Cạnh tranh trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Pdf 31

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
A- Mở đầu
Hiện nay nớc ta đang phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội
chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế.Thực chất đó là nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa . Vì lợi ích kinh tế và để tồn
tại buộc các chủ thể kinh tế phải cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực, là một
trong những nguyên tắc cơ bản tồn tại khách quan và không thể thiếu đợc của
nền sản xuất hàng hoá. Cạnh tranh là một đặc trng cơ bản của nền kinh tế thị
trờng. Đối với mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo sức ép hoặc kích thích
ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất, cải tiến công nghệ,
thiết bị sản xuất và phơng thức quản lý nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm,
hạ giá thành vàgiá bán hàng hoá. Cạnh tranh với các tín hiệu giá cả và lợi
nhuận sẽ hớng ngời kinh doanhchuyển nguồn lực từ nơi sử dụng có hiệu quả
thấp hơn sang nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn. Đối với xã hội, cạnh tranh là
động lực quan trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội vào sản xuất
kinh doanh hàng hoá dịch vụ còn thiếu, qua đó nâng cao năng lực sản xuất
của toàn xã hội. Trong cạnh tranh doanh nghiệp yếu kém bị đào thải, doanh
nghiệp mới xuất hiện, doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và
phát triển, nhờ đó nguồn lực xã hội đợc sử dụng hợp lý. Cạnh tranh tạo ra sự
đa dạng của sản phẩm và dịch vụ cũng chính là tạo ra nhiều lựa chọn cho
khách hàng, cho ngời tiêu dùng.
Chính vì sự cần thiết đó của cạnh tranhmà em đã chọn đề tài: Cạnh
tranh trong kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đề án gồm 3 nội dung chính:
Phần I: Lý luận chung về cạnh tranh và độc quyền.
Phần II:Thực trạng cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam.
Phần III:Một số giải pháp và kiến nghị.
- 1 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
B-Nội dung chính

+ Nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế chuyển hoá lẫn
nhau, có sự quản lý của nhà nớc.
+ Cơ chế điều hành nền kinh tế là cơ chế thị trờng với sự quản lý của
nhà nớc.
+ Trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa thực hiện
nhiều hình thức phân phối trong đó phân phối theo động là chủ yếu.
* Cạnh tranh - đặc trng cơ bản của nền kinh tế thị trờng, động lực thúc
đẩy phát triển trong kinh tế thị trờng:
- Mục tiêu và chức năng của chính sách cạnh tranh:
+ Chính sách cạnh tranh theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các biện pháp
của nhà nớc để cạnh tranh đợc tồn tại nh một công cụ điều tiết của kinh tế thị
trờng. Nh vậy chính sách cạnh tranh hay rộng hơn là thể chế cạnh tranh bao
gồm những biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh và những biện
pháp chống hạn chế cạnh tranh. Nội dung của chính sách sẽ đợc phân loại
theo cấu trúc thị trờng, hành vi ứng xử và kết quả đạt đợc trên thị trờng. Kết
quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trờng. Vị thế của
doanh nghiệp trên thị trờng chỉ mang tính tơng đối, chính vì vậy trong thực
tế, bên cạnh những chiến lợc để nâng cao vị trí tuyệt đối của mình, một số
doanh nghiệp còn tìm cách làm giảm vị trí tuyệt đối của các đối thủ hoặc kìm
chế số lợng đối thủ tham gia nhập cuộc. Nh vậy phơng thức cạnh tranh của
các doanh nghiệp bao gồm cả những biện pháp tích cực lẫn biện pháp tiêu
cực đối với hoạt động kinh tế. Mỗi nớc đặt ra cho chính sách cạnh tranh
những mục tiêu khác nhau. Việc áp dụng nguyên mẫu mô hình chính sách
cạnh tranh của nớc này vào mô hình của nớc khác chắc chắn sẽ không thu đ-
ợc kết quả nh mong đợi, thậm chí còn làm nảy sinh những hậu quả tai hại cho
nền kinh tế nhng có thể tham khảo để học tập. Chính sách cạnh tranh của Mỹ
có ba mục tiêu: tăng phúc lợi cho ngời tiêu dùng, bảo vệ tự do cạnh tranh và
- 3 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tăng hiệu quả kinh tế. ở một số nớc khác, mục tiêu cạnh tranh lại nhấn mạnh

