Xây dựng trình tự và phương pháp kiểm tra khối lượng xây lắp trong kiểm toán Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật - Pdf 25

KIM TON NH NC
HI NG KHOA HC
đề tài khoa học năm 2008

( ti cp c s) Tên đề tài:
xây dựng trình tự và phơng pháp kiểm tra
khối lợng xây lắp trong kiểm toán dự án đầu t
xây dựng hạ tầng kỹ thuật
oạn thực hiện dự án 14
1.2.2.3. Trong giai đoạn nghiệm thu, thanh quyết toán, đưa công trình vào
khai thác sử dụng
17
1.2.3 Phân loại khối lượng xây lắp trong dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ
thuật
18
1.2.4 Phương pháp đo bóc khối lượng xây lắp 21
1.2.4.1. Khái niệm 21
1.2.4.2. Vai trò của đo bóc khối lượng 21
1.2.4.3. Nguyên tắc đo bóc khối lượng 21
1.2.4.4. Trình tự triển khai công tác đo bóc khối lượng công trình
22
1.3. Các yếu tố cơ bản chi phối công tác kiểm tra khối lượng xây lắp
trong kiểm toán dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
23
1.3.1. Những tồn tại trong lĩnh vực XDCB và vai trò của KTNN 23
1.3.2. Tính đặc thù trong công tác quản lý khối lượng xây lắp và những
vấn đề đặt ra đối với công tác kiểm tra khối lượng xây lắp trong kiểm toán
26

2
dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA KHỐI LƯỢNG XÂY LẮP
TRONG KIỂM TOÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT
30
2.1. Đánh giá chung về công tác kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng
HTKT trong thời gian qua
30
2.1.1. Các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đã được KTNN chuyên

3.2.2.3. Kiểm tra đối chiếu với đơn vị thi công 61
3.2.2.4. Sử dụng các phương tiện kỹ thuật đặc biệt hoặc trưng cầu tư vấn,
giám định
62
3.3. Những đi
ều kiệm đảm bảo cho việc áp dụng có hiệu quả trình tự và
phương pháp kiểm tra khối lượng xây lắp trong kiểm toán dự án đầu tư
xây dựng hạ tầng kỹ thuật
63

3
3.3.1. Tổ chức tập huấn 63
3.3.2. Xây dựng mối quan hệ với cơ quan chuyên môn về kỹ thuật xây dựng
để phối hợp và có được sự trợ giúp về chuyên môn khi cần thiết
64
3.3.3. Bổ sung các phương tiện kỹ thuật để nâng cao hiệu quả kiểm toán 65
3.3.4. Bố trí nhân sự đoàn kiểm toán và thời gian kiểm toán hợp lý 65
3.3.5. Ứng dụng công nghệ tin học 65
3.4. Kiến nghị
66
3.4.1. Đối với cơ quan KTNN 66
3.4.2. Đối với Trung ương, Chính phủ, Bộ quản lý ngành 67
C. KẾT LUẬN 68


5 HTKT Hạ tầng kỹ thuật
6 KTNN KTNN
7 KTV KTV
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

khâu phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán; việc tính toán, nghiệm thu sai
khối lượng so với bản vẽ thiết kế kỹ thuật, bản vẽ hoàn công và cao hơn khối lượng
thực tế thực hiệ
n của các tổ chức tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát và các bộ ngành
v.v ) thì tại tổ chức quản lý dự án - Ban QLDA còn tồn tại tình trạng là cán bộ
quản lý dự án chưa cập nhật thường xuyên chế độ, không ít cán bộ của Ban QLDA
yếu về năng lực, chưa kiểm soát và tuân thủ chế độ nghiệm thu thanh quyết toán do
Nhà nước ban hành Các cơ quan pháp luật, Chính phủ cũng đã có nhiều biện
pháp ngăn chặn, xử lý nhưng vẫn còn nhiều vụ việc, nhiều công trình lãng phí tiền

1
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (trang 166).
2
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (trang 199).

