Hoàn thiện nội dung chương trình đào tạo bồi dưỡng kiến thức tin học cho cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước - Pdf 25

KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

HOÀN THIỆN NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC TIN HỌC CHO CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC CNĐT : PHẠM MẠNH HÙNG
9414

Nhà nước 16
1.3.1 Những kết quả đạt được 16
1.3.2 Những mặt hạn chế 17
1.3.3 Nguyên nhân của những mặt hạn chế 20
1.4 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng tin học cho cán bộ, công chức nước ngoài.
22
CHƯƠNG 2
Phương hướng và giải pháp hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng
tin học cho cán bộ công chức của Kiểm toán Nhà nước
2.1 Phương hướng, mục tiêu hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo, bồi
dưỡng tin học cho cán bộ công chức của Kiểm toán Nhà nước 23
2.2 Hoàn thiện nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức tin học cho
cán bộ công chức c
ủa Kiểm toán Nhà nước 26
2.2.1 Hoàn thiện chương trình khung cho công tác đào tạo kiến thức tin học cho cán
bộ công chức của KTNN 26
2.2.1.1 Với cán bộ công chức không chuyên về CNTT 26
2.2.1.2 Với cán bộ công chức chuyên trách về CNTT 27
2.2.2 Hoàn thiện chương trình đào tạo tin cơ bản và nâng cao 27
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

2
2.2.2.1 Hoàn thiện chương trình hệ điều hành 27
2.2.2.2 Hoàn thiện chương trình mạng và Internet 29
2.2.2.3 An toàn thông tin 33
2.2.3 Hoàn thiện chương trình đào tạo tin học theo chuyên đề ( theo từng ứng dụng
cụ thể cần thiết cho hoạt động kiểm toán 34
2.2.3.1 Xây dựng chương trình đào tạo cho cán bộ chuyên trách về quản trị hệ
thống 34
2.2.3.2 Xây dựng chương trình cho cán bộ chuyên trách về công nghệ phần mềm35

- Đội ngũ KTV và chuyên viên làm việc tại Kiểm toán Nhà nước phải đi công tác
thường xuyên, thời gian làm việc tại Kiểm toán Nhà nước chỉ còn chưa đầy 04
tháng.
- Do yêu cầu phát triển ngành, đội ngũ cán bộ KTV và chuyên viên mới ngày càng
nhiều trình độ về CNTT còn có nhiều sự khác biệt.
- Nội dung, chương trình đào tạo kiến thức tin học tại Kiểm toán Nhà n
ước còn hạn
chế, chưa đáp ứng được một cách đầy đủ các yêu cầu thực tế.
Đặc biệt, việc đầu tư vào CNTT đã được Lãnh đạo Kiểm toán Nhà nước triển khai
rất nhiều thành phần, trong đó bao gồm các phần mềm dùng chung, phần mềm phục vụ
công tác chuyên môn, dịch vụ mạng và cơ sở hạ tầng của Kiểm toán Nhà nước. Từ đó,
cán bộ công chứ
c có thể sử dụng những phần mềm này nhằm tăng cường tính hiệu quả
của công tác chuyên môn. Mỗi phần mềm, dịch vụ này đều đòi hỏi cán bộ công chức
trong ngành phải có một trình độ nhất định để có thể thực sự áp dụng chúng vào việc tăng
cường hiệu quả công việc.
Việc đào tạo tăng cường các kỹ năng về lĩnh vực CNTT t
ại Kiểm toán Nhà nước
mới được triển khai một cách bài bản trong những năm gần đây. Đội ngũ giảng viên kiêm
chức trực tiếp tham gia đào tạo về CNTT còn hạn chế về số lượng, mặt bằng chung về
hiểu biết và kỹ năng về CNTT của cán bộ công chức được đào tạo còn có nhiều sự khác
biệt. Chương trình khung, giáo trình, tài liệu tham khảo còn có những đi
ểm chưa đáp ứng
được một cách tối ưu các yêu cầu thực tế.
Bên cạnh đó, hoạt động của các đơn vị được kiểm toán trên nhiều hình thức khác
nhau, dẫn đến môi trường kiểm toán ở từng đơn vị ngày càng đa dạng, phức tạp. Để có
thể đảm bảo tốt nhất tính minh bạch và hiệu quả của môi hoạt động trong các đơn vị đó,
yêu cầu kiểm toán trong môi trường CNTT đã xuất hiện và ngày càng trở nên cần thiết.
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng


Phần I: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo,
bồi dưỡng tin học cho cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước
Phần II: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện nội dung, chương trình đào
tạo, bồi d
ưỡng tin học cho cán bộ công chức của Kiểm toán Nhà nước.
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

