Học viện chính trị - hành chính quốc gia hồ chí minh
báo cáo tổng kết
các chuyên đề nghiên cứu
đề tài khoa học cấp bộ năm 2007
Mã số: B. 06 - 53
Xu hớng phân tầng x hội trong nền kinh tế
thị trờng định hớng x hội chủ nghĩa
và hội nhập kinh tế quốc tế ở nớc ta hiện nay Cơ quan chủ trì:
Viện x hội học và tâm lý lnh đạo, quản lý
Chủ nhiệm đề tài:
GS,TS Nguyễn Đình Tấn
Th ký đề tài:
PGS,TS Lê Ngọc Hùng, Ths Lê Văn Toàn
những phát triển mới
GS,TS Nguyễn Đình Tấn
75
5
sự khác biệt trong quan niệm của C.Mác và các nhà x hội
học phơng tây khác về phân tầng x hội
GS.TS Nguyễn Đình Tấn
84
6
Quan niệm của một số nhà khoa học phơng Tây
về phân tầng x hội
PGS,TS Lê Ngọc Hùng
98
7
Nghiên cứu phân tầng x hội - lý luận và thực tiễn
Ths Lê Thuý Hằng
123
8
những vấn đề cần chú ý về mặt phơng pháp trong nghiên
cứu cơ cấu x hội, Cơ cấu x hội - giai cấp , giai tầng x hội
GS,TS Nguyễn Đình Tấn
234
9
Cơ cấu x hội và phân tầng x hội ở Việt Nam trong quá
trình phát triển của lịch sử
Ths Lê Văn Toàn
150
10
Vai trò của nhóm x hội vợt trội trong quá trình phát
triển kinh tế - x hội thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
253
16
Phân tầng x hội hợp thức và sự hình thành tầng lớp x
hội u trội trong thời kỳ đổi mới hội nhập kinh tế quốc tế
ở nớc ta
GS.TS Nguyễn Đình Tấn
274
17
Các yếu tố tác động đến Phân tầng x hội ở Việt nam
GS,TS Nguyễn Đình Tấn
283
18
Đầu t phát triển theo ngành vùng, miền và tác động của
nó đến phân tầng x hội ở Việt Nam
GS,TS Hoàng Ngọc Hòa
307
19
ảnh hởng của tâm lý x hội đến phân tầng x hội trong
nền kinh tế thị trờng định hớng x hội chủ nghĩa và hội
nhập kinh tế quốc tế ở nớc ta hiện nay
TS Vũ Anh Tuấn
339
20
Bàn luận về giai tầng x hội, cơ cấu x hội - giai tầng x hội
GS,TS Nguyễn Đình Tấn
354
21
Xu hớng phân tầng x hội trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trờng định hớng x hội chủ nghĩa và hội
nhập kinh tế quốc tế ở nớc ta hiện nay - Nhìn từ góc độ
mới t duy, đặc biệt là t duy kinh tế, đổi mới ở Việt Nam chú trọng trớc hết
là đổi mới kinh tế, trên cơ sở đổi mới kinh tế có hiệu quả, tạo lập ổn định
chính trị -xã hội một cách tích cực, cải thiện và nâng cao dần mức sống của
dân c mà từng bớc đổi mới chính trị, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế
và làm lành mạnh xã hội.
Sau 10 năm (1986-1996) nỗ lực đổi mới và thực hiện cuộc vận động
dân chủ hóa toàn diện các lĩnh vực của đời sống, nớc ta đã ra khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế- xã hội trầm trọng từ giữa thập kỷ 80, đã có điều kiện để
bớc vào thời kỳ phát triển mới, tập trung mọi nguồn lực để đẩy mạnh CNH,
HĐH, trong đó chú trọng đẩy mạnh CNH nông nghiệp và nông thôn, thực
hiện phát triển toàn diện nông thôn - nông nghiệp - nông dân (tam nông).
