1
BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN BÁO CÁO TỔNG LUẬN
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ BA BÊN GIỮA NHÀ NƯỚC, NGƯỜI SỬ DỤNG
LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Mã số: ĐTĐL - 2007T/54 Chủ nhiệm đề tài: PGS. TSKH. Nguyễn Viết Vượng
9269 Hà Nội, tháng 9 năm 2010
3. Quan hệ lao động và quan hệ ba bên
II. BẢN CHẤT, NỘI DUNG, CÁC HÌNH THÁI BIỂU HIỆN VÀ VAI TRÒ CÁC
CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ BA BÊN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Bản chất của quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường
2. Nội dung của quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường
3. Hình thái biểu hiện của quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường
4. Vai trò các chủ thể của quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường
III. QUAN HỆ BA BÊN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ
QUỐC GIA VÀ KHU VỰC
1. Quan hệ ba bên ở Liên bang Nga
2. Quan hệ ba bên ở Cộng hoà Liên bang Đức
3. Quan hệ ba bên ở Hàn quốc
4. Quan hệ ba bên ở Trung Quốc
5. Quan hệ ba bên ở một số nước ASEAN
6. Quan hệ ba bên ở Nhật Bản
7. Quan hệ ba bên ở Thụy Điển
1- Các quy định pháp lý về cơ chế ba bên ở Việt Nam
2- Thực trạng vai trò của Nhà nước trong quan hệ ba bên
3- Thực trạng vai trò của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
và VICOPSME trong quan hệ ba bên
4- Thực trạng vai trò của Công đoàn trong quan hệ ba bên
5- Những tồn tại, hạn chế trong quan hệ ba bên
6- Thực trạng lao động, việc làm và thu nhập của người lao động và
những hệ quả đối với quan h
ệ ba bên
7- Thực trạng về thực hiện thỏa ước lao động tập thể
8- Thực trạng về thực hiện hợp đồng lao động
9-Thực trạng xung đột về lợi ích trong quan hệ lao động ở Việt Nam
10- Thực trạng về tranh chấp lao động và đình công
11.Vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương và doanh nghiệp 5
trong việc giải quyết tranh chấp lao động và đình công
12. Thực trạng về vai trò của đại diện người lao động
II. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN QUAN HỆ BA BÊN Ở
VIỆT NAM
1. Khắc phục hạn chế, khiếm khuyết của mối quan hệ ba bên
2. Đảm bảo tính khả thi và hiệu lực cao của pháp luật
3. Đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
4. Đảm bảo tính phù hợp với xu thế chung và những yêu cầu của hội 6
nhập kinh tế quốc tế
III. CÁC QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG
1. Đảm bảo tính hiệu lực và liên thông giữa pháp luật, thoả ước, hợp
đồng lao động
2. Đảm bảo hài hoà tính quy phạm của pháp luật và tính thoả thuận
trong quan hệ ba bên
3. Phát huy vai trò và sức mạnh của các chủ thể trong quan hệ ba bên
IV. HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP
1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quan hệ ba bên
Víi Đảng
Với Nhµ n−íc
Víi Tæng Liªn ®oµn Lao động Việt Nam
Với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh các Hợp tác
xã Việt Nam
Với người sử dụng lao động
Với người lao động
PHỤ LỤC
TAI LIỆU THAM KHẢO
8
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BLLĐ Bộ luật Lao động
CĐCS Công đoàn cơ sở
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CNTB Chủ nghĩa tư bản
CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNLĐ Công nhân lao động
DN Doanh nghiệp
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCCN Giai cấp công nhân
tạp. Pháp luật lao động Việt Nam đã có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa
vụ của các bên trong quan hệ ba bên. Các quy định về quan hệ ba bên đã tiếp cận
được những quy tắc ứng xử trong quan hệ lao động của Tổ chức lao động quốc tế.
Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh quan hệ lao động. Các
đối tác thuộc quan hệ
ba bên ở Việt Nam đã có những hành động phối hợp góp
phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao
động, tạo cơ chế đối thoại có hiệu quả, giảm thiểu những tranh chấp, những xung
đột trong quan hệ lao động, đặc biệt là tại các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế
ngoài nhà nước.