6
bạc của Nhà nước vẫn chưa được giải quyết, chưa được thực hiện kiểm tra, kiểm
toán. Đây là một trở lực phát triển đất nước.
Trong tình hình như vậy, KTNN - một cơ quan với vị trí vai trò đã được
khẳng định và đánh giá cao trong hệ thống các cơ quan kiểm tra tài chính công -
không thể đứng ngoài cuộc. Và riêng trong công tác kiểm tra khối lượng xây lắp
với tính đặc thù trong quản lý, với tiề
m ẩn những sai sót khó phát hiện thì việc nâng
cao chất lượng kiểm toán và hoàn thiện công tác kiểm tra khối lượng xây lắp trong
kiểm toán dự án đầu tư xây dựng HTKT lại càng trở nên cần thiết.
Là những KTV của KTNN, hiện đang công tác trong lĩnh vực kiểm toán về
đầu tư xây dựng, nhận thấy nhiệm vụ của mình là phải thực hiện kiểm toán các dự
án đầu tư xây dựng đạt kết quả cao nh
ất, chất lượng kiểm toán tốt nhất, tạo ra sự
lớn mạnh của ngành, góp phần vào công cuộc phòng và chống tham nhũng của toàn

dự án đầu tư xây dựng có thể sử dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm
toán, góp phần cụ thể hoá Quy trình kiểm toán dự án đầu tư xây dựng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là xây dựng trình tự và phương pháp kiểm tra khối
lượng xây lắp trong ki
ểm toán dự án đầu tư xây dựng HTKT;
Phạm vi nghiên cứu là lý luận xây dựng trình tự và phương pháp kiểm tra
khối lượng xây lắp của một số công việc chủ yếu có giá trị lớn trong kiểm toán dự
án đầu tư xây dựng HTKT, cụ thể hoá Quy trình kiểm toán báo cáo quyết toán dự
án đầu tư xây dựng do KTNN thực hiện; đối tượng khảo sát chủ yếu là các cuộc
kiểm toán dự án đầu tư xây d
ựng do KTNN Chuyên ngành IV (Kiểm toán Đầu tư -
Dự án) thuộc KTNN thực hiện.
Giới hạn của đề tài: Đề tài Trình tự và phương pháp kiểm tra khối lượng xây
lắp trong kiểm toán dự án đầu tư xây dựng HTKT được áp dụng cho công tác kiểm
toán các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN, vốn đầu tư hỗ trợ phát triển chính thức
của nước ngoài (ODA) của cơ quan KTNN.
4. Quan điểm và ph
ương pháp nghiên cứu
Quan điểm nghiên cứu: Dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta.
Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên phương pháp duy vật biện chứng của
Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, logic, phân tích tổng hợp và xử lý tài liệu, thông tin; khoa
học, kỹ thuật nghành xây dựng; Luật xây dựng và các hệ thống văn bản về đầu tư
XDCB do Nhà nước ban hành và thực ti
ễn công tác kiểm toán các dự án đầu tư
trong thời gian qua do KTNN tiến hành.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra khối lượng xây lắp trong kiểm toán dự

đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nướ
c và
phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình XDCB bao gồm công
trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng
lượng và các công trình khác.
Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để
tạo mới, mở rộng, cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tă
ng
trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch
vụ trong khoảng thời gian xác định.
Các dự án đầu tư nhằm xây dựng công trình XDCB được gọi chung là dự án
đầu tư XDCB.

“Công trình HTKT là các cơ sở hạ tầng dành cho dịch vụ công cộng, ví dụ:
Giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, rác
Các công trình này thường do các tập đoàn độc tài của chính phủ hoặc của tư
nhân, thuộc sở hữu tư nhân hoặc sở hữu công.
Ví dụ về các công trình hạ tầng kĩ thuật:

9
• Hệ thống điện
• Hệ thống lọc và phân phối nước ăn
• Hệ thống xử lý nước thải
• Hệ thống xử lý rác thải
• Hệ thống phân phối khí đốt
• Giao thông công cộng
• Các hệ thống truyền thông, chẳng hạn truyền hình cáp và điện thoại
• Hệ thống đường xá, bao gồm cả đường thu phí”
3
.

