Nghiên cứu các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch số liệu của chỉ tiêu Tổng sản phẩm trong nước giữa toàn bộ nền kinh tế với kết quả tính toán theo các tỉnh - Pdf 25


1
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VỤ HỆ THỐNG TKQG
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI CẤP BỘ ĐỀ TÀI : Nghiên cứu các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng chênh
lệch số liệu của chỉ tiêu “Tổng sản phẩm trong nước”giữa toàn bộ nền kinh
tế với kết quả tính toán theo các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương Đơn vị chủ trì : Viện khoa học Thống kê
Đơn vị thực hiện : Vụ Hệ thống TKQG
Chủ nhiệm: : CN. Bùi Bá Cường
Phó chủ nhiệm : CN. Lê Văn Dụy
CN. Nguyễn Văn Nông
Thư ký : CN.Nguyễn Thị Việt Hồng
CN. Khổng Đỗ Quỳnh Anh

9520
Hà Nội, năm 2011 2
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI

21. Cử nhân Đào Ngọc Lâm – Nguyên cán bộ Vụ PPCĐ và Công nghệ thông
tin.
22. Thạc sỹ Nguyễn Thuý Trinh – Phòng Thống kê tổng hợp Cục Thống kê
Hà Nội.
23. Cử nhân Nguyễn Văn Minh – Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia.

4
DẠNH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. GO : Giá trị sản xuất

5
MỤC LỤC Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 8
PHẦN I : THỰC TRẠNG VỀ BIÊN SOẠN CHỈ TIÊU TỔNG SẢN PHẨM
TRONG NƯỚC (GDP) Ở PHẠM VI TOÀN NỀN KINH TẾ VÀ CẤP TỈNH,
THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG CỦA TỔNG CỤC THỐNG KÊ.
10
I/ Thực trạng tính toán chỉ tiêu GO, VA/GDP trên phạm vi cả nước và theo địa bàn
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
10
1.Đối với chỉ tiêu giá trị sản xuất (GO) 10
2. Đối với chỉ tiêu VA/GDP 13
II/Các nguyên nhân dẫn tới chênh lệch số liệu GO, VA/GDP giữa TW và địa
phương
22
1.Những nguyên nhân thống kê 22
2.Nguyên nhân phi thống kê 28
PHẦN II: CƠ SỞ CỦA VIỆC BIÊN SOẠN CHỈ TIÊU TỔNG SẢN PHẨM
TRONG NƯỚC (GDP) CHO CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ
29
I/Một số vấn đề chung 29
II/Kinh nghiệm quốc tế về biên soạn chỉ tiêu GDP theo vùng 31
1. Kinh nnghiệm lập tài khoản quốc gia ở cơ quan Thống kê Trung ương Úc (ABS) 31
2. Kinh nghiệm thực hiện thống kê vùng lãnh thổ của Ba lan 34
3. Kinh nghiệm của Cục Thống kê Indonesia (BPS) 37

6
III/Nhu cầu và cơ sở biên soạn chi tiêu GDP đối với cấp tỉnh trực thuộc trung ương
của Việt Nam.
39

thống kê của khu vực và quốc tế về quy trình biên soạn GDP nói riêng và biên soạn
SNA nói chung
125
Giải pháp 9.Hoàn thiện bộ máy tổ chức, bổ sung nhân lực và nâng cao năng lực đội
ngũ cán bộ thống kê làm công tác tài khoản quốc gia từ trung ương đến địa phương
125
Giải pháp 10.Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và kinh phí cho công tác biên soạn
tài khoản quốc trên Tổng cục Thống kê và các Cục Thống kê tỉnh trực thuộc trung
ương.
126
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
DANH SÁCH CÁC CHUYÊN ĐỀ THỰC HIỆN TRONG HAI NĂM 131
PHỤ LỤC 136

