Trờng ĐH Lao động-X hội
Báo cáo tổng kết đề tài:
Nghiên cứu chính sách phúc lợi x hội
và phát triển dịch vụ chăm sóc ngời
cao tuổi trong kinh tế thị trờng
định hớng x hội chủ nghĩa và hội nhập
Cnđt: Đàm Hữu Đắc
7980 Hà nội 2009
3.3. Nhu cầu của NCT về PLXH và DVXH 28
3.4. Các mối quan hệ cơ bản tác động tới việc xây dựng chính sách PLXH và phát triển các
DVXH chăm sóc NCT 30
4. Quan điểm c
ủa Đảng và Nhà nước ta về chính sách xã hội và PLXH nói chung và chính
sách PLXH dành cho NCT nói riêng 32
5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về PLXH 36
6. Chính sách của Đảng và Nhà nước về PLXH và DVXH NCT. 39
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH PLXH VÀ
DVXH ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 42
1. Tổng quan về NCT ở Việt Nam 42
2
1.1. Số lượng, cơ cấu và chất lượng cuộc sống của NCT: 42
1.2. Tình trạng sức khỏe 44
1.3. Học vấn của NCT 45
1.4. Mức sống của NCT 45
1.5. Tác động của cơ chế thị trường đến NCT 49
2. Kinh nghiệm của các nước trong việc xây dựng, phát triển hệ thống chính sách PLXH và
DVXH đối với NCT và bài học rút ra cho Việt Nam 51
2.1. Kinh nghiệm của các nước 51
2.2. Những kinh nghiệm và bài học rút ra cho Việt Nam 62
CHƯƠNG II THỰ
C TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÚC
LỢI XÃ HỘI VÀ DỊCH VỤ XÃ HỘI CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI 66
I. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM
XÃ HỘI HƯU TRÍ VÀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 66
1. BHXH hưu trí đối với NCT 66
1.1 Hệ thống chính sách BHXH hưu trí . 66
1.2. Thực hiện chính sách BHXH hưu trí 71
2.1 Chính sách trợ giúp xã hội 116
2.2 Thực hiện chính sách trợ giúp xã hội 118
3. Chính sách trợ giúp NCT là người nghèo 121
3.1 Chính sách trợ giúp xã hội 121
3.2. Thực hiện chính sách trợ giúp xã hội 123
4. Chính sách trợ giúp NCT là đối tượng yếu thế 123
4.1. Hệ thống chính sách 123
4.2. Thực hiện chính sách 124
IV. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
XÃ HỘI CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI 127
1. Chính sách phát triển DVXH chăm sóc NCT là đối tượng trợ giúp xã hội 127
1.1 Hệ thống chính sách 127
1.2 Tổ chức hoạt động 130
2.Dịch vụ chăm sóc NCT là đối tượng ưu đãi xã hội. 134
2.1. Các loại hình dịch vụ 134
2.2 Tổ chức hoạt động 137
3. Thực trạng xây dựng và phát triển hệ thống DVXH chăm sóc NCT có khả năng tiếp cận các
dịch vụ theo cơ chế thị trường 139
3.1. Các loại hình dịch vụ 139
3.2 Xu hướng nhu cầu cung cấp các DVXH chăm sóc NCT theo cơ ch
ế thị trường 145
3.3. Các vấn đề đặt ra đối với việc tổ chức DVXH chăm sóc NCT có khả năng tiếp cận các
dịch vụ theo cơ chế thị trường giai đoạn đến năm 2020 148
CHƯƠNG III QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH PHÚC LỢI XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
XÃ HỘI CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI 154
4
I. MỘT SỐ DỰ BÁO 154
1. Dự báo NCT Việt Nam đến năm 2020 154
TÀI LIỆU THAM KHẢO 194
5 ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC
“NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH PHÚC LỢI XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ XÃ
HỘI CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TRONG KINHTẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XHCN VÀ HỘI NHẬP”