Bên cạnh những mặt tích cực, quan hệ ba bên ở
Việt Nam còn xuất hiện
những vấn đề bất cập như :
- Các tổ chức đại diện của ba bên (những đối tác), nhất là đại diện giới chủ, do
tính đặc thù về lịch sử và thể chế, chưa được khẳng định hoặc còn hạn chế về chức
năng đại diện của mình nên chưa đóng góp đúng mức vào sự ổn định quan hệ lao
động, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Về mặt luật pháp, quan hệ ba bên trong
kinh tế thị trường còn khá mới mẻ đối với Việt Nam, nên vẫn cần tiếp tục được
hoàn thiện, tiếp tục được điều chỉnh theo quy luật chung của kinh tế thị trường.
- Về mặt thực tế, sự phát triển đa dạng của các doanh nghiệp trong kinh tế thị
trường cũng đ
ã làm nảy sinh những mâu thuẫn về quan hệ lao động, nhất là quan hệ
lợi ích kinh tế. Trong nhiều doanh nghiệp quan hệ giữa người sử dụng lao động và
người lao động chưa được đồng thuận, nhiều vụ việc tranh chấp lao động xảy ra
dẫn đến tình trạng đình công của người lao động, mà nguyên nhân đều bắt nguồn từ
quan hệ lao động trong doanh nghiệp chưa lành mạnh, chưa hài hòa. Chính phủ và
10
tổ chức Công đoàn đã có nhiều biện pháp tích cực để giải quyết, song chuyển biến
còn chậm. Thực trạng đó gây tổn hại cho người lao động, làm thiệt hại kinh tế cho
tính cấp bách để quan hệ này phát triển hài hoà, bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu
11
Nghiên cứu đề tài này nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp thiết, trước mắt, đưa ra
những giải pháp, những khuyến nghị nhằm góp phần giải quyết những mâu thuẫn,
những xung đột về quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế được những vụ
tranh chấp, đình công tự phát, đình công bất hợp pháp của người lao động.
Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên c
ứu
Đề tài xuất phát từ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ ba bên đến
các vấn đề có liên quan và là biểu hiện cụ thể, trực tiếp của quan hệ ba bên trong
kinh tế thị trường, như vấn đề về thoả ước lao động tập thể, vấn đề về hợp đồng lao
động, thương lượng tập thể theo quy định của pháp luật Việt Nam để
làm rõ thực
trạng quan hệ ba bên ở Việt Nam. Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá, so sánh để tìm
ra bản chất, đặc trưng và giải pháp cơ bản hoàn thiện quan hệ ba bên ở Việt Nam
hiện nay và trong những năm tới; đề xuất, kiến nghị với Đảng bổ sung vào dự thảo
văn kiện trình đại hội XI Đảng cộng sản Việt Nam và bổ sung, hoàn thiện dự thảo
cương lĩ
nh của Đảng, chính sách của Nhà nước, chương trình hành động của các tổ
chức chính trị- xã hội nhằm thể chế hoá các mối quan hệ giữa nhà nước, người sử
dụng lao động và người lao động.
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở nghiên cứu về quan hệ giữa người sử dụng lao động,
người chủ s
ở hữu tư liệu sản xuất, với người lao động, người làm thuê, bị bóc lột
sức lao động dưới nhiều hình thức trong kinh tế thị trường tự do; vận dụng lý luận
của Mác về giá trị thặng dư, quy luật cung cầu, chế độ giao kèo để nghiên cứu quan
hệ lao động trong các doanh nghiệp; vận dụng lý luận Mác- Lênin về vai trò của
phần mềm vi tính PSS13.1 để xử lý thông tin thu được qua điều tra xã hội học về
các đối tượng nghiên cứu. Khảo sát thực tế với 2000 phi
ếu hỏi, phỏng vấn 5 đối
tượng là: công nhân, lao động; cán bộ công đoàn; cán bộ Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam, cán bộ Liên minh các hợp tác xã Việt Nam; chủ doanh
nghiệp. Các địa phương đề tài chọn khảo sát là các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thành
phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Huế. Thời gian
khảo sát từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2009.