8
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lãnh thổ kinh tế theo đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung

tỉnh thống nhất trong một nền kinh tế quốc dân phát triển đúng hướng, hài hoà
và bền vững.
Tuy nhiên, hiện nay các chỉ tiêu thống kê kinh tế tổng hợp cấp tỉnh, do
ngành thống kê tính toán trong đó có chỉ tiêu Tổng sản phẩm trong nước thự
c
hiện trên địa bàn tỉnh (ở phạm vi cả nước chỉ tiêu này là Tổng sản phẩm trong
nước) đã bộc lộ một số hạn chế đó là chất lượng số liệu chưa cao, không đảm

9
bảo tính thống nhất giữa số liệu của các tỉnh với cả nước, không thể so sánh
giữa các tỉnh với nhau…
Vì vậy đề tài “Nghiên cứu các giải pháp khắc phục tình trạng chênh
lệch số liệu của chỉ tiêu GDP giữa toàn bộ nền kinh tế với kết quả tính toán
theo các tỉnh trực thuộc trung ương” là hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất
lượng thông tin kinh tế tổ
ng hợp, đáp ứng đòi hỏi yêu cầu cấp thiết của các cấp
lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đối tượng sử dụng thông tin thống kê.
Ngoài phần “Đặt vấn đề”, “Kết luận và kiến nghị”, Báo cáo Tổng hợp
Đề tài gồm 3 phần chính:
Phần I: Thực trạng về biên soạn chỉ tiêu Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
ở các phạm vi toàn nền kinh tế và cấp tỉnh, thành phố tr
ực thuộc trung ương của
Tổng cục Thống kê.
Phần II: Cơ sở của việc biên soạn chỉ tiêu Tổng sản phẩm trong nước
(GDP) cho cấp tỉnh, thành phố.
Phần III: Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch số
liệu Tổng sản phẩm trong nước giữa trung ương và địa phương.

Đề tài nghiên cứu trong 2 năm: 2008 và 2009, trong năm 2008 thực hiện
20 chuyên đề; n

biên soạn Tài khoản quốc gia cho phạm vi cả nước. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu
cầ
u ngày càng cao của các cấp, các ngành và các đối tượng dùng tin khác thì
công tác này đã bộc lộ nhiều hạn chế và thiếu sót, cả về mặt chất lượng số liệu,
về tính đồng bộ, thống nhất giữa số liệu cả nước với số liệu các tỉnh, cả về tính
so sánh giữa số liệu của các tỉnh với nhau, tính đầy đủ và tính kịp thời trong
cung cấp cho các đối tượng dùng tin …
Trong mộ
t số năm lại đây, nếu so sánh chỉ tiêu GO, VA/GDP do Vụ Hệ
thống TKQG tính toán với tổng cộng các chỉ tiêu này từ 63 Cục Thống kê tính
(Theo giá thực tế và giá so sánh) đều có sự chênh lệch lớn và có xu hướng ngày
càng tăng. Dưới đây là một số thông tin cụ thể về vấn này.
I/Thực trạng tính toán chỉ tiêu GO, VA/GDP trên phạm vi cả nước và theo
địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
1. Đối với chỉ
tiêu giá trị sản xuất (GO)
a. Theo giá thực tế
Giá trị sản xuất theo giá thực tế giữa trung ương và địa phương có sự
chênh lệch ngày càng lớn, năm 2000 GO do trung ương tính toán lớn hơn địa
phương tính là 71.154 tỷ đồng (tương đương 9,06%), đến năm 2003 bắt đầu có
chiều hướng thấp hơn, tức là giá trị sản xuất do trung ương tính nhỏ hơn tổng
cộng địa phương tính toán khoảng - 6.219 t
ỷ đồng (tương đương – 0,46%) và
đến năm 2008 chênh lệch này là – 206105 tỷ đồng (tương đương -5,4%) 11
Khu vực I (nông, lâm nghiệp và thuỷ sản), sự chênh lệch giữa giá trị sản xuất
do TW và địa phương tính toán có xu hướng doãng dần theo thời gian, giá trị
sản xuất do địa phương tính luôn luôn cao hơn giá trị sản xuất do TW tính. Năm