Với kinh tế thị trờng, mở cửa và hội nhập, nền kinh tế nớc ta đã
biến đổi mạnh mẽ, tốc độ tăng trởng cao và liên tục trong nhiều năm. Những
2
biến đổi kinh tế và những đổi mới về chính trị, về hệ thống chính trị đã dẫn
tới những biến đổi về xã hội, cơ cấu xã hội - giai cấp. Phân hóa kinh tế, mà cụ
thể là phân hóa giàu nghèo cũng tác động tới biến đổi trong cơ cấu xã hội,
phân hóa xã hội và phân tầng xã hội. Khi nền kinh tế đang diễn ra những sự
thay đổi và chuyển dịch về cơ cấu, từ cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu
ngành nghề đến sắp xếp lại các loại hình sản xuất - kinh doanh, các mô hình
xí nghiệp, doanh nghiệp, công ty, tổng công ty, tập đoàn sản xuất - kinh
doanh, ở tất cả các thành phần kinh tế, tổ chức lại các hợp tác xã và phát triển
kinh tế hợp tác thì cơ cấu xã hội, tất yếu cũng biến đổi theo.
Một cơ cấu xã hội tổng thể (trong đó có cơ cấu xã hội - giai cấp, các
giai cấp, các tầng lớp, các giai tầng xã hội, các nhóm xã hội - nghề nghiệp,
cùng với cơ cấu dân c, nhân khẩu, dân số, dân tộc) dần dần định hình, theo
hớng xã hội công nghiệp, hiện đại thay thế cho cơ cấu xã hội nông nghiệp cổ
truyền. Cơ cấu kinh tế chính là tác nhân vật chất, là cái giá đỡ vật chất làm
hình thành cơ cấu xã hội.
những tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận mà Đảng ta đã tiến hành trong
hơn 20 năm qua.
Đây là một trong những phơng diện hợp thành nhận thức lý luận mới
của Đảng ta về CNXH và con đờng đi lên CNXH ở Việt Nam.
Những nhận thức lý luận về phân tầng xã hội và cơ cấu xã hội thể hiện
một trình độ t duy xã hội học của chủ thể lãnh đạo và quản lý xã hội, đó
chính là triết học -xã hội học về xã hội, đặt cơ sở lý luận cho xã hội học với
tính cách là khoa học đang trên con đờng phát triển ở nớc ta.
Cùng với triết học và chính trị học, xã hội học sẽ ngày càng tỏ rõ là
một khoa học không thể thiếu, hơn nữa còn là một khoa học đầy triển vọng,
góp phần xứng đáng vào việc nâng cao trình độ khoa học của lãnh đạo và quản
lý, tăng cờng tiềm lực t t
ởng và năng lực trí tuệ của Đảng và của xã hội
trong tiến trình đổi mới và hiện đại hóa xã hội. Đó là xét về mặt xu hớng và
4
triển vọng. Còn trong thực tiễn, trạng thái và tính chất phát triển của xã hội ta
hiện đang nổi lên những vấn đề đáng lu ý sau đây:
- Nền kinh tế nớc ta hiện nay, dù đã áp dụng cơ chế thị trờng và
đang phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN những đó
vẫn là một nền kinh tế chuyển đổi, nhng biểu hiện của một nền kinh tế sơ
khai, hoang dã vẫn còn tồn tại, diện mạo đầy đủ cho một nền kinh tế thị
trờng đích thực, trởng thành, còn đang trong quá trình hình thành. Đang có
sự đan xen rất phức tạp giữa những yếu tố năng động của kinh tế với những
suy thoái nghiêm trọng của các yếu tố xã hội trong đời sống xã hội hiện thực
cũng nh trong bản thân thực thể kinh tế. Rõ nhất là sự suy thoái của giáo dục,
của đạo đức xã hội, của những khác biệt có thể dẫn tới xung đột giữa các thế
hệ, tầng lớp, giai tầng xã hội về giá trị, định hớng giá trị và lựa chọn giá trị.
Đặc điểm này in dấu khá đậm nét trong những biến đổi phân tầng xã hội ở
nớc ta.
chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN, phát triển nguồn nhân lực chất
lợng cao và đổi mới có hiệu quả HTCT
1
. Cũng cần lu ý rằng, các tài liệu
văn kiện của Đảng ta trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua (từ Đại hội VI đến
Đại hội X và các nghị quyết Trung ơng, khóa X gần đây, tuy không sử dụng
thuật ngữ phân tầng xã hội mà chỉ nói tới cơ cấu xã hội - giai cấp nhng trong
thực tế, từ tinh thần nghị quyết đến các chính sách và giải pháp thực tiễn,
Đảng ta đã chú ý tới hiện tợng phân tầng xã hội, đã tính đến những điều
chỉnh và điều tiết xã hội cần thiết thông qua thể chế, chính sách, luật pháp và
các công cụ quản lý khác để giải quyết vấn đề phân tầng trên quan điểm đổi
mới và phát triển.