Mã số: ĐTĐL.2007.G/51
Thành viên tham gia đề tài: ĐTĐL.2007.G/51
1 TS. Đàm Hữu Đắc Bộ LĐ,TB & XH Chủ nhiệm
2 TS.Nguyễn Hải Hữu Bộ LĐ,TB & XH P.Chủ nhiệm
3 TS. Trần Thị Tuyết Bộ LĐ,TB & XH Thư ký
4 PGS.TS. Nguyễn Tiệp Trường ĐH Lao động Xã hội Thành viên
5 PGS.TS.Trịnh Khắc Thẩm Trường ĐH Lao động Xã hội Thành viên
6 TS. Phạm Đỗ Nhật Tân Bộ LĐ,TB & XH Thành viên
7 TS. Trần Hữu Trung Bộ LĐ,TB & XH Thành viên
8 BS.Trần Thị Song Hương Bộ Y tế Thành viên
9 KS. Chu Quang Cường Bộ LĐ,TB & XH Thành viên
10 ThS. Đào Hồng Lan Bộ LĐ,TB & XH Thành viên
11 ThS. Đặng Kim Chung Viện khoa học LĐ & XH Thành viên
12 ThS.Nguyễn Thị Thu Hương Bộ LĐ,TB & XH Thành viên
13 ThS. Nguyễn văn Hồi Bộ LĐ,TB & XH Thành viên
14 CN. Vũ Văn Thoại Trường ĐH Lao động Xã hội Thành viên
6
Danh mục các từ viết tắt
Kí hiệu
7
LĐTBXH Lao động Thương binh Xã hội
ODA Vốn phát triển chính thức
NCT Người cao tuổi
NCC Người có công
NSNN Ngân sách nhà nước
NĐCP Nghị định Chính Phủ
PL Pháp lệnh
XĐGN Xoá đói giảm nghèo
TCXH Trợ cấp xã hội
TCBHXH Trợ cấp Bảo hiểm xã hội
TCNCC Trợ cấp người có công
TGXH Trợ giúp xã hội
TGXHTX Trợ giúp xã hội thường xuyên
TTLĐ Thị trường lao động
UBTVQH Uỷ ban thường vụ quốc h
ội
UNICEF Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên hợp quốc
UNFPA Quỹ dân số Liên hợp quốc
ƯĐXH Ưu đãi xã hội
WHO Tổ chức y tế thế giới
WB Ngân hàng thế giới
XĐGN Xoá đói giảm nghèo
XHCN Xã hội chủ nghĩa
PLXH Phúc lợi xã hội
8
Danh mục các bảng
Biểu số 21: Đánh giá của NCT về việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở xã
hội 131
Biểu số 22: Đánh giá của NCT về các dịch vụ/ hoạt động trong các cơ sở xã hội 132
Biểu số 23: Sự tham gia của các loại hình bảo hiểm của hộ gia đình 146
Biểu số 24: Tỷ lệ tham gia các loại hình BHXH c
ủa khu vực phi chính thức 149
Biểu số 25: Dân số NCT Việt Nam 155
Biểu số 26 : Dự báo một số chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội đến
năm 2020 157
Biểu số 27: Kiến nghị của NCT và cán bộ địa phương, cơ sở về hoàn thiện chính sách trợ cấp
xã hội cho NCT 171
Biểu số 28: Các đề xuất bổ sung, sửa đổi trong chính sách trợ cấp cho NCT tàn tậ
t của cán bộ
địa phương 173
9
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 1: Thực trạng sức khỏe NCT 44
Biểu đồ 2: Mức sống của NCT 45
Biểu đồ 3: Tỷ lệ NCT được hưởng chính sách hưu trí, TCBHXH, TCNCC, TCXH 46
Biểu đồ 4: NCT được trợ cấp xã hội và cần được trợ cấp xã hội 49
Biểu đồ 5: Các hộ gia đình nhận trợ cấp hưu trí 74
Biều đồ 6: Đối tượng người có công từ 2002-2008 96
Biểu đồ 7: Phân bố NCT cô đơ
n không nơi nương tựa được hưởng trợ cấp xã hội phân theo vùng 110
Biểu đồ 8. Đánh giá của NCT về việc tiếp cận các DVXH 142
Biểu đồ 9: Các hộ gia đình nhận trợ cấp hưu trí 149
Biểu đồ 10: Thủ tục thành lập cơ sở BHXH theo đánh gía của chuyên gia 151
tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định, đồng thời bước đầu cũng đ
ã thiết
lập được hệ thống PLXH nhằm đáp ứng yêu cầu chăm sóc NCT trong quá trình
phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Hệ thống PLXH đó đòi hỏi trước hết đảm bảo sự an toàn cho các thành
viên xã hội khi họ không còn khả năng lao động, bị giảm sút thu nhập, gặp rủi ro
trong cuộc sống, khi họ phải sống trong cảnh nghèo đói, cô đơn.