10
giống nhau. Với những công trình công nghệ cao, có vòng đời thay đổi công nghệ
ngắn như các công trình thuộc lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin,
điện tử, thì việc thay đổi công nghệ, kiểu dáng, hình thức, công năng luôn luôn
xảy ra. Giá thành của công trình xây dựng cơ bản rất phức tạp và thường xuyên
thay đổi theo từng giai đoạn.
Công trình HTKT có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung
cấp các yếu tố đầu vào, thiế
t kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng
công trình.
Công trình HTKT liên quan đến cảnh quan môi trường và môi trường tự
nhiên, do đó liên quan đến lợi ích cộng đồng, nhất là đến dân cư địa phương nơi đặt
công trình
Công trình HTKT không chỉ mang ý nghĩa kinh tế kỹ thuật mà còn mang
tính nghệ thuật, chịu nhiều ảnh hưởng của nhân tố thượng tầng kiến trúc, mang
màu sắc truyền thố
ng dân tộc, thói quen, tập quán sinh hoạt, Công trình HTKT
phản ánh trình độ kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật và trình độ văn hoá nghệ thuật
của từng giai đoạn lịch sử nhất định của một đất nước.
1.1.2.2. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật:
Xuất phát từ tính chất và đặc điểm của công trình HTKT ta có th
ể rút ra một
số đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của dự án đầu tư xây dựng HTKT như sau:
- Sản xuất thiếu tính ổn định, có tính lưu động cao trên lãnh thổ
Đặc điểm này kéo theo một loạt các tác động gây bất lợi như sau:
+ Thiết kế có thể hay đổi theo yêu cầu của chủ đầu tư về tính công dụng hoặc
trình độ kỹ thuậ
t, các vật liệu.
+ Các phương án công nghệ và tổ chức xây dựng phải luôn luôn biến đổi phù
hợp với thời gian và điều kiện xây dựng (phương pháp tổ chức sản xuất và biện

nhà và ngoài trời. Kịp thời điều chỉnh tiến độ thi công bằng các phương pháp kỹ
thuật hiện đại trong quản lý.
- Sản phẩm của dự án đầu tư xây dựng HTKT thường được sản xuất theo
phương pháp đơn chiếc, thi công công trình theo đơn đặt hàng của chủ đầu tư
Đặc điểm này gây nên một số tác động đến quá trình th
ực hiện dự án như sau:
+ Sản xuất xây dựng của các tổ chức xây dựng có tính bị động và rủi ro cao
vì nó phụ thuộc vào kết quả đấu thầu;
+ Việc thống nhất hoá, điển hình hoá các mẫu sản phẩm và công nghệ chế
tạo gặp nhiều khó khăn;
+ Không thể xác định thống nhất giá cả cho một đơn vị sản phẩm cuối cùng.
Ngoài ra, ở Việt Nam có nhữ
ng đặc điểm xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế xã
hội đã tác động không nhỏ tới công tác tổ chức sản xuất trong toàn ngành xây dựng
nói chung cũng như trong việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng HTKT nói
riêng, cụ thể là:
+ Lực lượng xây dựng nước ta rất đông đảo, song còn phân tán, manh mún,
thiếu công nhân lành nghề;

12
+ Trình độ trang bị máy móc tiên tiến còn rất hạn chế;
+ Trình độ tổ chức thi công và quản lý xây dựng còn nhiều tồn tại.
1.2. Khối lượng xây lắp trong dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật
và phương pháp đo bóc khối lượng
1.2.1. Khái niệm chung
Để định giá trị của một lô hàng thì điều đầu tiên là phải xác định khối lượng.
Việc xác định khối lượng cũng là mụ
c đích chung và là sự công bằng giữa người
mua và người bán; và trong bất kỳ trường hợp nào thì khối lượng là sự biểu hiện
của việc có đo lường và kiểm tra xác định khối lượng.

