CHUYÊN ĐỀ: HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 1 CHI TIẾT, CỤ THỂ, TRỰC QUAN VỀ KĨ NĂNG LUYỆN VIẾT CHỮ ĐÚNG, CHỮ ĐẸP. - Pdf 25

/>TƯ LIỆU CHUYÊN MÔN TIỂU HỌC.

CHUYÊN ĐỀ
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 1
CHI TIẾT, CỤ THỂ, TRỰC QUAN
VỀ KĨ NĂNG LUYỆN VIẾT
CHỮ ĐÚNG, CHỮ ĐẸP.
HẢI DƯƠNG – NĂM 2015
/> />LỜI NÓI ĐẦU
Trong giai đoạn xã hội hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn
lực con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự
thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có
vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt
Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đảng và nhà
nước luôn quan tâm và chú trọng đến giáo dục. Với chủ đề của năm
học là “Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”
đối với giáo dục phổ thông. Mà trong hệ thống giáo dục quốc dân, thì
bậc tiểu học là bậc nền tảng, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng là
bước đầu hình thành nhân cách con người cũng là bậc học nền tảng
nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ
năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở. Để đạt được
mục tiêu trên đòi hỏi người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu
biết nhất định về nội dung chương trình sách giáo khoa, có khả năng
hiểu được về tâm sinh lí của trẻ, về nhu cầu và khả năng của trẻ.
Đồng thời người dạy có khả năng sử dụng một cách linh hoạt các
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng
học sinh. Việc rèn viết chữ đúng, viết chữ đẹp cho học học sinh lớp 1
là vô cùng qua trọng mà người giáo viên cần nắm vững.
Chữ viết là một công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin,
là phương tiện để ghi chép và tiếp nhận những tri thức văn hoá khoa

CHUYÊN ĐỀ: HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 1
CHI TIẾT, CỤ THỂ, TRỰC QUAN VỀ KĨ NĂNG
LUYỆN VIẾT CHỮ ĐÚNG, CHỮ ĐẸP VÀ BÀI
SOẠN MINH HỌA.
Chân trọng cảm ơn!
/> />CHUYÊN ĐỀ
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 1
CHI TIẾT, CỤ THỂ, TRỰC QUAN
VỀ KĨ NĂNG LUYỆN VIẾT
CHỮ ĐÚNG, CHỮ ĐẸP
VÀ BÀI SOẠN MINH HỌA.
I. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH TẬP VIẾT 1.
Chương trình tập viết 1 bao gồm những nội dung cơ bản
sau:
- Viết các chữ cái cỡ vừa viết các vần tiếng, từ ứng dụng
cỡ vừa và nhỏ.
- Tô các chữ hoa và viết các chữ số theo cỡ chữ vừa.
- Biết viết đúng và rõ ràng chữ thường; ghi dấu thanh
đúng vị trí.
Những nội dung yêu cầu nói trên sẽ được cụ thể hoá
thành các bài học trong sách giáo khoa Tiếng Việt và vở tập
viết lớp 1 tập 1 và tập 2 theo bảng mẫu chữ viết dùng trong
các trường Tiểu học do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành.
- Vở tập viết lớp 1 có một số điểm mới cơ bản so với vở
tập viết theo chương trình cải cách giáo dục trước đây là: Nội
dung bài tập viết bám sát yêu cầu đề ra trong chương trình và
/> />sách giáo khoa Tiếng Việt. Chữ viết mẫu được thể hiện trên
các dòng kẻ li tương ứng với vở ô li của học sinh nhưng
khoảng cách giữa hai dòng li rộng hơn (bằng 0,25cm) để tạo
điều kiện cho học sinh dễ tập viết.