Khi thực hiện đề tài, các tác giả đã mời các chuyên gia, các nhà khoa học củ
a
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Viện nghiên cứu Công nhân - Công đoàn
13
(Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam); Viện nghiên cứu khoa học Tổng Cục dạy
nghề (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) ; Liên đoàn Lao động các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, Sở lao động thương binh và xã hội tỉnh, thành phố,
Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Phòng Thương mại và công nghiệp
thành phố Hồ Chí Minh, một số trường đại học, một số ban chuyên đề của Tổng
Liên đ
oàn tham gia Hội thảo, nghiên cứu và viết các chuyên đề.
Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải pháp giải quyết tốt mối quan hệ ba bên
không những có tác động tích cực đến đời sống của người lao động, mà còn có tác
động tích cực đến đời sống chính trị - xã hội, tạo lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho
việc hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội, đáp ứng ngày càng cao yêu c
ầu về
lợi ích của người lao động, của giai cấp công nhân trong xây dựng và phát triển đất
nước; phát huy quyền làm chủ về kinh tế, đảm bảo lợi ích hợp pháp, hợp lý của các
bên có liên quan, thông qua đó, tạo sự đồng thuận giữa người lao động, người sử
dụng lao động, tiếp tục phát huy vai trò quản lý, điều hành của nhà nước; củng cố,
đoạn công trường thủ công lên công xưởng. Đại công nghiệp phát triển làm chuyển
biến sâu sắc cơ cấu xã hội, cơ cấu dân cư và các quan hệ xã hội. Vào những năm
cuối thế kỷ XIX, lực lượng sản xuất trong các nước tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh
mẽ. B
ắt đầu từ những phát minh về năng lượng làm cơ sở cho nhiều phát minh, ứng
dụng trong các ngành kinh tế. Tiến bộ kỹ thuật thúc đẩy sự phát triển các ngành công
nghiệp mới. Đội ngũ công nhân kỹ thuật, có tay nghề cao xuất hiện ngày càng nhiều
trong các khu công nghiệp và đô thị sầm uất; họ không chỉ là lực lượng cơ bản quyết
định sự tăng trưởng kinh tế mà còn là lực lượng xã h
ội to lớn và quan trọng. Một bộ
phận công nhân được trả lương cao, được nới rộng quyền tự do dân chủ…
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và ngày
nay là cách mạng khoa học công nghệ làm cho sức sản xuất phát triển nhanh, các
nước tư bản đã đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng nhanh chóng những thành tựu
khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, phát triển các ngành công nghi
ệp cao như: Năng
lượng nguyên tử và các nguồn năng lượng mới khác, công nghệ vật liệu mới, công
nghệ tự động hóa, công nghệ tin học, công nghệ sinh học. Cùng với sự phát triển
của kỹ thuật- công nghệ, quá trình trí thức hóa lao động xã hội diễn ra mạnh mẽ đã
góp phần nâng cao vai trò nhân tố quyết định của con người trong sản xuất, biến
15
người lao động làm thuê từ con người chỉ đơn thuần thực hành ý chí của người tổ
chức thành một chủ thể có tri thức, năng động trong sản xuất, tham gia cả trong
công việc quản lý sản xuất. Công việc lao động có trình độ nghiệp vụ và tri thức
ngày càng trở thành nhân tố quyết định trong sản xuất tại các nước công nghiệp
phát triển. Nếu không sử dụng hiệu quả, trước hết là ngu
ồn nhân lực, thì doanh
nghiệp không thể đạt được chất lượng hàng hóa và dịch vụ cao, không thể nhanh
chóng đáp ứng được những nhu cầu thay đổi của người tiêu dùng và do vậy, không
hệ thống sản xuất xã hội.
Nghiên cứu quan hệ sản xuất sẽ
giúp chúng ta hiểu rõ cội nguồn các mối quan
hệ kinh tế, xã hội trong đó có quan hệ lao động (quan hệ giữa người lao động và
người sử dụng lao động). Quan hệ lao động là hình thức biểu hiện cụ thể của sự kết
hợp tư liệu sản xuất với người lao động trong quá trình sản xuất của xã hội. Sự kết
hợp giữa người lao động với tư li
ệu sản xuất được thực hiện qua mối quan hệ tương
tác giữa người lao động với người có tư liệu sản xuất. Trong quan hệ lao động, tiền
lương là nhân tố cơ bản nhất, gắn người lao động với người sử dụng lao động.