phóng mặt bằng, tái định cư, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng,
chi phí khác và chi phí dự phòng.
Tổng mức đầu tư dự án được ghi trong quyết định đầu tư là cơ sở để lập kế
hoạch và quản lý vốn đầu tư, xác định hiệu quả đầu tư của dự án. Đối với dự án sử
dụng vốn NSNN, tổng mức đầu t
ư là giới hạn chi phí tối đa mà chủ đầu tư được
phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình.
Tổng mức đầu tư dự án được xác định trên cơ sở khối lượng các công việc
cần thực hiện của dự án, thiết kế cơ sở, suất vốn đầu tư, chi phí chuẩn xây dựng, chi
phí xây dựng của các dự án có tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuậ
t tương tự đã thực hiện.
Tổng mức đầu tư được xác định theo một trong các phương pháp sau đây :
a) Tính theo thiết kế cơ sở của dự án. Trong đó, chi phí xây dựng được tính
theo khối lượng chủ yếu từ thiết kế cơ sở, các khối lượng khác dự tính và giá xây
dựng phù hợp với thị trường; chi phí thiết bị được tính theo số lượng, chủng loại
thi
ết bị phù hợp với thiết kế công nghệ, giá thiết bị trên thị trường và các yếu tố
khác, nếu có; chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư được tính theo
khối lượng phải đền bù, tái định cư của dự án và các chế độ của nhà nước có liên
quan; chi phí khác được xác định bằng cách lập dự toán hoặc tạm tính theo tỷ lệ
phần trăm (%) trên tổng chi phí xây dựng và chi phí thiết bị
; chi phí dự phòng được
xác định cho khối lượng công việc phát sinh và yếu tố trượt giá trong thời gian xây
dựng công trình.
b) Tính theo diện tích hoặc công suất sử dụng của công trình và giá xây dựng
tổng hợp theo bộ phận kết cấu, theo diện tích, công năng sử dụng (sau đây gọi là
giá xây dựng tổng hợp), suất vốn đầu tư xây dựng công trình tương ứng tại thời
điểm lập dự án có điề
u chỉnh, bổ sung những chi phí chưa tính trong gía xây dựng
tổng hợp và suất vốn đầu tư để xác định tổng mức đầu tư;

ở khối lượng, số lượng
chủng loại thiết bị cần mua, gia công và giá mua hoặc gia công thiết bị. Chi phí đào
tạo và chuyển giao công nghệ, chi phí lắp đặt thiết bị, chi phí thí nghiệm, hiệu
chỉnh và các chi phí khác liên quan (nếu có) được xác định bằng dự toán;
- Chi phí quản lý dự án bao gồm các khoản chi phí cần thiết để chủ đầu tư tổ
chức thực hiện quản lý dự án. Chi phí quản lý dự án được xác
định bằng định mức
tỷ lệ.
- Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm chi phí tư vấn lập dự án đầu tư xây
dựng, khảo sát, thiết kế, giám sát xây dựng, tư vấn thẩm tra và các chi phí tư vấn
đầu tư xây dựng khác. Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng được xác định bằng định
mức tỷ lệ hoặc lập dự toán.
- Chi phí khác bao gồm các chi phí chưa quy
định tại các điểm a), điểm b),
điểm c) và điểm d) khoản 1 Điều này và được xác định bằng lập dự toán hoặc định
mức tỷ lệ.
- Chi phí dự phòng cho khối lượng công việc phát sinh được tính bằng tỷ lệ
phần trăm(%) trên tổng các chi phí quy định tại điểm a), điểm b), điểm c), điểm d),
và điểm đ) khoản 1 Đ
iều này. Chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá được tính trên

15
cơ sở độ dài thời gian xây dựng công trình và chỉ số giá xây dựng hàng năm phù
hợp với loại công trình xây dựng.
Trong các khoản mục chi phí trên, chi phí xây dựng công trình là bộ phận
quan trọng chính yếu cấu thành nên chi phí của dự án đầu tư XDCB (nhất là đối với
dự án đầu tư HTKT). Do vậy, chúng ta hãy nghiên cứu nội dung và cách xác định
bộ phận chi phí này :
Chi phí xây dựng bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu
thuế tính trước, thuế giá trị

16
a.2. Xác định chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công theo khối lượng và
đơn giá xây dựng chi tiết
a.2.1. Xác định khối lượng:
Khối lượng các công tác xây dựng được xác định từ bản vẽ thiết kế kỹ thuật
hoặc thiết kế bản vẽ thi công, nhiệm vụ công việc phải thực hiện của công trình,
hạng mục công trình phù hợp với danh mục và nội dung công tác xây dựng trong
đơn giá xây dựng chi tiết.
a.2.2. Xác định đơn giá xây d
ựng chi tiết:
Đơn giá xây dựng chi tiết bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi
phí máy thi công được xác định trên cơ sở định mức hao phí cần thiết và giá vật
liệu, giá nhân công, giá máy thi công tương ứng. Đơn giá xây dựng chi tiết có thể
chỉ bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công hoặc tổng hợp
đầy đủ cả chi phí trực tiếp khác, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước.
b. Chi phí trực tiếp khác: là chi phí cho những công tác cần thiết phục vụ trực
ti
ếp việc thi công xây dựng công trình như di chuyển lực lượng lao động trong nội
bộ công trường, an toàn lao động, bảo vệ môi trường cho người lao động và môi
trường xung quanh, chi phí bơm nước, vét bùn, thí nghiệm vật liệu, không xác
định được khối lượng từ thiết kế.
Chi phí trực tiếp khác được tính bằng tỷ lệ % trên tổng chi phí vật liệu, chi
phí nhân công, chi phí máy thi công.
* Chi phí chung:
Chi phí chung bao gồm: chi phí quản lý của doanh nghiệp, chi phí điều hành
sản xuất tạ
i công trường, chi phí phục vụ công nhân, chi phí phục vụ thi công tại
công trường và một số chi phí khác. Chi phí chung được tính bằng tỷ lệ phần trăm
(%) trên chi phí trực tiếp hoặc bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí nhân công
trong dự toán theo quy định đối với từng loại công trình.