5
CHƯƠNG 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo, bồi
dưỡng tin học cho cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước
1.1 Hoạt động của Kiểm toán Nhà nước và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức
tin học cho cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước
1.1.1 Hoạt động của KTNN
Kể từ thời điểm 1/1/2006, Luật KTNN được ban hành, mọi hoạt động của KTNN
đã được nâng lên 1 tầm cao mới. Mọi hoạt động của KTNN đều được điều chỉnh bằng
Luật KTNN. Trong quá trình hoạt động, hoạt động chủ yếu của KTNN là kiểm toán tiền
và tài sản của nhà nước. Đối tượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước trải rộng trên tất
cả hoạ
t động có liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Vì
những lý do này nên có thể nói khối lượng công việc là rất lớn với thời gian hạn chế trong
từng năm tài chính. Nếu phải triển khai công việc theo hướng thủ công thì không thể đảm
bảo hoàn thành theo yêu cầu đề ra, và đây sẽ là một trở ngại rất lớn cho các hoạt động
kiểm toán của kiểm toán viên.
Bên cạnh đó, hoạt
động kiểm toán diễn ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề.
Từ những đơn vị sản suất trực tiếp như xây dựng, sản xuất các mặt hàng nhu yếu phẩm
đến các đơn vị quản lý sản xuất, kinh doanh và quản lý tiền, tài sản nhà nước. Công tác tài
chính kế toán không còn làm thủ công mà thực tế với quy mô lớn, họ đều xây dựng và sử
dụng những chương trình ứng dụng máy tính vào hoạt

mạng thông tin chuyền dẫn để thay thế bằng thư điện tử, fax…Việc liên lạc giữa các đơn
vị trong KTNN dần dần đã được chuyển sang hình thức điện tử hóa từng bước bằng cách
sử dụng hệ th
ống email của KTNN, qua đó lưu chuyển một phần không nhỏ công văn, tài
liệu nhằm phục vụ một cách tốt hơn nữa hoạt động kiểm toán.
Trong các cuộc kiểm toán mà KTNN tiến hành, không ít đơn vị hoạt động trong
lĩnh vực CNTT, đầu tư xây dựng, quản lý hệ thống thông tin điện tử. Muốn kiểm toán một
cách tốt nhất các đơn vị này, đòi hỏi đội ngũ
KTV cần phải có một trình độ về CNTT ở
một mức cao, không chỉ đơn thuần trên góc độ ứng dụng sản phẩm phần mềm vào hoạt
động kiểm toán mà còn phải có một năng lực nhất định để có thể đánh giá một cách chính
xác mức độ đầu tư hợp lý trong việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước. Với các đối tượng
kiểm toán là đơn vị quả
n lý, kinh doanh trên hệ thống công nghệ thông tin thì đặc biệt cần
đội ngũ KTV phải có trình độ, nhận thức về các lĩnh vực CNTT ở một mức chuyên sâu và
phải nắm bắt được các công nghệ mới, tính hiệu quả và tính ứng dụng của các công nghệ
này để từ đó triển khai được các hoạt động kiểm toán đạt được kết quả mong đợi.
Nhận thức rõ hiệu quả của việ
c áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm
toán, KTNN đã không ngừng tăng cường phát triển hoạt động dựa trên những ứng dụng
CNTT vào hoạt động của mình. Việc ứng dụng này đã trở thành một nhu cầu thiết yếu
không chỉ với các cán bộ công chức làm việc tại khối tham mưu, sự nghiệp mà còn thể
hiện rất rõ ràng trên hoạt động của các KTV. Có thể nói, hiện nay nếu một t
ổ kiểm toán
thiếu đi máy tính cá nhân, máy tính xách tay trong tổ thì hoạt động kiểm toán của tổ đó đã
bị hạn chế rất nhiều. Mặc dù trong điều kiện kinh phí hoạt động còn hạn hẹp, việc đầu tư
kinh phí vào hoạt động CNTT còn khó khăn, không ít KTV đã tự trang bị thêm cho mình
máy tính để có thể đảm bảo hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ KTNN được giao.
Trong đơn vị chuyên trách về CNTT, việc ứng d
ụng các chương trình máy tính vào