Trong khu vực dịch vụ, giá trị sản xuất theo giá thực tế của ngành th
ương
nghiệp (bao gồm cả thuế nhập khẩu) do Tổng cục Thống kê và do địa phương
tính có sự chênh lệch rất lớn, số liệu do Tổng cục công bố luôn cao hơn tổng
cộng của 63 tỉnh. Năm 2000 giá trị sản xuất theo giá thực tế của ngành thương

12
nghiệp do Tổng cục Thống kê công bố là 86.924 tỷ đồng, địa phương tính là
56.180 tỷ đồng, chênh lệch 30.744 tỷ đồng (tương đương 54.72%), năm 2005
chênh lệch là 27.568 tỷ đồng và năm 2007 chênh lệch là 50.474 tỷ đồng.
b.Theo giá so sánh
Giá trị sản xuất theo giá so sánh 1994 do Tổng cục tính luôn thấp hơn giá
con số tổng cộng từ 63 Cục Thống kê tỉnh. Năm 2002, chênh lệch giữa trung
ương và tổng cộng địa phương là -18.473 tỷ đồ
ng (tương đương -9.35%). Năm
2003, chênh lệch là -155.119 tỷ đồng (tương đương -13.88%) và năm 2007
chênh lệch là -273.493 tỷ đồng (tương đương -18.24%).
Khu vực I (nông, lâm nghiệp và thuỷ sản): Giá trị sản xuất của khu vực I
theo giá so sánh do Tổng cục Thống kê tính toán thấp hơn tổng cộng từ các Cục
Thống kê tỉnh. Năm 2002, Tổng cục công bố giá trị sản xuất khu vực I theo giá
so sánh là 136.649 tỷ đồng, địa phương tính là 159.596 tỷ
đồng, chênh lệch -
22.947 tỷ đồng (tương đương -14.38%), và năm 2008 chênh lệch lên đến -
71.823 tỷ đồng (tương đương – 33,41%). Trong Khu vực này thì ngành nông,
lâm nghiệp có sự chênh lệch lớn nhất, năm 2008 chênh lệch gữa trung ương và
địa phương lên đến -54.611 tỷ đồng (tương đương -33,12%).
Xét về tốc độ tăng trưởng của khu vực I, năm 2005 và 2006 thì không có sự
chênh lệch lớn (năm 2005 trung ương tính GO tăng 5.2%, địa phương tính tăng
6.5%, n
ăm 2006 trung ương tính tăng 5.1%, địa phương tính tăng 6.8%), nhưng

-
5.0
10.0
15.0
20.0
2004 2005 2006 2007
%
Địa phương Trung ương

Khu vực III (dịch vụ): Ngược lại với giá trị sản xuất theo giá thực tế, giá
trị sản xuất theo giá so sánh của khu vực dịch vụ do Tổng cục Thống kê tính
trong những năm từ 2000-2002 cao hơn số liệu tổng cộng từ 63 tỉnh, nhưng bắt
đầu từ năm 2003 thì con số Tổng cục tính đã bắt đầu thấp hơn tổng cộng từ địa
phương. Năm 2002, chênh lệch giá trị sản xuất khu vực III theo giá so sánh
giữa trung ương và địa phương là 12.923 tỷ đồng (tương đương 7%), song từ
năm 2003, chênh lệch là -5.751 tỷ đồng (tương đương -2.67%), đến năm 2007
con số chênh lệch đã lên đến -89.898 tỷ đồng (tương đương -23.25%).
Trong khu vực III, ngành có sự chênh lệch lớn nhất là ngành vận tải, bưu
điện, năm 2002 chênh lệch -14.279 tỷ đồng, năm 2005 chênh lệch 34.373 t

đồng và năm 2007 chênh lệch 48.531 tỷ đồng (tương đương -59.23%).
2. Đối với chỉ tiêu VA/GDP
a.Theo giá thực tế
Từ năm 1993, theo Quyết định số 183/TTg ngày 25/12/1992 của Thủ tướng
Chính phủ về việc áp dụng Hệ thống tài khoản quốc gia ở Việt Nam, chỉ tiêu