ng xây dựng khác phải căn cứ theo giá trị khối lượng thực tế hoàn thành và nội
dung phương thức thanh toán trong hợp đồng đã ký kết.
Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng công
trình ngay sau khi công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng theo yêu cầu
của người quyết định đầu tư.
Vốn đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện cho đầ
u
tư xây dựng công trình và đưa dự án vào khai thác, sử dụng. Chi phí hợp pháp là
chi phí được thực hiện trong phạm vi thiết kế, dự toán đã được phê duyệt kể cả
phần điều chỉnh, bổ sung hoặc là chi phí được thực hiện đúng với hợp đồng đã ký
kết, phù hợp với các quy định của pháp luật. Đối với các dự án sử dụng vốn NSNN
thì vốn đầu tư
được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được cấp
có thẩm quyền phê duyệt.
Nhìn chung, đối với dự án đầu tư nói chung, dự án đầu tư xây dựng HTKT
nói riêng thì chi phí xây dựng là phần chi phí lớn nhất trong tổng chi phí của dự án.
Tóm lại: việc xác định chi phí xây dựng là phần việc quan trọng nhất trong
việc tính toán chi phí của dự án đầu tư xây dựng HTKT. Để xác định đượ
c chi phí

18
xây dựng thì cần thiết phải xác định được khối lượng công tác xây dựng thể hiện
qua các giai đoạn trong quá trình đầu tư như sau:
- Trong giai đoạn lập dự án: để xác định Tổng mức đầu tư cần căn cứ vào
khối lượng trong thiết kế sơ bộ;
- Trong giai đoạn thực hiện dự án: để xác định Dự toán công trình cần căn cứ
vào khối lượ
ng trong thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế thi công;
- Trong giai đoạn nghiệm thu, thanh quyết toán: căn cứ vào khối lượng trong
biên bản nghiệm thu, bản vẽ hoàn công giai đoạn để xác định giá trị nghiệm thu

(bê tông trộn tại chỗ, bê tông thương phẩm), theo loại bê tông sử dụng (bê tông đá

19
dăm, bê tông át phan, bê tông chịu nhiệt, bê tông bền sunfat ), kích thước vật liệu
(đá, sỏi, cát ), mác xi măng, mác vữa bê tông, theo chi tiết bộ phận kết cấu (móng,
tường, cột ), theo chiều dày khối bê tông, theo cấu kiện bê tông (bê tông đúc sẵn),
theo điều kiện thi công và biện pháp thi công. Đối với một số công tác bê tông đặc
biệt còn được tính toán, phân loại theo cấu kiện, chiều cao cấu kiện, đường kính
cấu kiện.
Đơn vị tính thường dùng: m
3
4- Khối lượng công tác ván khuôn:
Khối lượng ván khuôn được phân loại riêng theo chất liệu sử dụng làm ván
khuôn (thép, gỗ, gỗ dán phủ phin ).
Đơn vị tính thường dùng: m
2
5- Khối lượng công tác cốt thép
Khối lượng cốt thép phải được phân loại theo loại thép (thép thường và thép
dự ứng lực, trép trơn, thép vằn), mác thép, nhóm thép, đường kính cốt thép theo chi
tiết bộ phận kết cấu (móng, cột, tường ) và điều kiện thi công. Một số công tác cốt
thép đặc biệt còn được phân loại theo chiều cao cấu kiện.
Đơn vị tính thường dùng: Tấn
6- Khối lượng công tác cọc:
Khối lượ
ng cọc được phân loại theo vật liệu chế tạo cọc (cọc tre, gỗ, bê tông
cốt thép, thép), kích thước cọc (chiều dài mỗi cọc, đường kính, tiết diện), phương
pháp nối cọc, độ sâu đóng cọc, cấp đất đá, điều kiện thi công (trên cạn, dưới nước,
môi trường nước ngọt, nước lợ, nước mặn) và biện pháp thi công (thủ công, thi
công bằng máy).
Đơn vị tính thường dùng: m