ng thông tin sẽ được triển khai trên toàn ngành,
mạng diện rộng sẽ được kết nối trên khắp các đơn vị của KTNN. Hệ thông thông tin điện
tử như: thư tín điện tử, phần mềm dùng chung sẽ được triển khai. Đứng trước những ưu
tiên đầu tư vào lĩnh vực CNTT của lãnh đạo KTNN, mỗi cán bộ công chức của KTNN
cần phải có một trình độ hiểu biết,
ứng dụng CNTT nhất định mới có thể tận dụng tối ưu
lơi thế về công nghệ mang lại, qua đó mới có thể tăng cường sức lao động, giảm thiểu
thời gian lãng phí trong hoạt động chuyên môn.
1.1.3 Yêu cầu đào tạo và bồi dưỡng kiến thức tin học cho cán bộ, công chức
của KTNN
Trên góc độ tổng thể, những yêu cầu chung nhất về kiến thức tin học đối với cán
bộ công chức của KTNN có thể hiểu trên những góc độ sau:
Tại KTNN, việc sử dụng máy tính đã trở thành một trong những yếu tố không thể
thiếu để có thể hoàn thành công việc một cách hiệu quả nhất. Mỗi cán bộ công chức với
chức năng nhiệm vụ của mình đều s
ử dụng máy tính vào các hoạt động chuyên môn như:
soạn thảo văn bản, tra cứu thông tin trên mạng nội bộ, Internet, sử dụng các chương trình
ứng dụng đặc thù. Là một cơ quan chuyên môn, KTNN cũng đã đưa một số chương trình
ứng dụng vào hỗ trợ cho các hoạt động của mình và đã có thể sử dụng một cách hiệu quả
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

8
phương tiện điện tử này. Với những đòi hỏi từ hoạt động thực tế này, nhu cầu đào tạo
CNTT với cán bộ công chức của KTNN ngày càng lớn hơn. Điều này thể hiện trên những
khía cạnh sau:
o Yêu cầu về kỹ năng sử dụng máy tính nói chung
Mỗi cán bộ công chức đều phải có một kiến thức cơ bản về máy tính, về m
ột số
ứng dụng phục vụ cho hoạt động của máy tính như:
Về Hệ điều hành: Hiểu biết cơ bản về hệ điều hành, các thao tác, ứng dụng hệ điều

nhận biết mức độ an toàn của máy tính hay việ
c tránh khỏi sự sâm nhập của virus máy
tính, phần mềm độc hại tại mỗi đơn vị được kiểm toán là một điều hết sức khó khăn. Tại
mỗi đơn vị này, máy tính của KTV sẽ phải đủ khả năng nhận biết và diệt được virus đã và
đang xuất hiện tại đơn vị đó. Với số lượng các đơn vị được kiểm toán r
ất lớn như hiện
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

9
nay, có thể nói máy tính mà KTV sử dụng sẽ chịu sự tác động rất lớn từ số lượng virus,
phần mềm độc hại khổng lồ - những phần mềm được “sưu tầm” hay bị lây nhiễm trên
nhiều hệ thống.
o Với Ứng dụng văn phòng thì yêu cầu về kỹ năng sử dụng các ứng dụng
văn phòng cần có như:
MS Word: Dựa trên nền chươ
ng trình soạn thảo văn bản của hãng Microsoft, các
cán bộ công chức có thể soạn thảo văn bản, chế bản các loại văn bản, giấy tờ liên quan
đến hoạt động của mình như công văn, tờ trình, quyết định … đến các báo cáo kiểm toán.
Họ có thể sử dụng MS Word như một công cụ hữu hiệu cho việc lưu trữ dữ liệu một cách
đơn giản.
MS Excel: Dựa trên nề
n chương trình bảng tính của hãng Microsoft, cán bộ công
chức có thể sử dụng như một phương tiện tính toán hữu hiệu. Từ các số liệu đơn giản
cộng trừ nhân chia cho việc tổng hợp số liệu cho đến các công việc mang tính phức tạp
hơn nữa như lọc chọn số liệu, xắp xếp số liệu theo những tiêu chí nhất định. Xây dựng các
chương trình ứng dụng nh
ỏ dựa trên nền Excel như tra cứu văn bản quy phạm pháp luật,
thống kê tổng hợp số liệu các phần dự toán công trình xây dựng cơ bản…. hay đến như
việc soạn thảo các báo cáo kiểm toán với tập hợp số liệu tổng hợp cho một hoặc nhiều báo
cáo kiểm toán - nhưng báo cáo có đầy rẫy các số liệu và đòi hỏi một độ chính xác tương