Tuy nhiên, để phát triển hệ
thống PLXH dành cho NCT phù hợp với sự
phát triển kinh tế xã hội của đất nước và xu hướng hội nhập quốc tế, việc xây
dựng và phát triển hệ thống phúc lợi trên đang đứng trước rất nhiều thách thức
đó là:
- Một số hợp phần đang vận hành nhưng chưa hiện đại, chưa theo xu thế
hội nhập và thiếu bền vững tài chính, thể chế; cơ ch
ế chính sách chưa đồng bộ,
chưa đáp ứng nhu cầu của NCT (BHXH tự nguyện, trợ giúp xã hội, bảo hiểm
hưu trí, bảo hiểm y tế )
- Hệ thống luật pháp, chính sách của các hợp phần của hệ thống chưa
được đồng bộ, thiếu sự liên kết chặt chẽ, có những lĩnh vực có luật quy định
thống nhất và bắt buộc, song lại thiếu nhữ
ng điều kiện cần thiết để thực hiện;
nhưng cũng có lĩnh vực chưa có luật cụ thể. Đặc biệt là thiếu sự đồng nhất trong
phương pháp tiếp cận, quan điểm giải quyết vấn đề.
- Độ bao phủ đối với các thành viên xã hội là NCT của hệ thống PLXH
còn ở mức thấp, tuỳ theo từng hợp phần của hệ th
ống PLXH mà mức độ bao phủ
11
có khác nhau, song dao động trong khoảng từ 14,5%-50%. Trong khi đó các
nước phát triển có thể đạt được 90-95%
hội chủ nghĩa qua từng giai đoạn. Đề tài độc lập cấp Nhà nước: “Nghiên cứu
chính sách PLXH và phát triển DVXH chăm sóc NCT trong kinh tế thị trường
định hướng XHCN và hội nhập” được triển khai nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu
cầu trên.
2- Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài.
Thuật ngữ PLXH trong tiếng Anh gọi là “Social Welfare”, ti
ếng Pháp gọi
là “Bien- Être social”. Theo đó PLXH được hiểu là một hệ thống quốc gia về
các chương trình, lợi ích và dịch vụ giúp mọi người đáp ứng những nhu cầu thiết
yếu nhằm duy trì phát triển xã hội, đó là những nhu cầu về văn hoá, xã hội, kinh
12
tế, giáo dục và sức khoẻ.
Ở nước ta, PLXH được cho là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội
được sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần của các
thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân phối ngoài lao động. PLXH bao
gồm những chi phí xã hội: Trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp BHXH, học bổng
cho học sinh, những chi phí cho học tập không mấ
t tiền, những dịch vụ y tế,
nghỉ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo PLXH có thể được xem xét như là một
hệ thống hay một thiết chế, mà chức năng xã hội của nó là đảm bảo những nhu
cầu xã hội thiết yếu của các tầng lớp dân cư theo những điều kiện của cấu trúc
xã hội. Nội dung của PLXH tuỳ thuộc vào phạm vi những nhu cầu thi
ết yếu xã
hội, đồng thời việc xác định những nhu cầu này do cấu trúc xã hội quy định.