cỡ vừa, luyện viết các vần, từ ngữ theo cỡ chữ vừa và nhỏ,
nội dung bài học trong vở tập viết được ghi rõ trong SGK
TV1 tập 2. Mỗi tiết tập viết trong vở, ngoài phần tập tô chữ
cái viết hoa và luyện viết chữ thường ở lớp (Kí hiệu A) còn
có nội dung tập tô, tập viết ở nhà hoặc viết vào buổi chiều với
lớp 2 buổi/ngày (kí hiệu B) nhằm tiếp tục trau dồi kĩ thuật
viết chữ cho học sinh.
II - ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC.
/> />Đổi mới phương pháp dạy học cần chú ý.
a. Tập trung vào việc dạy cách học, đặc biệt là cách tự
học cho học sinh. Kết hợp chặt chẽ việc dạy học cá thể hoá
và dạy học hợp tác để tạo ra mối quan hệ tương hỗ giữa 3 yếu
tố: Giáo viên, học sinh và môi trường (giáo dục).
b. Coi trọng và khuyến khích việc dạy học trên cơ sở các
hoạt động tích cực, chủ động sáng tạo cá nhân, hoặc nhóm,
hoặc tập thể học sinh. Giáo viên cần giúp học sinh tự phát
hiện, tự giải quyết vấn đề của bài học, qua đó tự tìm ra và
chiếm lĩnh kiến thức mới.
c. Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học như bộ
mẫu chữ viết thường, viết hoa, bảng phụ, bảng con
d. Kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp dạy học truyền
thống và phương pháp dạy học hiện đại để phát huy tối đa
các mặt mạnh, hạn chế các mặt yếu nhằm nâng cao hiệu quả
giảng dạy.
e. Từng bước đổi mới công tác đánh giá, coi đây là một
động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học.
III - CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TẬP VIẾT.
/> />Để việc dạy học tập viết có hiệu quả, cần phải sử dụng
những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động
của học sinh. Các phương pháp đặc trưng của môn học như:

khuyến khích để việc làm của các em đạt được mục đích
chung trước những biện pháp như vậy học sinh lớp tôi trong
tiết học nào, đặc biệt ở tiết tập viết luôn có sự say mê hứng
thú học tập và công việc tiếp theo trong tiết học bao giờ cũng
đạt kết quả cao.
2. Hướng dẫn học sinh viết chữ:
a. Dùng tên gọi các nét cơ bản để hướng dẫn học sinh
viết chữ.
Trong quá trình hình thành biểu tượng về chữ viết và
hướng dẫn học sinh viết chữ. Giáo viên thường sử dụng tên
/> />gọi các nét cơ bản để mô tả hình dạng, cấu tạo và qui trình
viết một chữ cái theo các nét viết đã qui định ở bảng mẫu
chữ. Nét viết và nét cơ bản được phân biệt như sau:
- Nét viết là đường viết liền mạch, không phải dừng lại để
chuyển hướng ngòi bút hay nhấc bút. Nét viết có thể là một
hay nhiều nét cơ bản tạo thành.
- Nét cơ bản là nét bộ phận, dùng để tạo thành nét viết
hoặc kết hợp hai, ba nét cơ bản để tạo thành một nét viết.
Để giúp học sinh nắm được các nét cơ bản tôi hướng dẫn
học sinh làm quen và ghi nhớ theo các nhóm nét sau:
LOẠI NÉT CƠ
BẢN
DẠNG - KIỂU NÉT MINH HOẠ
1. Nét thẳng - Thẳng đứng
- Thẳng ngang
- Thẳng xiên
2. Nét cong - Cong xiên
- Cong kín
- Cong hở trái
- Cong hở phải