và đạt tới mức độ cao trong việc phát triển hạ tầng CNTT, phát triển ứng dụng CNTT
như các đơn vị làm việc trong lĩnh vực tài chính như Ngân hàng, các tổ chức quỹ, tín
dụng…. Nhiều đối tượng kiểm toán hoạt động chuyên trách trong công tác quản lý, sản
xuất, kinh doanh trong lĩnh vực CNTT như các Cục quản lý về lĩnh vự
c thông tin và
truyền thông tại Bộ Thông tin và Truyền thông, các Ban thuộc Chính Phủ, quốc hội làm
việc trong lĩnh vực CNTT. Những đơn vị kể trên đây đã sử dụng máy tính, phương tiện
truyền thông như một xương sống cho mọi hoạt động của họ . Tại những đối tượng này
mức độ ứng dụng CNTT không chỉ dừng lại ở mức phổ thông như các ứng dụng v
ăn
phòng, phần mềm kế toán đơn giản, mà họ đã và đang sử dụng các chương trình ứng dụng
phức tạp được xây dựng trên nền cơ sở dữ liệu như: MS Access, SQL, Oracal. Đây là các
ứng dụng ở một mức độ phức tạp cao, đòi hỏi người làm việc phải hiểu biết ở một trình
độ nhất định mới có thể khai thác vào hoạt động kiể
m toán. Bên cạnh đó còn có rất nhiều
các phần mềm khác nhau được đối tượng KT sử dụng như các chương trình tính Dự toán,
các chương trình kế toán được nhiều đơn vị đối tượng kiểm toán sử dụng như: Fast
Access, Acnet, …. Để có thể hiểu biết, nắm rõ về các phần mềm này, có khả năng làm
việc với chúng nhằm phục vụ cho công tác kiểm toán thì đòi hỏi cán bộ kiểm toán phải có
mộ
t sự hiểu biết chuyên sâu về CNTT, mới có thể tránh được các rủi ro có thể xuất hiện
và đạt hiệu quả cao trong công tác kiểm toán.
Bên cạnh các yêu cầu về kiến thức CNTT cho cán bộ KTV, thì các yêu cầu về
chuyên môn trong lĩnh vực CNTT phục vụ cho hoạt động chung của KTNN – yêu cầu đào
tạo đối với cán bộ TTTH cũng rất rõ ràng. Các yêu cầu này thể hiện trên các yếu tố sau:
- Đảm bảo đủ khả nă
ng xây dựng, phát triển hệ thống CNTT phục vụ cho KTNN.
- Vận hành ổn định hệ thống hạ tầng CNTT của KTNN
- Phát triển các sản phẩm phụ trợ cho hoạt động kiểm toán đặc thù…
Với cán bộ lãnh đạo, những cán bộ mang trọng trách chỉ đạo, điều hành hoạt động

- 8 lớp tin học căn bản
- 11 lớp tin học nâng cao
Ngoài ra còn có một số lớp chuyên môn kết hợp với đối tác bên ngoài. Nhưng lớp
này đào tạo phần chuyên sâu theo từng đối tượng c
ụ thể như lớp khai thác phần mềm cơ
sở dữ liệu Luật, Quản trị và điều hành cơ sở dữ liệu Luật phục vụ cho công tác kiểm toán.
Nhìn chung, việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức tin học đã được xây dựng và ngày
càng hoàn thiện, đáp ứng được nhiều yêu cầu đòi hỏi từ thực tế hoạt động. Nhiều học viên
sau khi hoàn thành lớp bồi dưỡng đã có thể vận dụng các kiến thức đã học một cách thành
thạo vào hoạt động chuyên môn của mình.
1.2.2 Đào tạo về kỹ năng sử dụng máy tính cơ sở
Đào tạo về kỹ năng sử dụng máy tính cơ sở bao gồm những phần chính sau đây:
1.2.2.1 Đào tạo về hệ điều hành.
Đây là một thành phần không thể thiếu trên mỗi máy tính. Để có thể vận hành
được máy tính, đưa máy tính vào hoạt động phục vụ công tác chuyên môn thì học viên
cần phải hiểu biết cơ bản về phương thức quản lý máy tính, phương thức hoạt động củ
a
máy tính. Để từ những hoạt động này, học viên có thể vận hành được máy tính cá nhân,
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

12
máy tính xách tay và một số thiết bị ngoại vi khác như thiết bị ổ CD/DVD, bộ nhớ USB,
máy in…. Về cơ bản, học viên sẽ nắm bắt được những nội dung sau:
HỆ ĐIỀU HÀNH – CƠ BẢN