Việc đảng viên đợc làm kinh tế t nhân, miễn là thực hiện đúng luật
pháp và chấp hành điều lệ Đảng, việc khuyến khích tất cả mọi ngời, mọi nhà
làm giàu theo luật pháp, việc áp dụng đánh thuế thu nhập với các đối tợng
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội X, CTQG, H.2006,
6
có thu nhập cao, việc khuyến khích phát triển mạnh mẽ, lâu dài kinh tế t
nhân coi kinh tế t nhân là một nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế -
xã hội, lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp của phát triển và thực hiện lợi ích
xã hội là những ví dụ điển hình về quyết sách. Do đó, để thấy rõ những tiến
triển trong nhận thức lý luận và trong đờng lối chính sách của Đảng và Nhà
nớc về phân tầng xã hội cần đặt phân tầng xã hội trong tổng thể những biến
đổi cơ cấu xã hội, trong các quan hệ giai cấp - tầng lớp - giai tầng và phân
tầng, trong chính sách liên minh giai cấp với các tầng lớp xã hội ở nớc ta. Đó
là định hớng phơng pháp luận cần thiết cho việc nghiên cứu và tổng kết
thực tiễn, nghiên cứu và dự báo về biến đổi xã hội và phân tầng xã hội .
mã, 3 con số.
Trớc tình trạng đó, đổi mới là lối thoát duy nhất, là đòi hỏi bức xúc
để ra khỏi khủng hoảng, là câu trả lời cho câu hỏi Tồn tại hay không tồn tại.
Năm 1986 là đờng phân ranh giới trớc đổi mới với đổi mới. Đại hội
VI (1986) là đại hội của đổi mới. Nhờ có đổi mới mà lạm phát khủng hoảng
mới đợc giải quyết. Nhờ có đổi mới mà mới chuyển đợc mô hình phát triển,
chuyển sang sản xuất hàng hóa, cơ chế thị trờng và kinh tế thị trờng.
Cũng nhờ có đổi mới mà hình thành đợc nhận thức mới về CNXH
trong đó có nhận thức mới về cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội.
Bởi vậy, muốn thấy cái mới trong t duy lý luận và hành động thực
tiễn về cơ cấu - phân tầng và chính sách cần phải bắt đầu từ việc trình bày
những nhận thức về những vấn đề ấy ở thời kỳ trớc đổi mới, giới hạn vào 10
năm đầu sau giải phóng miền Nam (1975-1985) gắn với quan niệm, quan
điểm của Đảng ở Đại hội IV(1976) và Đại hội V (1981).
Dới đây là một trình bày khái lợc, cốt để làm cơ sở cho sự so sánh
với những cái mới trong đổi mới. Có thể nói tới những vấn đề sau đây:
Một, trong nhận thức về xã hội và phát triển xã hội, do t duy về
CNXH còn chịu ảnh hởng nặng nề của bệnh giáo điều và giản đơn theo
8
khuynh hớng chủ quan duy ý chí nên chúng ta có sự lầm tởng về tính chất
của xã hội. Điểm xuất phát của xã hội ta là xã hội nông nghiệp, trình độ phát
triển còn thấp, tàn d của xã hội cũ cha đợc cải tạo hết (thực dân, phong
kiến, gia trởng, đẳng cấp) nhng chính điểm xuất phát này không đợc
nhận thức đầy đủ. Đó chính là xa rời quan điểm thực tiễn, các điều kiện lịch
sử cụ thể, dẫn tới nhận thức rằng xã hội ta đã là xã hội XHCN, trong khi trên
thực tế vẫn chỉ là một xã hội quá độ. ở thời kỳ này, đó là quá độ từ chiến
tranh sang hòa bình với rất nhiều hậu quả xã hội nặng nề do chiến tranh để
lại, phải có thời gian lâu dài mới khắc phục hết nhng ta đã giản đơn hóa,
tởng rằng có thể dễ dàng khắc phục đợc ngay. CNXH còn đang phát sinh,
chức, có quyền. Họ đã lợi dụng và lạm dụng quyền hành, chức trách do dân ủy
quyền để mu lợi riêng mà không quan tâm đến lợi ích của ngời dân và của
cộng đồng xã hội.