Chính sách PLXH nói chung và chính sách PLXH đối với NCT nói riêng
là một bộ phận cấu thành của chính sách xã hội nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn
nhu cầu cuộc sống của NCT kể cả vật chất và tinh thần.
PLXH nói chung và PLXH đối với NCT nói riêng đã được các nhà nghiên
cứu về xã hội học và kinh tế học nghiên cứu dưới nhiề
BHXH và bảo hiểm cứu đói truyền thống: Thành tựu trướ
c đây và thách thức
hiện nay.” và Schmidt, S (1995) “BHXH ở các nước đang phát triển: các nguyên
lý cơ bản và lĩnh vực can thiệp của Nhà nước”, cho chúng ta một cách nhìn tổng
quan về tái phân phối và cách thức bảo vệ người lao động khi về già bị giảm thu
nhập; tuy vậy không phải tất cả NCT đều tiếp cận được chính sách phúc lợi này.
Hệ thống chính sách phúc lợi Nhật bản và nhà nước phúc lợi Thụy Điển
là 2 công trình mớ
i của các tác giả nước ngoài có liên quan đến xác định khung
khổ PLXH ở Việt Nam và phát triển các dịch vụ chăm sóc NCT Việt Nam. Đó
là 2 nghiên cứu mới nhất về PLXH nói chung và PLXH dành cho NCT nói
riêng. Tuy nhiên, cũng chỉ có giá trị tham khảo kinh nghiệm cho thực tiễn Việt
Nam.
Ở nước ta, các nghiên cứu về chủ để này cũng dành được sự quan tâm của
các tổ chức quốc tế làm việc tại Việt Nam.
Một số tài liệu nghiên cứu c
ủa các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như:
- Krishnamurty, J. (1999) Mạng lưới ASXH cho các nhóm dễ tổn thương
ở Việt Nam. Báo cáo đã đề cập đến tình trạng việc làm và hệ thống ASXH thị
trường lao động cho các nhóm dễ tổn thương ở Việt Nam trong đó bao gồm cả
nhóm người già cô đơn không nơi nương tựa và người già tàn tật. (Chi nhánh
chính sách Việc làm và chính sách thị trường lao động, Ban việc làm và đào tạo,
V
ăn phòng ILO).
- Liên hiệp quốc (1999) Các DVXH cơ bản ở Việt Nam: Báo cáo tập
trung phân tích chi tiêu của Nhà nước và các nhà tài trợ cho các DVXH cơ bản.
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và UNDP Việt Nam.
- Lempert,D., Nguyễn Văn Lê và Bách Tấn Sinh (2004) Đánh giá năng
lực thể chế trong quản lý rủi ro thiên tai ở Việt Nam (NDM-Đối tác, giai đoạn
1). UNDP Hà Nội: Báo cáo đánh giá những mặt được và hạn chế của hệ thống
- Người cao tuổi Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH. Nxb Khoa học
xã hội, năm 2004.
- Mười nă
m xây dựng và phát triển Hội Người cao tuổi 1992-2005 của
Hội NCT Việt Nam.
- Kết quả khảo sát về NCT và thực hiện chương trình hành động quốc gia
về NCT tại 3 tỉnh Phú Thọ, Quảng Ninh, Lạng Sơn của Bộ Lao động-Thương
binh và Xã hội năm2007.
- Phát triển hệ thống ASXH trong bối cảnh nền kinh tế thị trường; đề tài
thuộc chương trình đánh giá 20 năm đổi mới năm 2006 (TS Nguy
ễn Hải Hữu).
