công chức, viên
chức Bộ Tư pháp đi đào tạo, bồi dưỡng. 18
loại giỏi, tiếp nhận và tuyển dụng 18 công chức từ các cơ quan, đơn vị khác
chuyển về; năm 2009, tuyển dụng mới được 01 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, 01
thạc sỹ tốt nghiệp ở nước ngoài, tiếp nhận và tuyển dụng 16 công chức từ các cơ
quan, đơn vị khác chuyển về công tác tại Bộ Tư pháp; năm 2010 tuyển dụng
được 65 công chứ
c, trong đó có 41 công chức ngạch chuyên viên pháp lý. Các
cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ, cơ quan thi hành án dân sự địa phương cũng đã
tuyển dụng, tiếp nhận được nhiều cán bộ, công chức, viên chức có năng lực,
trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
Đối với những cơ quan, đơn vị còn thiếu hụt về số lượng và chưa đáp ứng
v
ề chất lượng cán bộ hoặc để thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng, Bộ
Tư pháp đã thực hiện ưu tiên trong tuyển dụng, thuyên chuyển như nâng lương
trước thời hạn, xem xét bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý trước khi thuyên
chuyển, luân chuyển, hỗ trợ kinh phí ban đầu
10
Khoản 5 Điều 17 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
có thẩm quyền: “Quyết định chính sách thu hút và một số chế độ khuyến khích đối với cán bộ, công chức trên
địa bàn phù hợp với khả năng của ngân sách địa phương”. 19
nước và nước ngoài
11
. Có địa phương đã thực hiện thí điểm thi tuyển cạnh tranh
một số chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các đơn vị sự nghiệp
12
.
Nhận xét chung: Trong những năm qua, Nhà nước, các bộ, ngành, địa
phương, trong đó có Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địa phương đã thực
hiện tốt các quy định của Nhà nước về thu hút, tuyển chọn cán bộ; đồng thời, có
nhiều cố gắng trong việc ban hành và tổ chức thực hiện một số chính sách nhằm
thu hút, tuyển chọn, đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức vào làm vi
ệc
trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập của Bộ Tư pháp và các
địa phương. Các chính sách này tập trung chủ yếu vào giải quyết chế độ thu hút
và chế độ ưu đãi đối với cán bộ, công chức, góp phần bổ sung bước đầu về số
lượng, tăng cường về chất lượng nguồn nhân lực. Mặc dù còn khiêm tốn, nhưng
đã bổ sung tương đối kịp th
ời nguồn nhân lực có trình độ cho các vùng núi,
vùng sâu, vùng xa. Nhìn chung, những người được thu hút, tuyển chọn đều
được bố trí công tác phù hợp với chuyên môn được đào tạo, có điều kiện để
phát huy năng lực, sở trường của bản thân.
1.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:
20
b) Đối với Bộ Tư pháp:
Hiện nay, được vào làm việc tại các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp là niềm mơ
ước của nhiều sinh viên chuyên ngành luật. Bộ Tư pháp vẫn là địa chỉ hấp dẫn
của các sinh viên mới ra trường, số lượng người thi tuyển vẫn cao hơn nhiều lần
so với chỉ tiêu tuyển dụng. Tuy nhiên, thực tiễn công tác tuyển dụng những nă
m
qua cho thấy sinh viên tốt nghiệp đạt loại giỏi về làm việc tại Bộ Tư pháp ngày
càng ít; số lượng đăng ký dự tuyển có xu hướng giảm, mặc dù yêu cầu về kết
quả học tập có hạ xuống nhưng số người đăng ký dự tuyển không tăng, tỉ lệ
giữa người dự tuyển trên chỉ tiêu tuyển dụng ngày càng giảm. Năm 2002, Bộ
tuyển dụ
ng 30 chỉ tiêu thì có gần 800 người dự tuyển, với tỉ lệ là 1/26. Năm
2005, tuyển dụng 26 chỉ tiêu với yêu cầu tốt nghiệp Đại học chuyên ngành luật
loại khá trở lên thì có gần 200 người dự tuyển, tỉ lệ là 1/7,7. Năm 2007, tuyển
dụng 37 chỉ tiêu cũng với yêu cầu tốt nghiệp Đại học chuyên ngành luật loại
khá trở lên thì chỉ có 180 người dự tuyển, với tỉ lệ là 1/5. N
ăm 2009, Bộ tuyển
dụng 40 chỉ tiêu với yêu cầu học sinh tốt nghiệp Đại học chuyên ngành luật có
điểm trung bình là 6.5 trở lên nhưng chỉ có 185 hồ sơ dự tuyển, với tỉ lệ là 1/4,6
(thấp nhất trong các kỳ tuyển dụng gần đây).
Tại nhiều cơ quan thi hành án dân sự địa phương, việc tuyển dụng công
chức gặp nhiều khó khăn do hạn chế về nguồ
n thi tuyển. Sinh viên tốt nghiệp
không muốn làm việc trong các cơ quan thi hành án dân sự vì sự phức tạp, khó
khăn, nguy hiểm trong công việc trong khi đãi ngộ chưa thật sự phù hợp, tương
xứng với tính chất công việc.
Bên cạnh đó, hiện tượng cán bộ, công chức xin chuyển công tác hoặc xin
Các địa phương khó khăn về đ
iều kiện phát triển kinh tế - xã hội thiếu
nguồn lực để thực hiện chính sách thu hút, bố trí, đãi ngộ nhân tài vào làm việc
trong cơ quan nhà nước.
Việc thực hiện các quy định về quản lý, sử dụng cán bộ còn nhiều tồn tại,
hạn chế, bất cập.