Phơng thức quản lý theo kiểu hành chính mệnh lệnh, tập trung quan
liêu và áp dụng cơ chế bao cấp, phân phối bình quân càng làm suy giảm nhanh
chóng, thậm chí mai một các động lực phát triển.
Ba, trên lĩnh vực kinh tế, mà trực tiếp nhất là vấn đề sở hữu, chúng ta
quan niệm một chế độ sở hữu thuần nhất XHCN, đó là chế độ công hữu, chỉ
thừa nhận sở hữu xã hội, đó là 2 hình thức sở hữu nhà nớc và tập thể. Tơng
ứng với nó là thành phần kinh tế nhà nớc (quốc doanh) và kinh tế tập thể
(Hợp tác xã). Các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế khác (t bản t
nhân, cá thể, tiểu chủ) đều coi là phi XHCN, không đợc khuyến khích phát
triển, là đối tợng của cải tạo XHCN. Sau giải phóng miền Nam, việc cải tạo
XHCN đối với các thành phần đó đã đợc tiến hành, trù tính trong một thời
gian ngắn sẽ hoàn thành việc cải tạo để đi vào xây dựng nền kinh tế XHCN
mà Đại hội IV xác định là chế độ kinh tế mới, nhanh chóng chuyển nền sản
xuất nhỏ thành nền sản xuất lớn XHCN, xây dựng cơ cấu kinh tế công - nông
nghiệp hiện đại, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá
độ. Thơng nghiệp dịch vụ cũng chỉ phát triển theo mô hình thơng nghiệp
quốc doanh XHCN. Các hoạt động sản xuất - kinh doanh t nhân và cá thể ở
10
các đô thị không đợc khuyến khích. Các làng nghề truyền thống ở nông thôn
cũng không phát triển, thậm chí bị mai một. Do cơ chế quản lý tập trung, nhất
loạt theo kế hoạch nhà nớc nên thị trờng không phát triển, phân phối lu
thông ách tắc, bởi chính sách (hay chủ trơng) ngăn sông cấm chợ, không
tuân thủ quy luật giá trị, quy luật thị trờng, cạnh tranh, hạch toán của nền
kinh tế hàng hóa nên đã xảy ra tình trạng thừa thiếu giả tạo về sản xuất và tiêu
dùng lãi giả lỗ thật trong sản xuất kinh doanh, ngay trong khu vực kinh tế nhà
nớc (quốc doanh). Hiện trạng kinh tế và cơ cấu kinh tế nh vậy đã dẫn tới
hội dân sự, chức năng xã hội của nhà nớc, với chức năng giám sát, t vấn,
phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể.
Trớc đây, nói tới nhà nớc Chuyên chính vô sản ta mới chỉ thấy nét
đặc trng chung nhất là trấn áp bằng bạo lực chuyên chính và tổ chức xây
dựng xã hội mới. Các vấn đề về công quyền, về hành chính công, dịch vụ
công, về kỷ luật công vụ, đạo đức công chức, khoa học hành chính trong quản
lý nhà nớc rồi cải cách hành chính, xây dựng nền hành chính công minh
bạch ít đợc chú ý nghiên cứu và ứng dụng. So sánh với các quan niệm mới
hình thành trong đổi mới nh dân chủ, pháp quyền, HTCT, xây dựng nhà nớc
pháp quyền, cải cách hành chính, phân biệt chức năng nhiệm vụ và phân cấp,
phân quyền giữa lập pháp, hành pháp, t pháp, trên cơ sở coi tất cả quyền lực
thuộc về nhân dân, thì t duy chính trị và đời sống chính trị ở nớc ta trong
đổi mới quả thực đã có một bớc tiến lớn. Những biến đổi tích cực này trong
đổi mới chính trị là những xung lực mạnh mẽ tác động tới nhận thức lý luận
về cơ cấu và phân tầng xã hội.