tranh.
+ Quy chế có thể thay thế chính sách cạnh tranh. Khi độc quyền là hình
thức không thể tránh khỏi, quy chế cố gắng kiểm soát trực tiếp quyền lực thị
trờng thông qua ấn định giá hoặc kiểm soát việc nhập cuộc hoặc tiếp cận.
Những thay đổi về kỹ thuật và các thể chế có thể dẫn tới việc xem xét lại các
giả định cơ bản ủng hộ cần có quy chế là chính sách cạnh tranh và các thể
ché có thể là không đủ để thực hiện nhiệm vụ ngăn cản độc quyền và lạm
dụng vị thế thị trờng.
+ Quy chế có thể củng cố chính sách cạnh tranh. Các quy định và các
nhà lập pháp có thể cố gắng ngan cản hành vi câu kết hoặc lạm dụng trong
một ngành nào đó. Ví dụ , quy chế có thể xác định chuẩn mực cho cạnh tranh
lành mạnh hoặc đa ra các quy định đảm bảo đấu thầu cạnh tranh.
+ Quy chế có thể sử dụng phơng pháp của chính sách cạnh tranh. Các
công cụ để đạt đợc các mục tiêu thể chế có thể đợc thiết kế để khai thác lợi
thế của các khuyến khích thị trờng và tinh năng động của cạnh tranh. Hành vi
câu kết đó có thể là cần thiết để đảm bảo rằng các công cụ này thực hiện nh
mong muốn của chính sách cạnh tranh.
- Độc quyền trong kinh doanh- cơ chế hình thành và hậu quả:
+ Cơ chế hình thành và những tồn tại củađộc quyền trong kinh doanh:
Độc quyền trong kinh doanh là việc một doanh nghiệp hay một tập đòan kinh
tế với những điểu kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định khống chế thị trờng
sản xuất và tiêu thụ hành hoá, dịch vụ. Độc quyền hoặc khống chế thị trờng
là mơ ớc của hầu hết các nhà doanh nghiệp. Tất cả các nhà doanh nghiệp đều
ớc muốn tồn tại và phát triển mà không phải đơng đầu với cạnh tranh. Vì vậy
lịch sử xủa các chiến lợc hạn chế cạnh tranh có một bề dày gần tơng đơng với
bề dày của nền kinh tế thị trờng. Thông thờng ngời ta đa ra ba loại chiến lợc
hạn chế cạnh tranh khác nhau là: chiến lợc đàm phán, chiến lợc cản trở và
chiến lợc tích tụ.Để đối phó với chiến lợc cạnh tranh trên thị trờng, một số
- 5 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

nhà sản xuất kinh doanh quan tâm nhiều hơn đối với các hoạt đông sản xuất
kinh doanh. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh. Theo Marx:
Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà t bản nhằm giành giật những
điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đợc lợi nhuận
siêu ngạch.Trong từ điển kinh doanh đa ra khái niệm cạnh tranh: Cạnh
tranh trong cơ chế thị trờng là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh
doanh nhằm tranh giành thị trờng tiêu thụ hàng hóa về phía mình. Mỗi khái
niệm cạnh tranh đợc diễn đạt khác nhau nhng nhìn chung đều có cùng một
quan điểm đó là: sự ganh đua gay gắt, sự kình địch mãnh liệt giữa các nhà
sản xuất và kinh doanh. Có thể nói cạnh tranh quyết định sự sống còn của các
nhà sản xuất và kinh doanh.
Có nhiều loại cạnh tranh, dựa vào những tiêu thức khác nhau có thể đa
ra các loại cạnh tranh khác nhau.
- Dựa vào trạng thái thị trờng có ba loai cạnh tranh:
+ Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh khi có nhiều đối thủ đa ra bán
những hànghoá tơng tự nhau, trong đó không có một ngời bán hay ngời mua
nào có vai trò lớn trong toàn bộ thị trờng.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo: Là trạng thái cạnh tranh phần lớn các
sản phẩm không đồng nhất với nhau. Trong cạnh tranh không hoàn hảo môi
trờng cạnh tranh rất khốc liệt và hình thức cạnh tranh cũng đa dạng.
+ Cạnh tranh độc quyền: Là trạng thái cạnh tranh mà ở đó chỉ có một
hay một số ngời bán sản phẩm đồng nhất hoặc một hay một số ít ngời mua
sản phẩm một loại sản phẩm.
- Dựa vào hình thức cạnh tranh có hai loại:
+ Cạnh tranh bằng giá cả: Là hình thức cạnh tranh mà các nhà sản xuất
đa ra mức giá thấp hơn đối thủ nhằm tiêu thụ đợc hàng hoá, chiếm lĩnh thị tr-
ờng.
- 7 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
+ Cạnh tranh bằng chất lợng sản phẩm: Là hình hức cạnh tranh mà các