b. Hướng dẫn dẫn học sinh viết chữ ghi âm.
/> />Muốn viết được một chữ ghi âm bất kì nào thì tôi đều
yêu cầu học sinh xác định xem chữ ghi âm đó là két hợp của
những nét nào? Độ cao, độ rộng của nét, điểm đặt bút và
dừng bút tại đâu?
Ví dụ: Khi dạy chữ cái a viết thường thì trước hết phải
xác định được chữ a nằm trong độ cao mấy li? được viết bằng
mấy nét? Học sinh sẽ trả lời được chữ cái a nằm trong độ cao
2 ô li (ứng với 3 đường kẻ ngang) và được viết bằng 2 nét.
Nét một là nét cong kín, nét hai là nét móc ngược (móc phải).
Sau khi đã nắm bắt được số nét viết của chữ a, tôi tiến hành
tô chữ mẫu và hướng dẫn qui trình viết để cho học sinh quan
sát. Tiếp theo tôi tiến hành viết mẫu trên bảng lớp và nêu lại
qui trình viết.
Cách viết: Đặt bút thấp hơn đường kẻ
ngang 3 một chút viết nét cong kín (từ phải
sang trái) từ điểm dừng bút của nét một, lia
bút lên đường kẻ 3 viết nét móc ngược phải
sát nét cong kín và dừng bút tại đường kẻ
ngang 2.
Hay khi dạy chữ cái b giáo viên cho học sinh quan sát
mẫu và gợi ý để học sinh tự nhận ra rằng chữ cái b nằm trong
độ cao 5 ô li (gồm 6 đường kẻ ngang) và được viết bằng 1
/> />nét. Giáo viên lưu ý để học sinh hiểu nét viết chữ b là kết hợp
của hai nét cơ bản, nét khuyết trên và nét thắt.
Cách viết: Đặt bút trên đường kẻ ngang 2, viết nét
khuyết trên (đầu nét
khuyết chạm đường kẻ ngang 6) nối liền
với nét thắt dừng bút thấp hơn đường kẻ 3.
Mỗi khi dạy đến một chữ nào đó tôi luôn luôn hướng

Trường hợp này nối chữ cũng tương đối dễ dàng. Tôi chỉ
cần lưu ý học sinh điều chỉnh khoảng cách giữa 2 chữ cái sao
cho không gần quá hay xa quá (ví dụ êm, cư ) hoặc chuyển
hướng ngòi bút ở cuối nét cong (kín) để nối sang nét móc
(hoặc nét hất) sao cho hình dạng 2 chữ cái vẫn rõ ràng,
khoảng cách hợp lí (ví dụ: ơn, ôm )
/> />* Trường hợp 3: Nét móc (hoặc nét khuyết) của chữ cái
trước nối với nét cong của chữ cái sau. Ví dụ: ác, hoa, ngô,
yêu). Đây là trường hợp nối chữ tương đối khó, vừa đòi hỏi kĩ
thuật lia bút vừa yêu cầu ước lượng khoảng cách sao cho vừa
phải, hợp lí. Ở trường hợp này tôi lưu ý học sinh phải xác
định được điểm dừng bút ở chữ cái trước để lia bút viết tiếp
chữ cái sau sao cho liền mạch tạo thành một khối các chữ cái,
ví dụ: ác, hoa, ngô, yêu.
Điều chỉnh phần cuối nét móc của chữ cái trước hơi
doãng rộng một chút để khi viết tiếp chữ cái sau sẽ có khoảng
cách vừa phải (không gần quá) ví dụ: ao, oan điều chỉnh phần
cuối nét móc của chữ cái a để khi viết tiếp chữ cái o sẽ có
khoảng cách giữa o và a không gần quá (bằng khoảng cách
giữa a và i (ai).
* Trường hợp 4: Nét cong của chữ cái trước nối với nét
cong của chữ cái sau: Ví dụ: oe, oa, xo, eo Đây là trường
hợp nối chữ khó nhất vừa đòi hỏi các kĩ thuật rê bút, lia bút,
chuyển hướng bút để tạo nét nối vừa yêu cầu việc ước lượng
khoảng cách hợp lí. Ở trường hợp này tôi lưu ý học sinh rê
bút từ điểm cuối của chữ cái o chúc xuống để gặp điểm bắt
đầu của chữ cái e sao cho nét vòng không quá to (bê, ve, oe).
Rê bút từ điểm cuối của chữ cái o sang ngang rồi lia bút viết
/> />tiếp chữ cái a (hoặc c) để thành oa, oc sao cho khoảng cách
giữa 2 chữ hợp lí