Trong cơ chế thị trường, tiền lương là biểu hiện giá cả của giá trị sức lao động. Bởi
vậ
y, về bản chất quan hệ lao động là quan hệ lợi ích kinh tế. Bất cứ quan hệ kinh tế,
xã hội nào đều thực hiện cụ thể qua quan hệ lao động. Quan hệ lao động là hình
thức cụ thể của mối quan hệ tương tác giữa người có sức lao động và người có tư
liệu sản xuất, biểu hiện trong quá trình lao động xã hội. Các cá nhân hoặc tập thể ở
địa vị khác nhau trong quan hệ
lao động, thì cũng có vị thế khác nhau về địa vị kinh
tế, xã hội trong quan hệ lao động.
Bản chất và đặc điểm của quan hệ kinh tế - xã hội được thể hiện cụ thể qua
quan hệ lao động. Quan hệ kinh tế là quan hệ cơ bản nhất. Ví dụ như bản chất và
đặc điểm quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa là thuê mướn lao động, bóc lộ
t sức lao
động. Nhưng đặc điểm này trong quan hệ kinh tế rất trừu tượng, chung chung,
không có cách nào nắm được mà chỉ có thể phản ánh cụ thể trong quan hệ lao động.
Nhân tố cơ bản quyết định tính chất và đặc điểm của quan hệ lao động là tính
chất của chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu như thế nào thì tính chất của quan hệ lao
động như
thế ấy. Quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa đã làm nảy sinh mâu
thuẫn gay gắt giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân đã
của quan hệ lao động và xét đến cùng, chính nó tác động đến quan hệ đối tác ba
bên. Song ảnh hưởng của chế độ sở hữu đến quan hệ đối tác như thế nào lại phải
thông qua cơ chế kinh tế. Mà cơ chế kinh tế với danh nghĩa là kết cấu tổ
chức và cơ
cấu vận hành kinh tế-xã hội tất nhiên phải thông qua vai trò điều tiết của nhà nước
bằng pháp luật và hệ thống các công cụ kinh tế vĩ mô. Quan hệ sở hữu và cơ chế
kinh tế có quan hệ mật thiết với nhau. Cơ chế kinh tế hình thành trên cơ sở quan hệ
18
sở hữu, đáp ứng nhu cầu của quan hệ sở hữu, đồng thời nó đưa ra những giải pháp
duy trì, củng cố quan hệ sở hữu xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị, nhưng
khi quan hệ sở hữu biến đổi thì cơ chế kinh tế cũng biến đổi theo.
Vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, giai cấp công nhân không có quyền
hành gì về mặt chính tr
ị-xã hội. Chính phủ tư sản liên tiếp ban hành những đạo luật
chống lại công nhân và khẳng định về mặt pháp lý quyền lực vô hạn của tư bản.
Theo các đạo luật đó, các hành động tập thể và việc lập tổ chức để bảo vệ lợi ích
trực tiếp của công nhân đều bị cấm. Bộ luật của Napoleon (năm 1810) dọa bỏ tù
những ngườ
i bãi công từ 3 tháng đến 1 năm, người lãnh đạo hay khởi xướng từ 2
đến 5 năm. Ngay từ những năm 1799-1800, Nghị viện Anh đã thông qua đạo luật
nhằm chống các công hội nói chung, đạo luật cấm các tổ chức công đoàn và cấm
bãi công. Dựa vào đạo luật hà khắc của nhà nước, bọn chủ đã bức hại những người
tham gia phong trào, tổ chức truy nã các công hội, trước hết là ở các khu công
nghiệp. Hàng nghìn công nhân và nh
ững người lãnh đạo của họ đã bị bỏ tù hoặc bị
truy bức đến chết.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở các nước
tư bản có những chuyển biến quan trọng. Cùng với quá trình đó, trình độ văn hóa
chính trị của quần chúng tăng lên, vai trò và ý nghĩa của các tổ chức xã hội và hội
và các tổ chức khác. Vấn đề ở ch
ỗ là con người đơn độc thực sự không thể bảo vệ
quyền lợi của mình trong nhà nước hiện đại. Các tổ chức này, dường như đứng
giữa nhà nước và công dân, đóng vai trò giảm xóc xã hội. Đồng thời, chúng cũng
thúc đẩy sự tìm kiếm và mở rộng các quyền công dân, tính sáng tạo và tinh thần tự
thực hiện của công dân.