14
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) được tính ở cả cấp quốc gia và cấp tỉnh. Sau
một số năm thực hiện Quyết định trên, đã xuất hiện sự chênh lệch số liệu GDP
do Tổng cục Thống kê tính toán với số liệu tổng cộng từ các tỉnh do các Cục

tính toán đã vượt con số do trung ương tính đến 13.153 tỷ đồng (tương đương
10.48%).
Khu vực III (dịch vụ): Mặc dù giá trị sản xuất của khu vực dịch do trung
ương tính toán luôn cao hơn giá trị sản xuất do 63 Cục Th
ống kê tỉnh tính

15
nhưng đối với giá trị tăng thêm xu thế này chỉ xuất hiện ở các năm 2000-2005,
bắt đầu từ năm 2006 giá trị tăng thêm của khu vực này do Tổng cục tính đã thấp
hơn tổng cộng của 63 tỉnh. Cụ thể xem đồ thị dưới đây:
Năm 2000, giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ do Tổng cục tính là
171.070 tỷ đồng, tổng cộng địa ph
ương là 144.799 tỷ đồng, chênh lệch 26.291
tỷ đồng (tương đương 15%), đến năm 2005, chênh lệch giảm thấp nhất với mức
chênh là 3.861 tỷ đồng (tương đương 1.2%) và đến năm 2008 là 39.064 tỷ
đồng (tương đương 6,93%).
Trong khu vực III, ngành có sự chênh lệch giá trị tăng thêm lớn nhất là
ngành thương nghiệp, số liệu tổng hợp từ 63 tỉnh luôn thấp hơn số liệu do Tổng
cục Thống kê công b
ố. Giá trị gia tăng của ngành thương nghiệp bao gồm cả
thuế nhập khẩu, nhưng số liệu về thuế nhập khẩu do địa phương tính toán luôn
thấp hơn số thuế nhập khẩu của cả nước. Năm 2000 chênh lệch về giá trị gia
tăng theo giá thực tế giữa trung ương và địa phương là 21.597 tỷ đồng (tương
đương 34%), năm 2005 là 25.203 tỷ đồng (tương đương 22%) và n
ăm 2007 là
29.361 tỷ đồng (tương đương 18,8%).
b. Theo giá so sánh
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá so sánh do Tổng cục Thống kê
tính và do các Cục Thống kê tỉnh tính luôn có sự chênh lệch và độ doãng ngày
càng lớn và luôn cao hơn độ doãng tính theo giá thực tế. Nếu như năm 2000

%
TW ĐF

Khu vực I (nông, lâm nghiệp và thuỷ sản): Ngành nông, lâm nghiệp có sự
chênh lệch rất lớn, địa phương luôn tính cao hơn trung ương từ 30-60%. Năm
2000 chênh lệch 24.697 tỷ đồng (tương đương 38.76%), năm 2003 chênh lệch
33.623 tỷ đồng (tương đương 47.47%), năm 2005 chênh lệch 40.175 tỷ đồng
(tương đương 52.25%, như vậy địa phương đã tính cao gấp rưỡi trung ương),
năm 2007 chênh lệch là 49.803 tỷ đồng (tương đương 60.41%) và đế
n năm
2008 chênh lệch đã lên đến 53.921 tỷ đồng (tương đương 62,26%). Sự chênh
lệch rất lớn này phát sinh từ chênh lệch số liệu về sản lượng, tỷ lệ chi phí trung
gian giá và hệ thống giá, chỉ số áp dụng để tính chuyển giá trị tăng thêm từ giá
thực tế về giá so sánh của các ngành trong khu vực này.
Xét về tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm theo giá so sánh của khu vực
nông, lâm nghiệp và thuỷ s
ản, năm 2001 Tổng cục công bố tăng 2.98%, địa
phương công bố tăng 4.8%, năm 2005 Tổng cục công bố tăng 4.02%, địa
phương tăng 5.09%, năm 2007 Tổng cục công bố tăng 3.4%, địa phương công
bố tăng 7.55%, năm 2008 Tổng cục công bố tăng 4,7%, địa phương công bố
tăng 6,3% và năm 2009 Tổng cục công bố tăng 1,8%, địa phương công bố tăng
10%.
Tốc độ tăng VA KVI do TW và ĐF tính
-
1.00
2.00
3.00
4.00
5.00
6.00