không theo và không cần bất cứ một mệnh lệnh hành chính nào của cơ quan
quản lý nhà nớc.
Cạnh tranh buộc các chủ thể kinh doanh luôn luôn quan tâm đến việc
cải tiến công nghệ, trang bị sản xuất và phơng thức quản lý nhằm nâng cao
chất lợng sản phẩm, hạ giá thành và trên cơ sở đó hạ giá bán của hàng hoá.
Trong cạnh tranh tất yếu sẽ có doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ
làm ăn hiệu quả, đồng thời có doanh nghiệp bị phá sản. Đối với xã hội, phá
sản doanh nghiệp không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực vì các nguồn lực
của xã hội đợc chuyển sang cho nhà kinh doanh khác tiếp tục sử dụng một
cách có hiệu quả hơn. Vì vậy, phá sản không phải là sự huỷ diệt hoàn toàn
mà là sự huỷ diệt sáng tạo. Việc duy trì các doanh nghiệp kém hiệu quả còn
gây ra nhiều lãng phí cho xã hội hơn là phá sản.
3. Những điều kiện tạo nên cạnh tranh và chống độc quyền:
Xuất phát từ cơ chế hình thành, tồn tại của độc quyền, từ mối liên
hệhữu cơ giữa độc quyền và cạnh tranh trong kinh doanh, để có sự cạnh tranh
lành mạnh và chống độc quyền, cần có những điều kiện nhất định. Những
điều kiện quan trọng nhất cần có là:
- Điều kiện về các yếu tố pháp lý- thể chế đối với hoạt đông kinh doanh.
Các yếu tố về pháp lý thể chế do nhà nớc ban hành là nhân tố quan trọng nhất
hình thành môi trờng kinh doanh trong mỗi quốc gia. Với xu thế hội nhập
ngày càng cao về kinh tế trên thế giới hiện nay, nhiều quy định về pháp lý thể
chế điều chỉnh các hành vi kinh doanh đã và đang không bị giới hạn trong
phạm vi quốc gia mà đợc hình thành và có hiệu lực trong phạm vi khu vực
hoặc toàn cầu. Song dù hình thành và có hiệu lực trong phạm vi nào, để đảm
bảo cho cạnh tranh và chống độc quyền, các yếu tố pháp lý thể chế phải đáp
ứng những yêu cầu sau đây:
+ Bảo đảm sự đồng bộ trong toàn bộ hệ thống thuộc mọi lĩnh vực của
họat động kinh doanh.
- 9 -
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

thuộc tính của kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa, dẫn tới lãng phí do đầu t
trùng lặp, phá sản tạo ra sự lộn xộn trên thị trờng. Cạnh tranh bị đồng nhất
với tranh mua tranh bán, cá lớn nuốt cá bé.
- Về độc quyền, Đảng và nhà nớc ta chủ trơng hình thành và duy trì một
số độc quyền nhà nớc. Một số doanh nghiệp độc quyền đợc bênh vực với các
lý do đảm bảo an ninh quốc gia, duy trì và củng cố vai trò chủ đạo của
doanh nghiệp nhà nớc, bảo hộ sản xuất trong nớc. Độc quyền đợc coi là
cần thiết để cung cấp nguồn thu quan trọng cho ngân sách. Trên thực tế độc
quyền nhà nớc và độc quyền của các doanh nghiệp nhà nớc đợc coi là đồng
nhất. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc đợc đề cao nhng trên thực tế những
lĩnh vực, ngành nghề nhà nớc cần nắm giữ độc quyền và chi phối cha đợc thể
chế hoá trong luật pháp.
- Cùng với quá trình đổi mới, cạnh tranh theo pháp luật đã dần đợc chấp
nhận nh một động lực phát triển, đảm bảo hiệu quả, tiến bộ xã hội nhng có
giới hạn. Để thúc đẩy kinh tế phát triển và giải quyết công ăn việc làm, nhà
nớc từng bớc nới lỏng cạnh tranh. Tuy nhiên cho đến nay các mục tiêu phát
triển ổn định và việc làm đợc đặt lên trên mục tiêu hiệu quả.
- T duy nhận thức đang đợc đổi mới. Thị trờng tự điều chỉnh theo quy
luật kinh tế, Nhà Nớc tôn trong nguyên tắc, cơ chế hoạt đông khách quan của
thị trờng, hạn chế tiêu cực của thị trờng. Nhà nớc xây dựng chiến lợc, kế
hoạch dài hạnm, định hớng phát triển, xây dựng môi trờng chung để thị trờng
hoạt động. Nhà nớc quản lý kinh tế chủ yếu thông qua hệ thống pháp luật và
các công cụ kinh tế vĩ mô, hạn chế chỉ đạo điều hành kinh tế bằng các biện
pháp hành chính mà không dựa trên thớc đo hiệu quả kinh tế, thiếu công
khai, minh bạch. Quản lý toàn bộ các chủ thể tham gia thị trờng, nhà nớc
- 11 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status