Công đoàn với tư cách là tổ chức quần chúng của công nhân lao động, ngay t
ừ
khi thành lập đã là tổ chức đại diện cho những người lao động làm thuê, tổ chức
cho công nhân lao động đấu tranh đòi quyền sống, vừa bảo vệ người công nhân về
kinh tế, vừa hạn chế sự chuyên quyền của giới chủ.
Yếu tố cơ bản của xã hội công dân là nhà nước pháp quyền. Như mọi người
đều rõ, tư tưởng cơ bản của nhà nướ
c pháp quyền đó là sự phục tùng các quy phạm
pháp luật của chính quyền nhà nước và toàn bộ công dân. Nhà nước pháp quyền đã
tuyên bố rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, công dân được tự do lựa
chọn hình thức hoạt động kinh tế, nghề nghiệp và quyền sở hữu được nhà nước
20
đảm bảo, quan hệ đối tác ba bên là sự phối hợp hành động của các bên đối tác trên
cơ sở hệ thống luật pháp nhất định.
Như vậy là, vào giữa thế kỷ XX, ở những nước phát triển trên thế giới cùng có
nền kinh tế thị trường đã hình thành một kiểu quan hệ ba bên mới với các mối quan
hệ tương tác giữa người lao động và chủ doanh nghiệp, vai trò điều tiế
t của nhà nước
bằng hệ thống pháp luật. Quan hệ này được thể hiện rất phong phú và đa dạng.
2. Những đặc điểm cơ bản của quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường
Quan hệ ba bên có những đặc điểm cơ bản: Nhà nước pháp quyền là nền tảng
của quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường; quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị
trường là quan hệ
a Liên hợp quốc về quyền con người đã nói rõ nhà nước pháp quyền
là ưu tiên cho lợi ích của con người, mỗi công dân đều phục tùng pháp luật, nhà
nước bảo vệ công dân khỏi các bạo lực trong xã hội và mọi hình thái diệt chủng.
Việc tuân thủ và chấp hành luật pháp là nền tảng sức mạnh của nhà nước pháp
quyền. Trong nhà nước pháp quyền mọi người phải tuân thủ các quyền trong đó có
quyền tự do lao độ
ng. Quyền tự do lao động bao gồm: tự do sử dụng năng lực trí
tuệ của mình, tự do lựa chọn nghề nghiệp, quyền lao động trong điều kiện đáp ứng
được các yêu cầu về vệ sinh và an toàn lao động; quyền được nhận thù lao, tiền
lương, thưởng tương xứng với công sức của mình và phù hợp với quy định của nhà
nước, quyền được hưởng các phúc lợi xã hộ
i, quyền có nhà ở, được khám chữa
bệnh…Trên cơ sở đó phát huy quyền dân chủ của mọi công dân, quyền tham gia
quản l ý nhà nước, doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị; quyền tham gia giám sát các
hoạt động của cơ quan nhà nước.
Nhà nước pháp quyền XHCN có các đặc trưng:
- Sự đảm bảo tối cao của Hiến pháp và Pháp luật trong đời sống xã hội, trong
đó pháp luật phản ánh ý chí chung của nhân dân và lợi ích chung của xã hội.
- Nhà nước th
ực hiện và bảo vệ các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và
văn hóa của công dân. Pháp luật chỉ cấm những gì có hại cho xã hội. Công dân
được tự do làm những gì pháp luật không cấm.