Năm, trên phơng diện chính sách quản lý, trong một thời gian dài
trớc đổi mới, dờng nh chúng ta mới chỉ hình dung có hai loại chính sách,
đó là
chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Điều đáng nói là ở chỗ, các
chính sách này thờng tách rời nhau, nhận thức không đúng về vai trò của
chính sách xã hội. Chính sách kinh tế đợc chú trọng nhng lại không đặt nó
trong tơng tác với chính sách xã hội. Coi đầu t cho kinh tế là quan trọng hơn
cả, thậm chí là tất cả. Đầu t cho xã hội chỉ đợc coi là đầu t bổ sung sau khi
12
đã đầu t cho kinh tế. Coi đầu t cho xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội là
đầu t bảo trợ, phúc lợi, không sinh lợi, đầu t cho không, mang tính chất bao
cấp, không thấy đầu t vào xã hội thực chất là đầu t phát triển kinh tế, mà sâu
xa là đầu t cho phát triển nguồn nhân lực, nhân tố quyết định trong phát triển
kinh tế - xã hội. Nhận thức không đúng đó đã làm thiệt hại ngay tới phát triển
Thứ ba, đổi mới nhận thức về chính sách, gắn liền chính sách kinh tế
với chính sách xã hội là cần thiết và tất yếu để phù hợp với một hiện thực kinh
tế -xã hội mới trong phát triển.
Thứ t, phân tầng xã hội là một trong những dấu hiệu của sự phát triển
xã hội, là hệ quả hợp lô gích của phát triển kinh tế thị trờng và dân chủ hóa.
Vai trò của chính sách đối với phát triển xã hội là ở chỗ chính sách và
hệ chính sách phải tính đủ các đối tợng thụ hởng lợi ích một cách công
bằng từ các chính sách đó, đồng thời phải đảm bảo quyền làm chủ xã hội của
mọi đối tợng, giai cấp, tầng lớp, nhóm, cộng đồng và cá nhân. Ngời dân
trong t cách công dân, họ là ngời lao động, ngời sản xuất kinh doanh, nhà
quản lý, nhà hoạt động xã hội, công chức, viên chức, lao động trí óc hay lao
động chân tay đều bình đẳng trên phơng diện là ngời chủ, ngời làm chủ
xã hội của mình. Những biến đổi trong phân tầng xã hội đòi hỏi phải đợc
điều tiết bằng chính sách để tạo nên sự phân tầng hợp lý, lành mạnh, thúc đẩy
tiến bộ xã hội.
Thứ năm, một khi cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội đã biến đổi mà
chính sách và cơ chế của nhà nớc không có sự biến đổi tơng ứng thì sự phát
triển xã hội sẽ vấp phải những lực cản từ sự lạc hậu của chính sách, của thể
chế nói chung.
Do đó, nghiên cứu và phát hiện những biến đổi của cơ cấu và phân tầng
phải đóng vai trò là cung cấp những luận cứ khoa học góp phần vào việc đổi
mới nhận thức, hoạch định và thực thi chính sách trong quản lý.
Muốn thúc đẩy việc thực hiện yêu cầu ấy, phải bắt đầu từ đổi mới nhận
thức về xã hội và cơ cấu xã hội, cơ cấu phân tầng, hình thành những nhận thức
14
mới, t duy lý luận mới của Đảng và Nhà nớc về những lĩnh vực quan trọng
nêu trên.
III. Những nhận thức lý luận mới của Đảng và Nhà nớc có tác
động trực tiếp tới cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội trong thực tiễn đổi
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội VI, , H.1987, tr.12.
2
Sđd, tr.26
1
Sđd, tr.29-32.
15
hoạt động dịch vụ, phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân
2
. Đây là một
tiền đề quan trọng để phát triển các loại hình dịch vụ kinh tế - kỹ thuật và xã
hội đáp ứng yêu cầu phát triển của đời sống dân c trong bối cảnh đổi mới,
mở cửa, hội nhập sau này. Từ đó hình thành cả một lực lợng lao động dịch
vụ, làm phong phú và đa dạng cơ cấu xã hội với những nhóm xã hội mới, tầng
lớp và giai tầng mới.
Đại hội VI còn xác định rõ ràng thái độ của Đảng và Nhà nớc đối với
các thành phần kinh tế, chủ trơng thi hành nhất quán các chính sách phát
triển kinh tế, có nhận thức mới về vai trò của chính sách xã hội, trong đó có
chính sách khuyến khích sản xuất, khuyến khích mọi lao động có ích cho xã
hội, u đãi đối với thành phần kinh tế XHCN song vẫn phải thực hiện sự bình
đẳng trớc pháp luật đối với mọi thành phần kinh tế, không đợc có phân biệt
đối xử.