2
11- Khối lượng công tác lắp đặt hệ thống kỹ thuật công trình:
Khối lượng lắp đặt hệ thống kỹ thuật công trình như cấp điện, nước, thông
gió, cấp nhiệt, điện nhẹ được đo phân loại theo từng loại vật tư, phụ kiện của hệ
thống kỹ thuật công trình theo thiết kế sơ đồ của hệ thống, có tính đến các đ
iểm
cong, gấp khúc theo chi tiết bộ phận kết cấu
Đơn vị tính thường dùng: cái/chiếc
12- Khối lượng công tác lắp đặt thiết bị công trình:
Khối lượng lắp đặt thiết bị công trình được phân loại theo loại thiết bị, tổ
hợp, hệ thống thiết bị cần lắp đặt, biện pháp thi công và điều kiện thi công (chiều
cao, độ sâu lắp đặt)
Đơn vị tính th
ường dùng: cái/chiếc

1.2.4 Phương pháp đo bóc khối lượng xây lắp
1.2.4.1. Khái niệm
Theo tài lệu đào tạo về Chuyên đề đo bóc khối lượng các công tác xây dựng
do Công ty Davis Langdon & Seah (Singgapore) biên soạn thì khái niệm về đo bóc

21
tiên lượng được xác định như sau: “Đo bóc tiên lượng là quá trình đo bóc kích
thước từ bản vẽ và đièn chúng vào các tờ ghi kích thước theo danh mục các công
tác. Các số liệu này sau đó sẽ được xử lý để lập ra Bảng tiên lượng theo quy định”
Để diễn đạt đầy đủ nhất về việc đo bóc khối lượng xây lắp phù hợp với quy
định hiện tại của Việt Nam về thiết kế và quản lý chi phí, có th
ể xem xét khái niệm
sau: Đo bóc khối lượng xây dựng công trình, hạng mục công trình là việc xác định
khối lượng công tác xây dựng cụ thể được thực hiện theo phương thức đo, đếm,
tính toán, kiểm tra trên cơ sở kích thước, số lượng quy định trong bản vẽ thiết kế


22
khác) hoặc theo hạng mục công trình. Khối lượng đo bóc của bộ phận công trình
hoặc hạng mục công trình được phân thành công tác xây dựng và công tác lắp đặt.
- Các thuyết minh, ghi chú hoặc chỉ dẫn liên quan tới quá trình đo bóc cần
nêu rõ rang, ngắn gọn, dễ hiểu và đúng quy phạm, phù hợp với hồ sơ thiết kế công
trình xây dựng. Khi tính toán những công việc cần diễn giải thì phải có diễn giải cụ
thể như độ
cong vòm, tính chất của các chất liệu (gỗ, bê tông ), điều kiện thi công
(trong nhà, ngoài trời, trên cạn, dưới nước )
- Các kích thước đo bóc được ghi theo thứ tự chiều dài, chiều rộng, chiều cao
(hoặc chiều sâu); khi không theo thứ tự này thì cần diễn giải cụ thể.
- Các ký hiệu dùng trong bảng tính toán, đo bóc khối lượng công trình, hạng
mục công trình phải phù hợp với ký hiệu đã thể hiện trong bản vẽ thiết kế
. Các khối
lượng lấy theo thống kê của thiết kế thì phải ghi rõ lấy theo số liệu thống kê của
thiết kế và chỉ rõ số hiệu của bản vẽ thiết kế có thống kê đó.
- Đơn vị tính: Tuỳ theo yêu cầu quản lý và thiết kế được thể hiện, mỗi một
khối lượng xây lắp sẽ được xác định theo một đơn vị đo phù hợp.
1.2.4.4. Trình tự triển khai công tác đo bóc khối lượng công trình
- Nghiên cứu, kiểm tra nắm vững các thông tin trong bản vẽ thiết kế và tài
liệu chỉ dẫn kèm theo. Trường hợp cần thiết yêu cầu nhà thiết kế giải thích rõ các
vấn đề có liên quan đến đo bóc khối lượng xây dựng công trình.
- Lập Bảng tính toán, đo bóc khối lượng công trình, hạng mục công trình.
Bảng tính toán này phải phù hợp với bản vẽ thiết kế, trình tự thi công xây dự
ng
công trình, thể hiện được đầy đủ khối lượng xây dựng công trình và chỉ rõ được vị
trí các bộ phận công trình, công tác xây dựng thuộc công trình. Bảng tính toán, đo
bóc khối lượng công trình, hạng mục công trình cần lập theo trình tự từ ngoài vào
trong, từ dưới lên trên theo trình tự thi công (móng ngầm, khung, sàn bên trên,