tăng do Tổng cục công bố cao hơn tốc độ tăng do 63 tỉnh tính còn các năm khác
tốc độ tăng giá trị tăng thêm của khu vực này do địa phương tính luôn cao hơn
tốc độ tăng do Tổng cục công bố. Năm 2000, Tổng cục công bố tốc độ tăng giá
trị tăng thêm theo giá so sánh 1994 của khu vực II tăng 10.39%, địa phương
tăng 13.28% chênh lệch 2.9%, năm 2004 là năm có tốc độ tăng chênh lệch lớn
nhất lên đến 7.2% (Tổng cục công bố tăng 10.2%, địa phương tính tăng 17.4%).
Số liệu tính bổ sung cho thấy năm 2008 Tổng cục công bố tăng 6%, thì địa
phương công bố tăng 12,8% và năm 2009 Tổng cục công bố tăng 5,5% thì địa
phương công bố tăng 10,8%

18
Tốc độ tăng VA KV II theo giá So sánh 1994
-
5.0
10.0
15.0
20.0
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
%
TW ĐF

Trong khu vực II, ngành công nghiệp điện nước là ngành có sự chênh
lệch lớn nhất, năm 2000 chênh lệch 18.422 tỷ đồng (tương đương 290.71%, tức
là số liệu do địa phương tính cao gấp gần 4 lần số liệu do Tổng cục công bố),
năm 2003 giá trị tăng thêm ngành công nghiệp điện nước theo giá so sánh do
Tổng cục tính là 8.944 tỷ đồng, địa phương tính là 11.729 tỷ đồng (chênh lệch
2.785 tỷ đồng, tương
đương 31.14%), đáng chú ý năm 2002 giá trị tăng thêm
của ngành công nghiệp điện nước do địa phương tính là 32.273 tỷ đồng, nhưng
đến năm 2003 chỉ còn là 11.729 tỷ đồng, giảm gần 2/3, dẫn tới tốc độ tăng giá

iểm phần trăm, năm 2005
Tổng cục công bố 8.48%, địa phương tính 15.03%, chênh lệch 6.54% điểm
phần trăm, năm 2007, Tổng cục công bố 8.68%, địa phương tính 16% chênh
lệch lên đến 7.32%điểm phần trăm . Năm 2008 Tổng cục công bố tăng 7,4% thì
địa phương công bố tăng 12,6%, chênh lệch 5,2% điểm phần trăm và năm 2009
Tổng cục công bố tăng 6,6% thì địa phương công bố 13,9%, chênh l
ệch xấp xỉ
năm 2007 là 7,3% điểm phần trăm.

Tốc độ tăng VA KV III theo giá so sánh 1994
-
5.00
10.00
15.00
20.00
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
%
TW ĐF

Trong khu vực III, giá trị tăng thêm theo giá so sánh 1994 của ngành
thương nghiệp do địa phương tính luôn thấp hơn con số do Tổng cục Thống kê
công bố, năm thấp nhất chỉ bằng 65%, năm cao nhất là năm 2007 cũng chỉ bằng
83.85%. Năm 2000, giá trị tăng thêm theo giá so sánh 1994 của ngành thương
nghiệp do Tổng cục tính là 44.644 tỷ đồng, con số tương ứng do địa phương
tính là 29.185 tỷ đồng (tương đương 65.37% con số do Tổng c
ục tính), năm
2005, con số Tổng cục tính là 63.950 tỷ đồng, địa phương tính là 50.091 tỷ
đồng (bằng 78.33%) và năm 2007 con số tương ứng là 75.437 tỷ đồng và
63.251 tỷ đồng (bằng 83.85%).
Đồ thị dưới đây phản ánh tốc độ tăng giá trị tăng thêm của ngành thương