Việc cải tạo XHCN theo xác định của Đại hội VI là không thể nóng
vội, giản đơn chủ quan, duy ý chí mà phải làm lâu dài, từng bớc vì mục đích
phát triển LLSX, từng bớc xây dựng QHSX mới phù hợp với LLSX chứ
không phải tách rời LLSX. Do đó phải đổi mới căn bản cách nhìn nhận, đánh
giá và đối xử với các thành phần kinh tế, với các chủ thể sản xuất -kinh doanh.
Đây là điểm xuất phát để giải quyết trong thực tế vấn đề cơ cấu xã hội
và phân tầng xã hội.
Đối với kinh tế quốc doanh, phải đảm bảo quyền tự chủ và thật sự
Đại hội VI khẳng định rằng, những ngời làm ra của cải và những việc
có ích cho xã hội, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, chấp hành nghiêm chỉnh pháp
luật và chính sách đều đợc tôn trọng, đợc quyền hởng thụ thu nhập tơng
ứng với kết quả lao động, kinh doanh hợp pháp của họ
1
.
Có thể nói, những luận điểm nêu trên thể hiện rất rõ sự đổi mới t duy
kinh tế của Đảng, là cơ sở để hình thành những nhận thức mới về xã hội, chính
sách xã hội thích ứng với sự hình thành cơ cấu xã hội mới.
Văn kiện Đại hội VI đã nêu lên những luận điểm mới về vấn đề này.
Lần đầu tiên Đảng ta đặt vấn đề cần có kế hoạch chủ động xây dựng cơ cấu
xã hội
2
vì mục đích phát triển yếu tố con ngời, lấy việc phục vụ con ngời là
mục đích cao nhất của mọi hoạt động.
1
Sđd tr.59
2
Sđd, tr.60
1
Sđd, tr.61
2
Sđd, tr.86.
17
Cần nhận thức đúng tính toàn diện của chính sách xã hội. Nó bao trùm
mọi mặt của cuộc sống con ngời từ điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục
và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp và quan hệ dân tộc. Đảm bảo sự
thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội, xuất phát từ nhận
thức XHCN
1
. NQĐH VI còn nhấn mạnh phải điều tra cơ bản, nắm chắc cơ
cấu giai cấp và xã hội của cả nớc, của từng địa phơng, phát hiện những vấn
đề cần đợc giải quyết về mặt chính sách giai cấp
2
. Đó là một bớc tiến rất
căn bản so với thời kỳ trớc đổi mới về nhận thức cơ cấu xã hội, chính sách xã
hội của Đảng.
Ngoài những vấn đề nêu trên, Văn kiện Đại hội VI còn đề cập tới nhiều
vấn đề quan trọng khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự hình thành
và phát triển cơ cấu xã hội ở nớc ta trong thời kỳ chuyển đổi mô hình phát
triển, cơ chế và chính sách quản lý.
Đáng lu ý là : nhấn mạnh sự cần thiết phải khắc phục quan niệm đẳng
cấp, tôn ti trật tự theo kiểu phong kiến, chỉ có nh thế mới sử dụng, cất nhắc
đợc cán bộ trẻ
3
, trong chính sách cán bộ phải chú trọng năng lực, trình độ
thực tế, không máy móc về tuổi tác cán bộ
4
. Quan tâm tới quyền tự do sáng
tạo của đội ngũ trí thức, thực hiện dân chủ hóa công tác cán bộ
5
.
Về bức tranh cơ cấu xã hội, Văn kiện Đại hội VI đã đề cập tới một hệ
thống cơ cấu bao gồm: GCCN, GCND, tầng lớp trí thức XHCN, thanh niên,
thiếu niên nhi đồng, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, đồng bào
theo tôn giáo. Đó là những điểm nổi bật trong nhận thức lý luận mới của Đảng
tại Đại hội VI có tác động trực tiếp tới cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội trong
thực tiễn đổi mới.