Nhìn chung các nghiên cứu của tác giả trong nước được liệt kê ở trên đều
mới dừng ở việc nghiên cứu vấn đề lý luận về PLXH cho các đối tượng chính
sách xã hội nói chung trong đó có NCT hoặc thực trạng nhu cầu hoặc việc chăm
sóc NCT của cộng đồng dân cư, chưa có một nghiên cứu tổng thể cho việc xây
15
dựng hệ thống PLXH cho NCT trong tương lai. Chưa có một tài liệu nào đi sâu
phân tích cơ sở lý luận cho việc hình thành hệ thống chính sách PLXH và phát
triển các dịch vụ trợ giúp NCT. Một số cuộc khảo sát tuy đã được thực hiện
song quy mô nghiên cứu rất hẹp, nội dung nghiên cứu chưa sâu vào lĩnh vực
NCT, do vậy cần phải có nghiên cứu, khảo sát bổ sung bằng các nghiên cứu trên
phạm vi rộng hơn và chuyên sâu hơn về
hệ thống chính sách PLXH và DVXH
chăm sóc NCT kết hợp với nghiên cứu đánh gía có sự tham gia của cộng đồng
và chính NCT.
3- Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề về PLXH và mối quan hệ giữa PLXH và DVXH,
vai trò của hệ thống PLXH hiện đại và phát triển các DVXH chăm sóc NCT
trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập
16
Đà Nẵng, Khánh Hoà, Gia Lai, TP Hồ chí Minh và Bà Rịa Vũng Tầu), trong đó
mỗi tỉnh, thành phố được lựa chọn ít nhất 2 huyện (quận, thị xã) và một trung
tâm BTXH để đảm bảo điều tra được cả hai khu vực thành thị và nông thôn.
Tổng số địa bàn khảo sát là 40 quận, huyện, thị xã; 188 phường và 12 trung tâm
nuôi dưỡng NCT với 4454 đối tượng là NCT và 483 đối tượng là lãnh đạo chính
quyền, cán bộ trong ngành LĐTB XH, BHXH, BHYT, Hội NCT, Mặt tr
ận Tổ
quốc, cán bộ trung tâm nuôi dưỡng NCT. Cuộc điều tra được thực hiện bởi 200
điều tra viên với 10 giám sát viên là cán bộ, giảng viên của trường ĐHLĐ-XH.
Kết quả điều tra, phỏng vấn đã được xử lý làm cơ sở đánh giá và khuyến nghị
của đề tài.
Đề tài cũng đã sử dụng phương pháp chuyên gia và kết hợp với phương
pháp có sự tham gia củ
a người dân đánh giá về cơ hội và thách thức (phương
pháp PPA) và thường xuyên tiến hành hội thảo nhóm lấy ý kiến các chuyên gia
nghiên cứu, các nhà làm chính sách, cơ quan thực hiện chính sách và đối tượng
về giải pháp thực hiện hệ thống PLXH trong tương lai.
5- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách PLXH và DVXH đối với
NCT của Việt Nam trong kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập.
- Ph
ạm vi nghiên cứu:
Chính sách PLXH và DVXH đối với NCT hiện đang được thực hiện trong
phạm vi cả nước.
Về lý thuyết, đề tài chú ý đến tất cả bộ phận cấu thành của hệ thống chính
sách PLXH và DVXH đối với NCT, tuy nhiên trong phân tích đánh giá thực
trạng và khuyến nghị về chính sách PLXH cho NCT ở Việt Nam, đề tài chủ yếu
nghiên cứu các chính sách về BHXH, BHYT, ƯĐXH, TGXH và DVXH đối với
niệm này. Tuy nhiên khi muốn tỏ lòng tôn kính, sự trân trọng người ta dùng
“NCT” còn khi nói “người già” để chỉ
một tầng lớp xã hội nói chung, không có
kèm theo đánh giá về mặt đạo đức, coi thường hay thiếu kính trọng.
“Người già” hay “NCT” là người từ một độ tuổi nào đó được thừa nhận
giữa các thành viên trong xã hội, hay nói cách khác là sự thừa nhận tất yếu của
xã hội hoặc được quy định bằng văn bản nhà nước.