Năm
2008
Năm
2009
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
1. Giá trị sản xuất
a. Giá thực tế
Nghìn tỷ
đồng

- Nông, lâm nghiệp và TS “ 338.5 502.1 551.4 452.7 629.9 680.0 114.2 127.8 128.6
- Công nghiệp “ 1469.3 1910.0 … 1553.8 2019.5 … 84.5 109.5 …
b. Giá 1994 “
- Nông, lâm nghiệp và TS “ 201.3 215.0 221.3 263.6 286.8 316.1 62.3 71.8 94.8
- Công nghiệp “ 568.1 647.2 696.6 730.9 855.8 994.1 162.8 208.6 297.5
2. Tổng mức b.lẻ hàng hóa
và doanh thu D.vụ t.dùng
“ 746.2 1009.8 1197.4 818.0 1054.0 1268.8 71.8 44.2 71.4
3. Khối lượng hành khách

Khu vực I “ 82.7 86.6 88.2 132.2 140.6 153.7 -49.5 -54.0 -65.5
Khu vực II “ 192.1 203.6 214.8 246.0 277.6 307.6 -53.9 -74.0 -92.8
Khu vực III “ 186.6 200.3 213.6 229.8 258.6 295.7 -43.2 -58.3 -82.1 22
II. Các nguyên nhân dẫn tới chênh lệch số liệu GO, VA/GDP giữa TW và
địa phương.
1. Những nguyên nhân thống kê
a/ Vấn đề liên quan tới tổ chức tính toán: Quy trình tổ chức tính toán
không thống nhất, thiếu đồng bộ giữa trung ương và địa phương:
- Công tác tổ chức biên soạn tài khoản quốc gia ở Tổng cục và các Cục
Thống kê tỉnh hiện nay đang áp dụng là quy trình phân tán, tức là các Vụ trên
Tổng cục tính và công bố ch
ỉ tiêu GO, VA/GDP theo giá thực tế và giá so sánh
cho phạm vi cả nước đồng thời hướng dẫn, chỉ đạo, giám sát các Cục Thống kê
tỉnh tính và công bố các chỉ tiêu này cho tỉnh mình, riêng các ngành thuộc khu
vực dịch vụ, các Vụ cung cấp thông tin để Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia tính
toán, song sự phối hợp giữa các Vụ thống kê chuyên ngành và Vụ Hệ thống tài
khoản quốc gia chưa tốt nên cả phạm vi, nội dung, nguồn thông tin, phương
pháp tính một số chỉ tiêu chưa thống nhất.
- Quy trình tính chỉ tiêu GDP theo địa bàn tỉnh, thành phố chưa được
Tổng cục Thống kê nghiên cứu một cách khoa học cho nên khi vận dụng chưa
phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế của nước ta và cũng chưa phù hợp với thông
lệ quốc tế, thí dụ: thông thường giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp được
tính bằng phương pháp đánh giá trự
c tiếp tức là giá trị sản xuất bằng sản lượng
sản phẩm nhân với đơn giá bình quân sản xuất sản phẩm; cho dù giữa Trung
ương và địa phương thống nhất với nhau về sản lượng sản phẩm nhưng đơn giá
bình quân sử dụng khác nhau sẽ dẫn đến giá trị sản xuất khác nhau. Hoặc để