2. Về chế độ, chính sách đối với cán bộ
2.1. Ưu điểm và kết quả đạt được
a) Về
tiền lương
Chính sách tiền lương được thực hiện từ năm 2003 đến nay đã từng bước
thể chế những quan điểm của Đảng về chính sách tiền lương và phụ cấp đối với
lực lượng vũ trang, các ngành toà án, kiểm sát, tư pháp, giáo dục, Qua đó, đã
cải thiện đáng kể đời sống của người hưởng lương, nhất là người hưởng l
ương
từ ngân sách nhà nước.
- Tiền lương tối thiểu chung đã liên tục được điều chỉnh (điều chỉnh mức
lương tối thiểu chung từ 210.000 đồng/tháng năm 2003 lên đến 730.000
đồng/tháng năm 2010, tăng 248%), đã tiếp cận gần hơn với mặt bằng tiền công
trên thị trường lao động.
- Quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình (đại học hết tập s
ự) - tối đa
(chuyên gia cao cấp bậc ba, tương đương mức lương của Bộ trưởng) được mở
rộng, dãn cách từ 1 - 1,78 - 8,5 lên 1- 2,23 - 10, trong đó các mức lương thấp
(nhân viên, cán sự) có mức tăng cao hơn để đảm bảo cuộc sống của số đông cán
bộ, công chức, viên chức. So với trước khi cải cách tiền lương (tháng 12/2002)
thì mức độ điều chỉnh tăng tiền lương (g
ồm tăng mức lương tối thiểu chung và
mở rộng quan hệ tiền lương) là:
+ Mức lương tối thiểu chung (hệ số 1,0): điều chỉnh từ 210.000
; mức phụ cấp từ 15 đến
50% áp dụng cho giám định viên pháp y, người giúp việc giám định viên pháp
y; giám định viên pháp y tâm thần và người giúp việc giám định viên pháp y
tâm thần.
- Phụ cấp trách nhiệm theo nghề áp dung đối với công chứng viên; chấp
hành viên
15
, thẩm tra viên thi hành án dân sự
16
; trợ giúp viên pháp lý:
+ Mức 15% (mức lương hiện hưởng) áp dụng đối với Công chứng viên;
+ Mức 25% áp dụng đối với chấp hành viên cấp tỉnh;
+ Mức 30% áp dụng đối với chấp hành viên cấp huyện;
+Mức 15% áp dung đối với thẩm tra viên cao cấp;
+ Mức 20% áp dụng đối với thẩm tra viên chính;
+ Mức 25% áp dụng với thẩm tra viên;
+ Mức 25 % áp dụng đối với trợ giúp viên pháp lý.
b) Về cơ chế qu
ản lý tiền lương
14
Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ phụ cấp ưu
đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập.
15
Quyết định số 233/2005/QĐ-TTg ngày 26-9-2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định chế độ phụ cấp
trách nhiệm theo nghề đối với Chấp hành viên và Công chứng viên.
16
Quyết định số 86/2007/QĐ-TTg ngày 11/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ Về chế độ phụ cấp trách nhiệm
theo nghề đối với thẩm tra viên thi hành án dân sự.
dựng
17
, thi hành, kiểm tra
18
, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật;
phổ biến giáo dục pháp luật
19
; các khoản kinh phí bồi dưỡng cho người trực tiếp
thực hiện công việc như: trợ giúp viên pháp lý được hưởng phụ cấp vụ việc
bằng 10% mức bồi dưỡng áp dụng đối với cộng tác viên
20
; người chủ trì cưỡng
chế thi hành án được bồi dưỡng 50.000 đồng/người/ngày, cán bộ trực tiếp tham
gia cưỡng chế thi hành án được hưởng bồi dưỡng 40.000đồng/người/ngày tham
gia cưỡng chế
21
; giám định viên tư pháp được bồi dưỡng theo ngày giám định
với mức từ 60.000 đồng đến 250.000 đồng, được bồi dưỡng theo vụ việc với
17
Thông tư 100/2006/TT-BTC ngày 23/6/2006 của Bộ Tài chính về hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí
ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật.
18
Thông tư liên tịch 158/2007/TTLT-BTC-BTP ngày 28/12/2007 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn
về quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
19
Thông tư liên tịch 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14/5/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp về việc hướng
dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
20
Điều 26 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
u tiền lương chỉ vào khoảng 7,5%).
2.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
a) Về tiền lương
Chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức chậm
được đổi mới.
Chính sách tiền lương của Nhà nước đối với cán bộ, công chức hiện nay
còn nhiều tồn tại, bất cập như mức lương cơ bản còn thấp; quan hệ lương t
ối
thiểu - trung bình - tối đa còn bình quân; hệ thống thang lương, bảng lương,
ngạch, bậc lương còn phức tạp, chưa thật công bằng và chưa cải thiện căn bản
đời sống của người hưởng lương, chế độ phụ cấp đối với cán bộ, công chức,
viên chức (đặc biệt là phụ cấp chức vụ và phụ cấp trách nhiệm) còn bất hợp lý
so vớ
i tương quan giữa các ngành, nghề, do đó chưa tạo điều kiện khuyến khích,
sử dụng, thu hút người làm việc có chất lượng trong khu vực nhà nước.
Đối với cán bộ, công chức ngành tư pháp, bên cạnh những tồn tại hạn chế
nói chung của chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công
chức nhà nước, hiện nay, chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đố
i với các
chức danh tư pháp cũng tồn tại nhiều bất cập như: chế độ phụ cấp ưu đãi theo
22
Quyết định 74/2009/QĐ-TTg ngày 07/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng giám định tư
pháp