Cùng với khái niệm người già, NCT có thuật ngữ “sự già” hay “sự lão
hoá” chỉ quá trình chuyển
đổi của cơ thể con người từ tuổi trẻ đến tuổi già.
Khái niệm “NCT”, “người già” rất khác so với thuật ngữ “sự già”, “tuổi
già”. Các thuật ngữ, khái niệm đều có ý nghĩa tương đối, tương đối với từng dân
tộc, từng giai đoạn lịch sử, với từng điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước.
Không thể lấy tuổi già củ
a thế kỷ này so với tuổi già của các thế kỷ trước, cũng
như không lấy tuổi già của người này so với quan niệm tương đối chung, những
đặc điểm tâm lý xã hội chung, những nhu cầu, nguyện vọng chung, những xu
hướng phát triển và quy luật tồn tại chung.
Thuật ngữ “sự già” hay “sự lão hoá” chỉ quá trình chuyển đổi của sinh lý,
tâm lý, thể lực, trí lực và các yếu tố khác trong con người từ
độ tuổi trung niên
sang độ tuổi già. Sự chuyển đổi từ người trung niên đến NCT về sinh lý và tâm
lý là một quá trình chuyển đổi dần dần, từ những độ tuổi rất trẻ. Chỉ đến một độ
18
tuổi nhất định sự chuyển biến “về lượng” đó sẽ thành bước nhảy vọt “về chất”.
Thời điểm biến từ “lượng” “sang” “chất” chính là cái “mốc của tuổi già.
1.1.2. Mốc tuổi phân biệt “NCT” ở Việt Nam
Khi nghiên cứu “mốc” tuổi, phần lớn các nước Châu Á cũng như ở Châu
Âu, mốc 60 tuổi là tuổi mà con người có nhiều biến đổi “về ch
động nam trên 60, nữ trên 55”.
Trong quá trình nghiên cứu xây dựng Pháp lệnh NCT và Luật NCT thời
gian gần đây, dự báo thời gian tới khi Luật bình đẳng giới được thực hiện ở
nước ta thì vấn đề bình đẳng giới trên mọi phương diện dần được điề
u chỉnh cho
19
phù hợp với hình kinh tế xã hội đất nước và hội nhập quốc tế. Như vậy, NCT
trong đề tài này được điều chỉnh theo luật NCT mới được Quốc Hội ban hành,
NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên.
1.2. Sự lão hoá và đặc điểm sinh lý, tâm lý của NCT.
Lão hoá là quá trình, diễn ra liên tục trong cơ thể con người, theo đó là
chuyển hoá dần dần của các tế bào, các bộ phận trong cơ thể
chuyển từ lượng
sang chất, tạo nên sự thay đổi đột biến ở lứa tuổi 55-65. Những thay đổi rõ rệt
nhất thể hiện qua các đặc điểm về tâm lý, sinh lý các độ tuổi này.
1.2.1. Về sinh lý:
Các biến đổi sinh lý của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ xương và các bộ
phận bên trong con người thể hiện ra ngoài thành những nét rất rõ ở dáng đi,
giọng nói, nhịp thở, mắt, tóc, da d
ẻ: người còng xuống, tóc bạc đi, răng rụng
dần, giọng nói yếu đi, mắt kém, trí nhớ giảm sút. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng
sự già nua là thời kỳ suy thoái của cơ thế: Cơ thể yếu dần, mất khả năng thích
nghi, theo đó tuổi già là một trong bốn giai đoạn của cuộc đời “Sinh, lão, bệnh,
tử”. Chính ở độ tuổi này, khả năng lao động của con ngườ
i đã giảm, đặc biệt
những người làm ở các nghề, các công việc nặng nhọc, độc hại.