Bài 1- Khái niệm cơ bản về máy vi tính
Bài 2- Hệ điều hành
Bài 3- Làm việc với hệ điều hành Windows XP
Bài 4- Làm việc với Windows Explorer


t. Đó cũng là những thành phần cơ bản nhất đảm bảo cho học viên có một nền tảng
kiến thức nhất định, từ đó có thể sử dụng các phần mềm ứng dụng khác ngoài các thành
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

13
phần có sẵn của máy tính, hệ điều hành. Chi tiết chương trình đào tạo được đưa ra trong
phụ lục 01.
1.2.2.2 Đào tạo về kỹ năng sử dụng các ứng dụng văn phòng
Các kỹ năng về sử dụng ứng dụng dùng trong công tác văn phòng nói chung là một
trong những kỹ năng rất cần thiết với cán bộ công chức trong điều kiện phát triển chính
phủ đ
iện tử hiện nay. Để có thể làm việc một cách thuận lợi, giảm thiểu thời gian, tăng
hiệu suất làm việc qua các công tác văn bản, thì các ứng dụng dùng trong văn phòng là
không thể thiếu. Các kỹ năng làm sử dụng ứng dụng văn phòng được xây dựng trên cơ sở
sử dụng phần mềm ứng dụng của Microsoft - Microsoft Office. Nội dung cơ bản về công
tác đào tạo dựa trên
ứng dụng này được xây dựng như sau:

MS WORD – CHƯƠNG TRÌNH SOẠN THẢO VĂN BẢN
BÀI 1: Làm quen với Microsoft word
BÀI 2: Soạn thảo và định dạng văn bản
BÀI 3: Sửa văn bản
BÀI 4: Tạo bảng biểu và đồ thị
BÀI 5: Đồ hoạ
BÀI 6: Tiêu đề đầu và chân trang
BÀI 7: In ấn

MS WORD – CHƯƠNG TRÌNH SOẠN THẢO VĂN BẢN
NÂNG CAO
BÀI 1: Theo dõi những thay đổi trong tài liệu


Bài 1- GIỚI THIỆU CHUNG
Bài 2: XÂY DỰNG CÁC SLIDE
Bài 3 - THIẾT LẬP HIỆU ỨNG TRÌNH DIỄN
Bài 4 - IN ẤN
Bài 5: SỬ DỤNG CÁC TEMPLATE - THIẾT LẬP SLIDE MASTER MS POWER POINT – CHƯƠNG TRÌNH TRÌNH CHIẾU
NÂNG CAO

BÀI 1 - THÊM NHẠC VÀ ÂM THANH
BÀI 2 - THÊM PHIM VÀ CÁC ẢNH GIF ĐỘNG
BÀI 3 - THÊM ẢNH ĐỘNG
BÀI 4 - ĐỊNH GIỜ TRÌNH DIỄN VÀ THÊM CÁC HIỆU ỨNG CHUYỂN TI
ẾP
BÀI 5 - THÊM VÀ HIỆU CHỈNH KIỂU ĐÁNH SỐ HAY BULLET
BÀI 6 - TẠO VÀ ĐỊNH DẠNG BẢNG (TABLE)
BÀI 7 - THÊM VÀ ĐỊNH DẠNG CÁC HEADER VÀ FOOTER
BÀI 8 - TẠO CÁC HYPERLINK VÀ CHÈN CÁC NÚT HÀNH ĐỘNG
BÀI 9 - TRÌNH DIỄN SLIDE SHOW
Bài 10 - IN TRONG POWERPOINT 2003

Chi tiết chương trình đào tạo được đưa ra trong phụ lục 01.
1.2.2.3 Đào tạo về kỹ năng sử dụng các ứng dụng kiểm toán
Hiện tại các phần mềm về cơ sở dữ liệu, ứng dụng trong kiểm toán đ
ang trong quá
trình xây dựng. Việc hướng dẫn sử dụng và thiết lập vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.
Với một số ứng dụng cụ thể cho từng đơn vị, do từng đơn vị triển khai thực hiện thì
TTTH mới chỉ dừng lại ở mức phối hợp với các đơn vị đó mở các cuộc thảo, trao đổi kinh

trách về
CNTT.
Với điều kiện hạn chế, phương thức tận dụng sự hỗ trợ của các nước có quan hệ
với Việt Nam, với KTNN thì phương thức cử cán bộ đi tập huấn, đào tạo tại nước ngoài
sẽ là điều kiện rất tốt. Đây là một lợi thế thiết thực, có thể tận dụng để nâng cao tầm hiểu
bi
ết thực tế về CNTT cũng như áp dụng CNTT vào kiểm toán. Trong những năm vừa qua,
TTTH đã cử được 6 cán bộ tham gia một số lớp đào tạo về kiểm toán trong môi trường
CNTT tại Hàn Quốc, Malaysia. Mặc dù các khoá học này không tập trung vào đào tạo
chuyên sâu về CNTT, thời gian khoá học ngắn (chỉ giới hạn 14 -> 30 ngày) và thường
đưa vấn đề tìm hiểu văn hoá, tham quan du lịch đi kèm nhưng cũng đã mang lại cho h
ọc
viên những hiểu biết nhất định về mức độ áp dụng CNTT vào thực tế, trình độ CNTT hiện
tại của họ và ứng dụng CNTT cho hoạt động kiểm toán.

Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

16
1.3 Đánh giá thực trạng nội dung, chương trình đạo tạo tin học
của Kiểm toán Nhà nước
1.3.1 Những kết quả đạt được
Trong thời gian qua, công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức CNTT cho cán
bộ của KTNN đã đạt được những kết quả nhất định. Nội dung chương trình bồi dưỡng kiến
thức CNTT đã ngày càng hoàn thiện. Số lượng các môn học đã được tăng cường đáng kể, nội
dung truyền đạt ngày càng phong phú. Cụ thể những mặt sau thể hiện một cách rõ ràng nhất:
Thứ nh
ất, số lượng và chất lượng các cán bộ được đào tạo về ứng dụng CNTT và
đưa ứng dụng CNTT vào hoạt động của KTNN ngày càng nâng cao. Điều này được phản
ánh thông qua số lượng máy tính và yêu cầu sử dụng máy tính trong lực lượng cán bộ
công chức ngày càng tăng số lượng và phong phú về lĩnh vực, yêu cầu công tác (từ các

lượng cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức CNTT vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
đòi hỏi của việc ứng dụng CNTT vào hoạt động. Nhiều máy tính và thiết bị ngoại vi vẫn
chưa được sử dụng một cách tối ưu. Trình độ chuyên môn và năng lực ứng dụng CNTT
của một số cán bộ còn yếu, đặc biệt là đối với các cán bộ có thâm niên công tác và có
tuổi. Khả năng hiểu biết về máy tính và ngoại ngữ còn hạn chế cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến quá trình ứng dụng CNTT của tất cả các cán bộ.
b. Về tiêu chuẩn đối vớ
i trình độ ứng dụng CNTT cho cán bộ của KTNN
Đến nay, KTNN chưa có một văn bản cụ thể nào quy định về tiêu chuẩn đối với
trình độ ứng dụng CNTT cho cán bộ ( A,B,C quản trị, lập trình ) của KTNN.
Về nội dung chương trình đào tạo mới chỉ phân chia thành 2 phần cơ bản và nâng cao
trong tất cả các môn đào tạo. Do đó, việc ứng dụng và đưa ứng dụng vào hoạt động thực
tế của các cán bộ còn nhiều b
ất cập. Nhiều phần, lĩnh vực kiểm toán viên, chuyên viên
quan tâm và có nhu cầu học tập vẫn chưa được đưa vào chương trình đào tạo.
c. Về mục tiêu đào tạo

Trong những năm qua mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức CNTT cho cán bộ
mới chỉ được phản ánh thông qua các chương trình, nội dung, phương thức đào tạo, bồi
dưỡng mà chưa được quy định rõ ràng dưới hình thức văn bản. Do đó, công tác đào tạo,
bồi dưỡng kiến thức CNTT cho cán bộ chưa có kế hoạch và định hướng cụ thể, rõ ràng
trong cả trung hạn và dài hạn.
Cho
đến nay, KTNN mới chỉ xây dựng và phê duyệt chương trình khung đào tạo
về kiến thức CNTT cho cán bộ công chức, chứ chưa có chương trình khung đào tạo các
cán bộ chuyên trách CNTT. Do vậy, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ chuyên
trách CNTT chỉ mới phần nào bù đắp được những thiếu hụt về kiến thức chuyên môn cho
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

18

ủa các học viên.
- Chưa có các khoá học đào tào, bồi dưỡng dài hạn có ưu điểm giúp học viên lĩnh hội
được các kiến thức một cách liên tục, thường xuyên trong một thời gian dài, có thể là tổ chức
đào tạo bên ngoài KTNN . Với phương thức đào tạo này cũng mang lại một số hạn chế đối
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