Cũng theo báo cáo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, nhìn chung nguồn vốn
này đã được tập trung đầu tư cho các dự án kết cấu hạ tầng giao thông, thuỷ lợi,
giáo dục, y tế, các chương trình mục tiêu cũng như các cơ chế, chính sách phát triển
đ
ô thị đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm
việc làm mới, góp phần xoá đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống nhân
dân, nâng cao trình độ văn hóa, dân trí. Nguồn vốn nhà nước dành cho đầu tư
XDCB đã đóng vai trò rất quan trọng và có tính chủ đạo trong việc phát triển kết
cấu hạ tầng kinh tế- xã hội của đất nước. Nhiều công trình qui mô lớn, các cơ s

dịch vụ công ích, nhiều khu kinh tế, khu đô thị mới đã được hình thành.
Bên cạnh những kết qủa đạt được, công tác XDCB còn nhiều hạn chế, yếu
kém, làm ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh, có chất lượng và bền vững của nền
kinh tế, xã hội. Đặc biệt, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (đường giao thông, cảng
biển, ) quá tải, thiếu điện cho s
ản xuất và sinh hoạt. Trong khi đó, tiến độ các dự
án sử dụng vốn nhà nước rất chậm, thủ tục đầu tư xây dựng rườm rà, hiệu quả đầu
tư của nhiều dự án thấp, còn thất thoát, lãng phí so với đầu tư bằng nguồn vốn
khác. Tình trạng bố trí vốn dàn trải, đầu tư thiếu đồng bộ vẫn còn khá phổ biến.
Công tác lập quy hoạch, k
ế hoạch, công tác chuẩn bị đầu tư, chất lượng lập, thẩm
định, phê duyệt dự án tại một số bộ, ngành, địa phương chưa tốt, công tác khảo sát,
thiết kế, lập dự toán của nhiều đơn vị được kiểm toán chưa đáp ứng được yêu cầu,
các dự án phải điều chỉnh trong quá trình thực hiện có xu hướng tăng lên. Vẫn còn

24
nhiều vi phạm pháp luật về đầu tư XDCB, bảo vệ môi trường, an toàn lao động, an
toàn giao thông gây bức xúc trong nhân dân.
Những tồn tại nêu trên, tựu chung lại đều là nguyên nhân hay hệ quả của tình
trạng lãng phí, thất thoát, tiêu cực trong lĩnh vực XDCB. Tình trạng này đã được dư

2
đất. Bộ Tài chính đã tiến hành thanh tra 14 dự án do Bộ, ngành trung
ương quản lý và thanh tra công tác quản lý vốn đầu tư XDCB tại 18 địa phương, đã
phát hiện và xử lý sai phạm 3.212,4 tỷ đồng, trong đó đã xử lý thu hồi nộp NSNN
727,6 tỷ đồng, giảm trừ khi thanh quyết toán 665,8 tỷ đồng, kiểm tra bổ sung căn
cứ 251,2 tỷ đồng. Tổng số dự án, chương trình được KTNN tiến hành kiểm toán
trong 3 năm (2005-2007) là 65 cuộc, trong
đó đã kiến nghị xử lý tài chính là 1.068
tỷ đồng.

Trích đoạn Nguyờn tắc xõy dựng trỡnh tự và phương phỏp kiểm tra khối lượng xõy lắp trong kiểm toỏn dự ỏn đầu tư xõy dựng hạ tầng kỹ thuật Xõy dựng trỡnh tự và phương phỏp kiểm tra Xõy dựng mối quan hệ với cơ quan chuyờn mụn về kỹ thuật xõy dựng để phối hợp và cú được sự trợ giỳp về chuyờn mụn khi cần thiết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status