thường trú cho tỉnh về cơ bản phải kết hợp giữa các nguyên tắc “Trung tâm lợi
ích kinh tế trong lãnh thổ” và nguyên tắc “Địa bàn xuất sứ sả
n phẩm”,
Do khái niệm “đơn vị thống kê cơ sở trong lãnh thổ” và “đơn vị thường
trú trên địa bàn tỉnh, thành phố” chưa được quy định một cách khoa học và cụ
thể, chưa được hiểu thống nhất nên nhiều tỉnh hiểu, vận dụng rất khác nhau
trong quá trình tính toán, biểu hiện là:
+ Các doanh nghiệp do tỉnh thành lập, có các đơn vị thành viên hạch toán
phụ thuộc hoạt động ngoài tỉnh (không phải là đơ
n vị thường trú của tỉnh)
nhưng tỉnh vẫn tính toàn bộ theo doanh nghiệp mẹ vào GDP của mình.
+ Các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc có doanh thu riêng hoạt
động trong tỉnh, thành phố (là đơn vị thường trú của tỉnh) nhưng doanh nghiệp
mẹ là của trung ương hoặc tỉnh khác thì nhiều tỉnh, thành phố tính vào GDP của
tỉnh mình song cũng có tỉnh không tính. Hiện tượng này thường xảy ra đối các
loại hình kinh tế như Tậ
p đoàn kinh tế, công ty nhà nước hoạt động theo mô
hình “công ty mẹ, công ty con”, các Tổng công ty 90, 91, các doanh nghiệp do
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và do các tổ chức Đảng, đoàn thể quản lý.
+ Các tỉnh còn chưa đưa các lĩnh vực quản lý nhà nước, an ninh quốc
phòng, văn hoá, y tế, giáo dục do trung ương quản lý đóng trên lãnh thổ tỉnh;

24
các cơ quan sứ quán, lãnh sự quán của Việt Nam hoạt động ở nước ngoài và
thuế nhập khẩu trong khi đó GDP của cả nước đã bao gồm cả các hoạt động
này.
b.2/ Những vấn đề liên quan đến phân ngàn, phân loại thống kê và nguồn
thông tin
- Do có sự khác nhau trong tổng hợp thông tin theo ngành và thành phần
kinh tế giữa trung ương và địa phương, thí dụ: Đơn vị A Trung ương xếp vào


25
chất lượng thông tin thấp là nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng chênh
lệch số liệu giữa trung ương và địa phương.(Đề nghị tham khảo thêm phụ lục 1)
b.3/ Những vấn đề liên quan tới phương pháp tính
- Hiện tại Tổng cục Thống kê tính GDP theo 2 phương pháp: phương pháp
sản xuất và phương pháp sử dụng cuối cùng (những năm có điều tra I/O tính
thêm được phương pháp thu nhập). Trong khi đó các Cục Thống kê tỉ
nh chỉ
tính GDP theo phương pháp sản xuất. GDP tính theo phương pháp sản xuất, sử
dụng công thức: GDP = GO-IC+thuế nhập khẩu. Ở đây có 3 yếu tố đều có thể
dẫn đến chênh lệch số liệu giữa trung ương và địa phương, đó là:
+ Chênh lệch về giá trị sản xuất của các ngành do Tổng cục Thống kê tính
và do địa phương tính. Thí dụ: Đối với khu vực I (nông, lâm nghiệp và thuỷ
sản) th
ường sử dụng phương pháp đánh giá trực tiếp, tức là sử dụng giá bình
quân của cả nước để tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo công thức lượng nhân đơn
giá, song cho đến năm 2008 Tổng cục quy định cho Cục Thống kê tỉnh, địa
phương nào có điều tra giá nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thì áp dụng giá của
tỉnh đó (Có 37 tỉnh có điều tra); địa phương nào không có điều tra thì sử dụ
ng
giá của vùng để tính, như vậy đối với 27 tỉnh không có điều tra giá nên chỉ tiêu
GO đã tính toán không phản ánh đúng thực tế của địa phương. Các ngành còn
lại để tính GO theo giá thực tế thường áp dụng phương pháp doanh thu hoặc
phương pháp chi phí, do chỉ tiêu doanh thu hoặc chi phí chỉ xác định theo đơn
vị hạch toán độc lập dẫn đến chỉ tiêu GO hoặc bị tính trùng hoặc bỏ sót giữa các
tỉnh với nhau.
+ Hệ
số chi phí trung gian điều tra một năm dùng cho một số năm (nhìn
chung các tỉnh vẫn dùng tỷ lệ chi phí trung gian đã điều tra từ năm 1997, từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status