19
với công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng. Khó khăn lớn nhất đó là KTNN khó có thể kiểm
soát được thời gian cũng như nội dung học tập của các học viên; đặc biệt đối với các khoá
học được tổ chức bên ngoài KTNN. Khó khăn thứ hai đó là phương tiện và trang thiết bị cho
công tác đào tạo trong điều kiện còn hạn chế về nguồn lực của KTNN.
- Tự nghiên cứu là một phương thức đòi hỏi phải có sự nỗ lực và tự giác rất lớn từ
phía các cán bộ. Nếu các cán bộ không tự tìm tòi nghiên cứu và xác định được những mục
tiêu nghiên cứu đúng đắn thì hình thức đào tạo, bồi dưỡng này sẽ không có hiệu quả.
- Thông qua việc nghiên cứu ứng dụng và tìm hiểu về CNTT, kỹ năng về ứng dụng
CNTT của các cán bộ sẽ được nâng lên rất nhiều. Tuy nhiên, nếu việc nhận thức, ý thức trong
việc nghiên cứu và ứng dụng CNTT vào hoạt động không hợp lý, thiếu định hướng sẽ không
tạo nên được tính chuyên môn hoá trong ứng dụng và sẽ dẫn đến việc làm hỏng hệ thống.
Việc hỗ trợ và hướng dẫn thường với các cán bộ ứng dụng CNTT ít kinh là điều hết sức cần
thiết.
g. Về đội ng
ũ giảng viên
Trong thời gian qua, KTNN đã rất chú trọng đến chất lượng đội ngũ giảng viên.
Tuy nhiên do Phòng Đào tạo - TTTH được thành lập chưa lâu, các đối tượng giảng viên
mang tính chuyên nghiệp chưa cao, hầu hết là giảng viên kiêm chức nên vẫn còn hạn chế
một số mặt và bị hạn chế về việc tuân thủ những quy trình cần thiết đảm bảo tính sư phạm
của một quá trình đào tạo (như
chuẩn bị giáo án, bài giảng khả năng truyền tải kiến thức
cho học viên ).
h. Về tài liệu, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng

ỏ, trang thiết bị chưa được hiện đại hoá một cách đồng bộ ;
- Kinh phí của Nhà nước cấp cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của KTNN còn hạn
chế;
- Các cán bộ được đào tạo từ các chuyên ngành khác nhau với các trình độ chuyên
môn và kỹ năng ứng dụng CNTT khác nhau.
Thực tế cho thấy việc sử dụng máy tính và các ứng dụng CNTT còn hạn chế. Một
số cán bộ công chức có thâm niên công tác lâu, có tu
ổi đời lớn thì hiểu biết và ứng dụng
CNTT chưa đạt được yêu cầu. Những cán bộ có thâm niên công tác thường không hoặc
chưa được đào tạo một cách bài bản về CNTT, về ứng dụng CNTT. Thời gian làm việc
với máy tính, sử dụng máy tính để làm việc chưa nhiều nên khả năng sử dụng máy tính
còn hạn chế.
Ngày nay, các công nghệ mới thường được đưa vào ứng dụng ngay cho máy tính,
các hệ
thống phần mềm mới, hệ điều hành mới liên tục phát triển. Với định luật Moore “
Cứ sau mỗi 18 tháng thì số lượng Transitor trên một MicroChip tăng lên gấp đôi” thì tốc
độ máy tính luôn luôn được cải thiện, và đi kèm đó là một loạt các phần mềm, phân cứng
liên tục ra đời và đưa vào sử dụng. Lúc này các máy tính cũ, phần mềm cũ không còn
được sử dụng do hỏng phần cứng trên máy tính hay phần m
ềm không đáp ứng được điều
kiện làm việc. Do vậy, với các công việc đặc thù và việc không thường xuyên sử dụng
máy tính trong mọi hoạt động đã dẫn đến khả năng sử dụng máy tính của các cán bộ có
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

21
tuổi không còn thành thạo như trước. Với những điều kiện này thì cần phải có những lớp
cập nhật kiến thức liên lục và thường xuyên mở rộng kiến thức về CNTT mới có thể
mang máy tính vào hoạt động thực tế một cách thiết thực với những cán bộ này.
Với những cán bộ trẻ, có thời gian tuyển dụng vào làm việc tại KTNN trong những
năm gần