trì và trình độ sư phạm của giáo viên) mà còn có sự tác động
của những yếu tố khách quan (điều kiện phương tiện phục vụ
cho việc dạy học tập viết). Do vậy muốn rèn cho học sinh nếp
viết chữ rõ ràng, sạch đẹp tôi luôn quan tâm hướng dẫn nhắc
nhở các em thường xuyên làm tốt các việc sau:
a, Chuẩn bị và sử dụng đồ dùng học tập.
Hoạt động chủ đạo của học sinh trong giờ học tập viết là
thực hành luyện tập để hình thành kĩ năng viết chữ ngày càng
thành thạo. Học sinh được luyện viết dưới 2 hình thức viết
bảng bằng phấn và viết vở bằng bút chì rồi bút mực. Do vậy
/> />muốn thực hành luyện viết đạt kết quả tốt tôi luôn nhắc nhở
học sinh chuẩn bị tốt các đồ dùng học tập sau.
* Bảng con, phấn trắng, khăn lau.
- Bảng con màu đen có dòng kẻ li giống trong vở tập viết
- Phấn có độ dài vừa phải và có chất lượng tốt.
- Khăn lau sạch bằng vải bông mềm hoặc mút có độ ướt
vừa phải, dễ cầm tay giúp cho việc xoá bảng vừa đảm bảo vệ
sinh, vừa không ảnh hưởng đến chữ viết.
Bảng con là dụng cụ thực hành tiện lợi và hiệu quả nhất
đối với học sinh. Khi thực hành trên bảng con, tất cả mọi học
sinh đều được làm việc một cách tích cực. Học sinh có thể tự
điều chỉnh chữ viết của mình một cách nhanh chóng (xoá đi
để viết lại) và không để lại ấn tượng về chỗ viết sai hoặc chưa
đúng. Đồng thời, thông qua việc thực hành luyện viết của học
sinh trên bảng con tôi đã nhanh chóng nắm được những
“thông tin phản hồi” trong quá trình dạy học để kịp thời xử
lí, tác động ví dụ như cho học sinh nhận xét bài viết của bạn,
hướng dẫn những học sinh viết sai tự sửa hoặc giáo viên trực
tiếp sửa để các em quan sát và điều chỉnh.
Khi sử dụng bảng con tôi luôn chú ý nhắc nhở học sinh

a. Ngồi viết đúng tư thế.
Học sinh viết đẹp, ngay ngắn thẳng hàng phần lớn là nhờ
ở tư thế ngồi viết. Đây cũng là một yếu tố giúp học sinh
không bị chán khi viết nhiều, viết nhanh.
Vậy làm thế nào để học sinh ngồi viết đúng tư thế? Để
làm tốt công việc này ngay từ những tiết học đầu tiên tôi đã
hướng dẫn cho học sinh quan sát tư thế ngồi viết của cô giáo.
Tôi tiến hành ngồi mẫu cùng chiều, ngược chiều với các em
để tiện cho việc quan sát. Khi ngồi viết phải ngồi ở tư thế
lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, chân để song
song thoải mái, mắt để cách vở 25 - 30cm. Cánh tay trái đặt
trên bàn bên trái vở, bàn tay trái tì vào mép vở giữ cho vở
không xê dịch khi viết. Cánh tay phải cũng đặt trên mặt bàn,
với cánh tay để như vậy, khi viết bàn tay và cánh tay phải có
thể dịch khi viết. Cánh tay phải cũng đặt trên mặt bàn, với
/> />cánh tay để như vậy, khi viết bàn tay và cánh tay phải có thể
dịch chuyển thuận lợi từ trái sang phải dễ dàng. Sau khi đã
quan sát và hình dung được tư thế ngồi viết tôi cho các em
thực hành nhiều lần qua các tiết học có phần tập viết trên
bảng và vở. Tôi luôn dành thời gian sửa tư thế ngồi viết cho
các em. Khi có học sinh nào làm đúng tôi biểu dương và nêu
tên để cả lớp cùng học tập. Nhờ phương pháp nhắc nhở
thường xuyên như vậy tôi đã hình thành cho các em kĩ năng
ngồi viết đúng tư thế.
b. Cách cầm bút đúng.
Muốn viết đúng, viết đẹp và viết nhanh thì cần phải biết
cách cầm bút đúng.
Vậy cầm bút như thế nào là đúng cách?
Cầm bút như đúng là cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón cái,
ngón trỏ và ngón giữa). Ngón cái và ngón trỏ cầm vào thân