đã có xuất khẩu gạo và nhanh chóng trở thành một trong những nớc xuất
khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Đó là kết quả của đột phá về khoán trong nông nghiệp, nhất là khoán tới
hộ gia đình nông dân, thực hiện quyền sử dụng ruộng đất lâu dài của các chủ
hộ trong chính sách giao đất, giao rừng.
Kinh tế hộ đợc coi là đơn vị kinh tế cơ bản ở nông thôn, lợi ích cá
nhân của ngời lao động đợc coi là cơ sở và động lực trực tiếp của lợi ích xã
hội.
Các HTX kiểu cũ đợc tổ chức loại theo mô hình HTX kiểu mới, theo
đúng yêu cầu của kinh tế hợp tác, dựa trên sự trao đổi lao động, sự liên kết tự
nguyện của các hộ gia đình nông dân cá thể.
Mỗi đơn vị kinh tế hộ là hình thức của kinh tế t nhân với quyền chủ
động sản xuất kinh doanh của các chủ hộ. Trong nền kinh tế thị trờng, đa
dạng hóa các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu, ngay trong GCND
tập thể trớc đây cũng diễn ra sự phân hóa và phân tầng.
ở nông thôn, đã xuất hiện các loại hình kinh tế -sản xuất và cơ cấu xã
hội sau đây: thuần nông; làm nông nghiệp kết hợp với nghề thủ công và có sự
20
phục hồi nhanh chóng các làng nghề truyền thống; làm dịch vụ nông nghiệp
và chuyển sang thơng mại -dịch vụ ở nông thôn. Trong cộng đồng xã hội
nông thôn không chỉ có nông dân mà còn có thơng nhân, ngời sản xuất
công nghiệp, ngời làm dịch vụ. Ngay trong cơ cấu nông dân cũng có nông
dân làm nghề nông và không làm nghề nông. Dới tác dụng của thị trờng,
cạnh tranh, lợi nhuận, t duy của ngời nông dân truyền thống cũng thay đổi,
họ chuyển từ t duy theo hiện vật (một héc ta gieo trồng là bao nhiêu Kg thóc)
sang t duy theo giá trị (một héc ta canh tác đem lại bao nhiêu triệu đồng).
Phân tích trờng hợp nêu trên nh một ví dụ để thấy rõ thực tiễn biến
đổi kinh tế - xã hội và cơ cấu xã hội ở nớc ta.
Văn kiện Đại hội VII và Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ
triển xã hội nhng phát triển xã hội theo mục tiêu XHCN đòi hỏi không để
phân tầng xã hội dẫn tới phân hóa giai cấp. Đó là tất cả chỗ khó khăn của
chính sách và sự phức tạp trong quản lý xã hội.
Nhận thức lý luận của Đảng ta qua Cơng lĩnh 1991 và Văn kiện Đại
hội VII đã thể hiện bớc đầu những quan điểm ấy.
Cơng lĩnh đã nêu rõ, chính sách xã hội tác động trực tiếp đến việc hình
thành một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân
c đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây
dựng nớc Việt Nam giàu mạnh
1
.
Trong thực tế, hiện tợng phân tầng xã hội diễn ra theo nhiều hớng, có
3 hớng chủ yếu sau đây:
-Phân tầng trong nội bộ một giai cấp, ví dụ trong nội bộ GCCN, GCND
hay trong tầng lớp trí thức dới tác động của phân công lao động, chuyên mộ
hóa lao động, và sản xuất, gắn với cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, xuất
hiện những nghề mới với những thao tác kỹ thuật- công nghệ mới. Cùng với
1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Các NQTW 2001-2004, CTQG, H.2004, tr.591.
22
nó là sự khác biệt, phân hóa về thu nhập (qua tiền lơng) và mức sống. Đây
chính là sự xuất hiện các giai tầng -xã hội.
- Phân tầng diễn ra trong cộng động dân c và lao động, do tác động
của KTTT, cùng có cơ hội phát triển nh nhau nhng khả năng phát triển trên
thực tế lại khác nhau ở các đối tợng xã hội - nghề nghiệp khác nhau, các hoạt
động lao động khác nhau. Phân tầng xã hội này chủ yếu đo bằng thu nhập,
không giới hạn trong một giai cấp, một tầng lớp nào mà trong toàn bộ cơ cấu
xã hội. Thờng thấy các nhóm thu nhập cao, giàu có, nhóm trung bình, khá