1.4 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng tin học cho cán bộ, công chức nước ngoài.
Hàn Quốc là một quốc gia có nền công nghệ thông tin phát triển vào bậc nhất trên
thế giới. Tại đây, CNTT đã xuất hiện trong mọi hoạt động trong đời sống và trở thành một
thành phần không thể thiếu. Các cơ quan từ trung ương đến địa phương đã áp dụng CNTT
một cách triệt để. Họ đã xây dựng một hệ thống thông tin mạnh mẽ, có thể kết nối toàn bộ
các
đơn vị, bộ phận từ trung ương đến địa phương. Từ đó, xây dựng một trung tâm số liệu
toàn quốc. Dựa trên nền tảng đó, việc đào tạo cho cán bộ công chức của họ đã được xây
dựng tương đối hoàn thiện.
Tại cơ quan Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc, việc đào tạo được tổ chức tập
trung tại trung tâm đào tạo của Kiể
m toán và Thanh tra Hàn quốc ( IEEA). Học viên phải
học tập tập trung trong một thời gian từ một tháng đến 3 tháng. Hệ thống trang thiết bị
được xây dựng rất thuận lợi cho việc học tập của học viên. Việc tổ chức đào tạo được xây
dựng theo từng modul riêng. Căn cứ theo yêu cầu của từng loại đối tượng học, căn cứ
theo từng mục tiêu học tập mà khoá họ
c được thiết kế. Công tác đào tạo ứng dụng CNTT
ở đây được xây dựng trên nền các chương trình ứng dụng do chính họ làm ra và đang ứng
dụng nên đảm bảo tính hiệu quả rất cao. Bên cạnh đó, các chương trình ứng dụng tại Hàn
Quốc đã được Hàn hoá ngôn ngữ, hệ thống các Menu, hộp lệnh, hệ thống trợ giúp…. Đây
là một điều kiện hết sức thuậ
n lợi cho việc ứng dụng các chương trình máy tính vào hoạt
động, qua đó có thể nâng cao rất nhiều khả năng làm việc với máy tính của các công chức
Hàn Quốc. Điểm thuận lợi này đã làm cho công tác đào tạo và nâng cao kiến thức tin học
cho công chức của Kiểm toán và Thanh tra Hàn Quốc dễ dàng, hiệu quả hơn.
Nội dung chương trình đào tạo đã được xây dựng qua nhiều năm, nhiều lần cập
nh
ật. Đặc biệt, với mỗi một phiên bản chương trình ứng dụng mới do Kiểm toán và Thanh
tra Hàn Quốc tự xây dựng, phiên bản chương trình ứng dụng cập nhật, họ đều có các điều
chỉnh nội dung đào tạo tức thời. Phổ biến các kiến thức cập nhật này qua nhiều kênh

ững phân tích trong phần trước ta đã thấy rõ còn một số
điểm cần phải hoàn thiện thêm. Mục tiêu chính của công tác đào tạo là tăng cường hơn
nữa những kỹ năng từ căn bản đến chuyên sâu của cán bộ công chức tại KTNN. Với điều
kiện công nghệ đang phát triển từng ngày, việc áp dụng công nghệ mới, hệ thống mới vào
hoạt động của các
đối tượng kiểm toán ngày càng lớn và hoàn thiện thì có thể cần thiết
phải tăng cường hơn nữa công tác đào tạo nhằm nâng cao hơn nữa trình độ của cán bộ
công chức để có thể bắt kịp. Thông qua đó, việc thực hiện công tác chuyên môn mới có
thể đồng bộ, đẩy cao được năng suất lao động.
Cuộc cách mạng CNTT cùng với quá trình toàn cầu hóa đã và đang tác động mạnh
mẽ, sâu s
ắc và toàn diện đến mọi mặt trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội trên toàn thế
giới, tạo ra cơ hội cho những biến đổi cơ bản và những thành công to lớn. Ứng dụng
CNTT trong công tác quản lý hành chính là một trong những ứng dụng phổ biến nhất và
có tác động mạnh mẽ nhất tới mọi người dân trong xã hội. Thực hiện nhiệm vụ giai đoạn
5 năm 2006- 2010 theo lộ trình củ
a chiến lược phát triển Kiểm toán Nhà nước giai đoạn
Đề tài cơ sở Chủ nhiệm: Phạm Mạnh Hùng

24
2001-2010 vấn đề đặt ra là đạo tạo và bồi dưỡng kiến thức tin học ứng dụng trong hoạt
động kiểm toán nhà nước như thế nào để đảm bảo đến năm 2010 đưa KTNN Việt Nam
lên quy mô trung bình và đạt trình độ kiểm toán vào loại khá so với KTNN các nước tiên
tiến trong khu vực và trên thế giới, phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế.
Hiện này, KTNN có 21 đầu mối gồm 13 đơn vị ở
TW, 9 đơn vị khu vực và 3 đơn
vị sự nghiệp. Trong đó tại TTTH có 19 cán bộ viên chức ( tính đến 2-2008) bao gồm:
 Thạc sỹ: 03 người
 Kỹ sư: 07
 Cử nhân: 04


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status