- Nhà nước và nhân dân bảo đảm trách nhiệm lẫn nhau, có quan hệ mật thiết
và ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi do pháp luật điều chỉnh. Bảo đảm quyền của
công dân là trách nhiệm của nhà nước và công dân phải thự
c hiện các nghĩa vụ đối
với nhà nước. Nhà nước chịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt động của
22
mình và công dân chịu trách nhiệm trước nhà nước về những hành vi xâm phạm
ủa
nền kinh tế thị trường, thì yếu tố lao động là quan trọng nhất bởi vì nó tác động và chi
23
phối các mối quan hệ đối tác xã hội, hình thành nên quan hệ đối tác lao động hai bên
giữa một bên là người lao động và bên kia là người sử dụng lao động. Mối quan hệ
này được biểu hiện theo nguyên tắc thị trường, mang những lợi ích khác nhau giữa các
nhà doanh nghiệp, chủ sở hữu tư nhân và những người lao động làm thuê.
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường nói riêng và xã hội loài người nói
chung đã làm cho mối quan hệ ba bên đượ
c củng cố và phát triển. Trên cơ sở đó
hình thành ba chủ thể chính của quan hệ ba bên là :
Chủ thể thứ nhất: Người lao động (chiếm số đông trong xã hội) về danh
nghĩa là không có tư liệu sản xuất nên phải bán sức lao động (sức lao động trở
thành hàng hóa) để tồn tại. Do đó, lợi ích chủ yếu của người lao động là làm sao
bán được sức lao động với giá càng cao càng tốt.
Ch
ủ thể thứ hai: Người sử dụng lao động sở hữu tư liệu sản xuất (chủ doanh
nghiệp, chủ sở hữu tư nhân, chủ sở hữu Nhà nước) là những người có lợi ích chủ
yếu là lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất, kinh doanh càng nhiều càng tốt.
Chủ thể thứ ba: Nhà nước với tư cách là thành tố, hạt nhân của hệ thống
chính trị trong xã hội có nề
n kinh tế thị trường. Nhà nước đại diện cho lợi ích của
toàn xã hội, là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo cho sự phồn vinh, hòa bình của dân
tộc, lợi ích của các giai tầng trong xã hội. Ở tất cả các quốc gia, nhà nước là chủ sở
hữu lớn nhất, là nhà tổ chức phần lớn nền sản xuất xã hội. Thông qua hệ thống bộ
máy quản lý, điều hành là các bộ, ngành từ trung
ương xuống cơ sở - nhà nước
đồng thời là người sử dụng sức lao động. Thực hiện chức năng hành pháp, nhà
nước trong hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp, đưa ra các quy định, chuẩn
kết các giai tầng trong xã hội;
Để quan hệ ba bên có quan hệ hữu cơ, bình đẳng và phát triển thì các đối tác
phải thấy được vị trí, vai trò và mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong nền kinh tế
thị trường.
Đó là mối quan hệ hợp tác, cùng có lợi, cùng được hưởng những thành
quả của sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ. Để xây dựng được quan
hệ hữu cơ, bình đẳng và cùng phát triển, các đối tác trong quan hệ ba bên phải quán
triệt 10 nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Bình đẳng của các chủ thể trong quan hệ kinh tế - xã hội;
- Tôn trọng lợi ích của nhau khi thương lượng cũng như tôn trọng lợi ích c
ủa
xã hội, của cộng đồng;
25
- Các chủ thể, kể cả nhà nước, sẵn sàng và thiện chí tham gia vào quá trình đối
tác lẫn nhau;
- Tôn trọng Hiến pháp, Pháp luật;
- Nhất trí và đồng thuận khi kí kết các thỏa thuận và thỏa ước lao động tập thể;
- Đại diện toàn quyền các chủ thể khi thương lượng, quyết định và triển khai
các quyết định;
- Tự nguyện nhận về mình các nghĩa vụ và thực hiện các cam kết;
- Tự do lựa chọ
n các vấn đề để bàn bạc và ký kết các thỏa thuận;
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các thỏa thuận đã ký;
- Bình đẳng và bắt buộc chịu trách nhiệm về việc không thực hiện các nghĩa
vụ, cam kết đã ký;
Các nguyên tắc đối thoại ba bên cũng đã được Tổ chức Lao động Quốc tế (cơ
quan lao động của LHQ) đánh giá là có tác động thúc đẩy tham vấn và hợp tác một
cách h
ữu hiệu ở cấp ngành nghề và cấp quốc gia, giữa các cơ quan Nhà nước và