điểm đặt bút, dừng bút của các chữ cái, chữ ghi tiếng. Khi
/> />học sinh đã quen dần tôi chỉ chấm điểm đặt bút và yêu cầu
học sinh nhìn kĩ chữ mẫu để viết cho đúng. Sau một thời gian
nữa, giáo viên chỉ hướng dẫn trên chữ mẫu rồi hỏi học sinh
điểm đặt bút, dừng bút, khoảng cách giữa các chữ rồi yêu cầu
học sinh tự viết. Tôi đi quan sát, giúp đỡ những học sinh nào
còn lúng túng. Với những bài phải viết từ, giáo viên hướng
dẫn học sinh đếm ô vuông xác định khoảng cách giữa 2 từ.
Nếu viết đủ 2 từ thì giáo viên cho học sinh viết 2 từ, còn
không đủ thì chỉ viết một từ. Không nên để học sinh viết dở
dang chữ ghi tiếng, từ hoặc viết chòi ra mép vở không có
dòng kẻ li. Khi viết sai chữ, tôi yêu cầu học sinh không được
tẩy xoá mà cần để cách một khoảng ngắn rồi viết lại.
V - DẠY THỰC NGHIỆM.
Ở lớp 1, yêu cầu dậy học tập viết được tiến hành trong cả
bài dạy. Học vần và tiết tập viết. Phần hướng dẫn học sinh tập
viết chữ ghi âm, vần và tiếng từ trong bài dạy học vần được
thực hiện qua 2 bước. Viết bảng con (sau khi học đọc chữ ghi
âm, vần, tiếng, từ mới) và viết trong vở tập viết 1 (sau khi
luyện đọc từ ngữ, câu ứng dụng). Tiết tập viết trong tuần chủ
yếu dành cho học sinh thực hành luyện viết ứng dụng (từ ngữ
đã học trong bài học vần, tô chữ viết hoa, luyện viết củng cố
vần, từ ngữ ứng dụng ở phần luyện tập tổng hợp.
/> />Bài soạn dạy minh họa:
Phần 1: Dạy tập viết trong bài học vần.
Dạy tập viết trong
bài 14 (d, đ) - SGK Tiếng Việt 1, tập 1.
a. Hướng dẫn học sinh viết bảng con: (Sau khi dạy đọc
d, đ, dê, đò).
* Hướng dẫn viết chữ d, đ trên bảng con.

nào đã học?
Giống cách viết
chữ a
Giáo viên tôi chữ - hướng dẫn qui trình
viết.
Học sinh quan sát
Bước 2: Viết mẫu bảng lớp.
Giáo viên vừa viết vừa hướng dẫn cách
viết chữ d:
N
1
: Đặt bút thấp hơn đường kẻ ngang 3
viết nét cong kín (từ phải sang trái).
Học sinh quan sát
N
2
: Từ điểm dừng bút của nét 1, lia bút
lên đường kẻ ngang 5 viết nét móc
ngược (phải) sát nét cong kín, dừng bút
trên đường kẻ ngang 2.
/>


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status