1.2.2. Về tâm lý:
Cùng với những biểu hiện sinh lý, tâm lý của NCT cũng có nhiều thay
gia đình, trong nếp nghĩ, hành vi. NCT thích gặp bạn bè, trò truyện, giao lưu với
bạn bè thân hữu cũ; thích những đám giỗ, tết, ma chay, cưới xin… coi đó như
nhữ
ng cơ hội để giao tiếp xã hội. Họ biết lo về những vấn đề chung của dòng
tộc, gia đình, chòm, xóm, đến quốc gia đại sự. Sự lo âu dó cũng xuất phát chính
từ hiểu biết và kinh nghiệm cuộc sống của họ. Cùng với những giao tiếp xã hội,
nhiều NCT hướng tới những việc làm từ thiện, tham gia hoạt động cộng đồng.
2. Nhận thức cơ bản v
ề hệ thống PLXH và DVXH đối với NCT.
2.1. Khái niệm chính sách PLXH đối với NCT.
2.1.1. PLXH:
Thuật ngữ PLXH trong tiếng Anh gọi là “Social Welfare”, tiếng Pháp gọi
là “Bien - Être social”. Theo đó, PLXH được hiểu là một hệ thống quốc gia về
chương trình, lợi ích và các dịch vụ giúp mọi người đáp ứng những nhu cầu thiết
yếu nhằm duy trì phát triển xã hội, đó là những nhu cầu về văn hóa, xã hội, kinh
tế, giáo dục và sức khỏe.
Ở nước ta, theo từ điển Bách khoa Việt Nam, PLXH là
một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thoả mãn những
nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân
phối ngoài thu nhập theo lao động. PLXH bao gồm những chi phí xã hội: trả tiền
hưu trí, các loại trợ cấp BHXH, học bổng cho học sinh, những chi phí cho học
tập không mất tiề
n, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi, an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo,
vv. Tuỳ theo mức độ phát triển của các mặt kinh tế - xã hội, quỹ phúc lợi thường
có ba nhóm cơ bản: quỹ tập trung của nhà nước quản lí; quỹ phúc lợi của các xí
nghiệp, đơn vị kinh doanh và quỹ phúc lợi tập thể của các hợp tác xã, tập đoàn
sản xuất. Các quỹ hoạt động dưới hai hình thức: hình th
ức trả bằng tiền, như tiền
lương, tiền hưu trí, các khoản trợ cấp, tiền nghỉ phép, tiền học bổng, vv. và các
hình thức ưu đãi thông qua các dịch vụ không mất tiền như giáo dục, y tế, vv.
phân công lao động mà có nhiều loại DV: DV phục vụ s
ản xuất, kinh doanh; DV
phục vụ sinh hoạt công cộng; DV cá nhân dưới hình thức những DV gia đình;
những DV tinh thần dựa trên những nghiệp vụ đòi hỏi khả năng đặc biệt (hoạt
động nghiên cứu, môi giới, quảng cáo); những DV liên quan đến đời sống và
sinh hoạt công cộng (sức khoẻ, giáo dục, giải trí); những DV về chỗ ở, vv
DVXH là những hoạt động dịch vụ nhằm thực hiệ
n chính sách xã hội,
hướng vào các nhóm đối tượng của chính sách xã hội, đối tượng ưu tiên, ưu đãi
và yếu thế đáp ứng các nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần của họ.
2.2.2. DVXH đối với NCT
DVXH đối với NCT là những hoạt động dịch vụ nhằm thực hiện chính
sách đối với NCT, đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần của họ.
22
2.3. Nội dung chủ yếu chính sách PLXH đối với NCT
2.3.1. Nội dung chủ yếu của chính sách PLXH.
2.3.1.1. Chính sách PLXH và DVXH trong lĩnh vực BHXH
Nội dung bao gồm các chính sách và dịch vụ về bảo hiểm hưu trí và tử
tuất; chăm sóc sức khỏe; khám và chữa trị bệnh.
2.3.1.2. Chính sách PLXH và DVXH trong lĩnh vực ưu đãi xã hội.
Nội dung bao gồm các chính sách và dịch vụ điều trị phục hồi chức năng,
ch
ăm sóc y tế, trợ cấp hàng tháng, điều dưỡng và các dịch vụ văn hóa xã hội
khác.
2.3.1.3. Chính sách PLXH và DVXH trong lĩnh vực trợ cấp xã hội:
Nội dung bao gồm các chính sách và dịch vụ đối với NCT cô đơn, không
nơi nương tựa, người tàn tật, người nghèo, người yếu thế trong tiếp cận với các
DVXH cơ bản và hỗ trợ về kinh tế.
2.3.1.4. Chính sách PLXH và DVXH trong lĩnh vực lao động-việc làm,
hoạt độ
ng khám chữa bệnh nhân đạo, từ thiện cho NCT.
2.3.2.4. Dịch vụ văn hoá, thể dục thể thao và các DVXH khác
- Lựa chọn những hình thức phù hợp bồi dưỡng kiến thức cho NCT có
nhu cầu đào tạo.
- Cung cấp các dịch vụ nhằm tạo điều kiện thuận lợi để NCT được tham
gia vào các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao, tham gia các tổ chức xã hội,
tham gia vào quá trình quyết định liên quan đế
n họ.
- Cung cấp sự tiếp cận thuận lợi đối với hệ thống giao thông công cộng,
hệ thống cơ sở vui chơi giải trí phù hợp với NCT.
- Xúc tiến các hình thức chăm sóc tại nhà nhằm khuyến khích mọi NCT
vẫn giữ được cuộc sống trong môi trường gia đình càng lâu càng tốt.
3. Yêu cầu tất yếu khách quan của việc nghiên cứu chính sách PLXH
và phát triển dịch vụ chăm sóc NCT.
3.1. Vấn đề
rủi ro, quản lý rủi ro và ASXH
Rủi ro là sự đối mặt với thiệt hại, mất mát, thương vong do những thay
đổi tiêu cực gây ra.
Rủi ro gồm có rủi ro chung, rủi ro nhóm và rủi ro ngẫu nhiên.
Rủi ro chung là những rủi ro có thể xảy đến với bất kể người nào không
phân biệt lứa tuổi, giới tính hay địa vị trong xã hội (tai nạn, ốm đau, nghèo
đói…) nhưng không phải tất cả đều bị
ảnh hưởng như nhau.
Rủi ro nhóm là nhũng rủi ro chỉ liên quan đến một nhóm người
Rủi ro ngẫu nhiên là những rủi ro liên quan trực tiếp đến một sự kiện nào
đó và sẽ không tồn tại sau một thời gian nhất định.
Theo Ngân hàng thế giới (WB), ASXH được xây dựng dựa trên mô hình
quản lý rủi ro xã hội. Triết lý của mô hình này là mỗi cá nhân, mọi gia đình, mọi
cộng đồng đều phải chịu những r
- Hệ thống trợ giúp xã hội (trợ cấp XĐGN, hỗ trợ xã hội nhóm yếu thế…).
- Hệ thống trợ cấp xã hội chung (trợ cấp gia
đình, dịch vụ y tế công cộng,
trợ cấp NCT…).
- Hệ thống trợ cấp tư nhân.
Hệ thống ASXH ở đây có 2 chức năng rất cơ bản là:
• Chức năng đảm bảo an toàn cho mọi thành viên trong xã hội ở mức tối
thiểu về thu nhập, dịch vụ y tế và xã hội để cho phép họ sống một cuộc sống xã
hội có ý nghĩa.
•
Chức năng duy trì thu nhập, khi các thành viên xã hội đang hoạt động
kinh tế hoặc mọi công dân khi nghỉ hưu, cho phép họ duy trì được mức sống
hiện tại trong các trường hợp thất nghiệp, ốm đau, thai sản, tuổi già, tàn tật mà
không có khả năng tạo ra thu nhập.
Một cách tiếp cận khác, ESCAP đã đưa ra một mô hình khái quát về hệ
thống ASXH trên cơ sở nghiên cứu tình huống một số nướ
c trong khu vực như
sau: