Nghiên cứu thú họ cầy (Viverridae) trong hệ sinh thái rừng tràm ở đồng bằng sông Cửu Long - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
*********
NGHIÊN CỨU THÚ HỌ CẦY (VIVERRIDAE)
TRONG HỆ SINH THÁI RỪNG TRÀM
ở ĐỒNG BẰNG SÔNG c ử u LONG
MÃ SỐ: QT - 07 - 29
CHỦ TRÌ ĐẺ TÀI: ThS. Hoàng Trung Thành
CÁC CÁN Bộ THAM GIA:
- TS. Phạm Trọng Ảnh
- CN Vũ Ngọc Thành
- ThS. Nguyễn Thành Nam
- CN Hoàng Quốc Chính
O A I HOC QUỐC GIA HÀ NỌl Ị
TRƯNG TẨM t h ò n g tin thụ VIén ị
■ .DT L l i ũ
________
ì
HÀ NỘI - 2008
BÁO CÁO TÓM TÁT
a. Tên đề tải: “Nghiên cứu thú họ cầy (Viverridae) trong hệ sinh thái rừng tràm ờ
Đồng bằng sông Cửu Long”
Mã số: QT - 07 - 29
b. Chủ tri đề tài: ThS. Hoàng Trung Thành
c. Các cán bộ tham gia: Phạm Trọng Ảnh, Hoàng Quốc Chính, Vũ Ngọc Thành,
Nguyễn Thành Nam
d. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:
- Mục tiêu: Đánh giá hiện trạng các loài thú họ cầy trong hệ sinh thái rừng tràm ở
đồng bằng sông Cửu Long, làm cơ sở cho công tác bảo tồn các loài động vật hoang dã
trong vùng, đặc biệt đối với các loài quý hiếm.
- Nội dung:

e. Results:
- Identified species composition and status of Viverrids in ecosystem of indigo
forest, Me Kong River Delta.
- Supplemented some records on biology and ecology of viverrids.
- Defined some major threats the biodiversity and Viverrids in research region.
2
MỤC LỤC
BÁO CÁO TÓM TẮT 2
BRIEF OF REPORT 3
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ T À I
4
ĐẶT VẨN ĐÈ 4
I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u
4
1.1. Tình hình nghiên cứu thú họ cầy ở Việt N am 4
1.2. Điều kiện tự nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long 5
1.3. Hệ sinh thái rừng tràm ở Đồng bằng sông Cửu Long

6
1.4. Đa dạng sinh học vùng Đồng bằng sông Cừu Long và các nguyên nhân gây suy
thoái 9
1.5. Khu hệ thú vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 11
II. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 12
2.1. Địa điểm 12
2.2. Thời gian 12
2.3. Phương pháp nghiên cứ u 12
III.KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u 13
3.1. Thành phẩn loài thú Họ cầy ờ Đồng bằng Sông Cửu Long 13
3 .2. Đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài 14
3.3. Một số loài thú quý hiếm khác 21

lý, bảo tồn một cách hiệu quả nguồn tài nguyên này.
I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứ u
1.1. Tinh hình nghiên cứu thú họ cầy ở Việt Nam
Từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, những nghiên cứu một cách có
hệ thống về khu hệ thú, trong đó có các loài thú ăn thịt ờ Việt Nam đã được tiến hành
bởi người nước ngoài. Trong giai đoạn này các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc
thống kê thành phần loài, trong đó có một sổ công ữình có đề cập đến các loài thú ăn
thịt thuộc họ Cầy như nghiên cứu cùa De Pousargues (1904), Ménégaux (1905) (theo
Lê Hiền Hào, 1971), w . H. Osgood (1932), R. Bourret (1942, 1944).
Từ sau năm 1954, việc nghiên cứu về khu hệ thú Việt Nam chủ yếu do các nhà
khoa học Việt Nam như: Đào Văn Tiến, Đặng Huy Huỳnh, Lê Hiền Hào, Cao Văn
Sung, Lê Vũ Khôi, Phạm Trọng Ảnh, Lê Xuân Cảnh, Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng,
Đặng Ngọc Cần, Hoàng Minh Khiên, Đỗ Tước, thực hiện. Các nghiên cứu trong
giai đoạn này tập trung vào các loài thú quan trọng đối với đời sống, sản xuất. Đề cập
đến các loài thú ăn thịt thuộc họ cầy có các nghiên cứu của Lê Hiền Hào (1964, 1970,
1972), Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1975, 1981, 1994), Đào Văn Tiến (1985), Phạm
Trọng Ảnh (1980, 1982, 1993), Nguyễn Xuân Đặng (1992, 1993, 1994),
Cho đến nay đã có một số nghiên cứu có liên quan đến các loài thú ăn thịt thuộc
họ Cầy ở Việt Nam của các tác giả Đặng Huy Huỳnh (1968), Phạm Trọng Ảnh (1980),
Nguyễn Xuân Đặng (1994), Liên quan đến sinh học, sinh thái có các công trinh của
Đào Văn Tiến (1985); Đặng Huy Huỳnh (1968, 1974, 1975); Lê Hiền Hào (1973);
Nguyễn Xuân Đặng (1994); Phạm Trọng Ảnh (1980, 1982, 1993), Solokov và cs.
(1986). v ề phân bố địa lý có các nghiên cứu của Đào Văn Tiến (1985), Phạm Trọng
Ảnh (1982.
Từ những năm 1990 trở về trước, các nhà động vật học Việt Nam thường sừ
đụng hệ thống phân loại của Ellerman and Morrison-Scott (1951), theo đó, hai loài
thuộc giống cầy lỏn (Herpestes) được xếp vào họ cầy.
Hiện nay, theo hệ thống phân loại của Corbet and Hill (1992) là hệ thống phân
loại đang được sử dụng phổ biến, giống cầy lỏn được tách riêng thành họ cầy lỏn
Herpestidae. Như vậy, thú ăn thịt ờ Việt Nam có 6 họ với 39 loài, trong đó họ cầy

ven bờ (Phạm Trọng Ảnh và cs, 2005).
1.3. Hệ sinh thái rừng tràm

Đồng bằng sông Cửu Long
Hệ sinh thái rừng tràm là hệ sinh thái có thảm thực vật chính là cây ưàm
{Melaleuca) tự nhiên có độ tuổi 30 năm trờ lên, thân lớn 30-40 cm được bao bọc bởi
các dây leo như Stenochỉacra palustrus. tầng thấp ưu thế có dóm (Poỉydoirya
appendiculata) tạo thành thảm 1-1,5m rất dày và kín, có thể di lại bên trên được.
Hệ sinh thái rừng tràm là một trong bốn kiểu hệ sinh thái chính và là hệ sinh
thái điền hình có giá trị lớn về sinh thái môi trường và dân sinh ờ Đồng bằng sông Cửu
Long. Trước đây hệ sinh thái này có ưên một vùng rộng lớn và liên hoàn tập trung ở
các tỉnh tây nam ĐBSCL như Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, với diện tích lên tới
1,5 triệu ha vào khoảng những năm 1943 (Phạm Trọng Ảnh và cs, 2004).
Ngoài những giá trị về sinh thái và kinh tế, rừng tràm ở ĐBSCL còn có giá trị
lịch sử lớn lao, đặc biệt là rừng tràm u Minh. Nơi đây là cơ sờ cách mạng quan trọng
trong hai cuộc chiến tranh chổng Pháp và Mỹ. Đây còn là nơi đã phát hiện các di vật
6
khảo cổ còn lưu lại của nền văn hoá Óc Eo, một nền văn hóa cổ ờ Nam Bộ hình thành
và phát triển từ thế kỷ I đến thế kỷ VII.
Trải qua nhiều biến cố lịch sử: do hậu quả tàn phá của chiến tranh, do hoạt động
phá rừng để chuyển sang làm đất canh tác nông nghiệp, diện tích rừng tràm ở khu vực
đã bị suy giảm nhanh chóng. Hậu quà là đến nãm 2001, ĐBSCL chi còn 30.000 ha
rừng tràm, chủ yếu ờ phía tây của các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, trong đó
VQG Ư Minh Thuợng 8.500 ha, KBTTN v ồ Dơi 3.689 ha, Lâm trường Trần Văn
Thời 5.909 ha, Lâm trường u Minh III 6.931 ha, Lâm trường sông Trẹm 3.421 ha,
những khu rừng tràm khác chi còn rải rác 4 - 5 ha. Đặc biệt là diện tích rừng tràm
nguyên sinh còn sót lại rất ít, chỉ khoảng 8.000 ha vào đầu năm 2002. Sau đó vụ cháy
rùng nghiêm trọng vào năm 2002 đã thiêu rụi gần 3.200 ha rừng tràm nguyên sinh ờ
Vườn Quốc gia u Minh Thượng.
Một số khu vực có rừng tràm

Quốc gia Ư Minh Thượng thuộc huyện An Minh và huyện Vĩnh Thuận tinh Kiên
Giang. Đây là khu bảo vệ lớn nhất ở đồng bằng sông Cửu Long với trên 21.000 ha,
bao gồm 8.053 ha vùng lõi và 13.069 ha vùng đệm. Ở phía Bắc của một vùng đầm lầy
than bùn rộng lớn thuộc hai tinh Kiên Giang và Cà Mau, VQG Ư Minh Thượng nằm
trong vùng ngập nước ngọt, bao gồm rừng tràm trưởng thành, trảng cỏ ngập nước theo
mùa và vùng đầm lầy trống; vùng đệm với phần lớn diện tích là ruộng lúa và một vài
khu vục trồng ừàm. Đây là nơi có diện tích rừng đáng kể trên đầm lầy than bùn còn lại
của Việt Nam và là một trong ba vùng ưu tiên bảo tồn đất ngập nước ở đồng bằng sông
Cửu Long với rừng ưu thế là cây tràm Melaleuca (Buckton et al, 2000).
Vườn Quốc gia Tràm Chim. Tọa độ 10°40’ - 10°47’N; 105°26’ - 105°36’E. Vườn
Quốc gia Tràm Chim thuộc tinh Đồng Tháp, là phần còn lại cuối cùng của hệ sinh thái
đất ngập nước Đồng Tháp Mười đã từng một thời chiếm khoảng 700.000 ha thuộc các
tinh Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang. Tổng diện tích hiện nay của vùng 7.588 ha,
các kiểu thàm thực vật bao gồm đồng cỏ ngập nước theo mùa, rừng tràm tái sinh và
các đầm nước trống. Tràm Melaleuca sp. phân bố rộng khắp trong vườn, bao gồm các
khu tràm trồng và tràm mọc rải rác xen lẫn ừong các trảng cỏ và đầm nước (Buckton
et ai, 2000).
Khu B TT N Lảng S e n : Tọa độ 10°45’ - 10°49’N; 105°45’ - 105°49’E. Khu BTTN
Láng Sen thuộc địa phận tinh Long An, là một phần ừong vùng Đồng Tháp Mười nổi
tiếng. Đây là một vùng nhò có rừng tràm trên đầm lầy dọc dòng sông tự nhiên và thật
sự có giá trị về đa dạng sinh học (Buckton et al, 2000; Birdlife, 2004). Toàn bộ khu
vực có diện tích 1.124 ha gồm rừng tràm và các tràng cò ừống. hầu hết rùng tràm là
8
rừng trồng. Rừng tràm bán tự nhiên phân bố thành từng vạt tại các khu đầm lầy cùng
với một số loài khác như Trâm, Cà ná, Phèn đen (Birdlife, 2004).
1.4. Đa dạng sinh học vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các nguyên nhân gây
suy thoái
Tính đến năm 2006, ĐBSCL có 4 Vườn Quốc gia bao gồm Tràm chim, Ư Minh
Thượng, u Minh Hạ, Mũi Cà mau; 7 khu Bảo tồn thiên nhiên: Trà Sư, Núi cấm, Láng
Sen, Thạnh Phú, sân chim Bạc Liêu, Kiên - Hà - Hải, Lung Ngọc Hoàng với tổng diện

của con người như chặt phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Việc chuyển đồi
đất rừng và các trảng cỏ thành đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản cộng với việc
tăng cường sản xuất nông nghiệp đã làm suy giảm rõ rệt phạm vi của các sinh cảnh tự
nhiên và bán tự nhiên trong vùng. Việc phát triển quá mức các ao nuôi trồng thủy sản
ở phía nam vùng đồng bằng sông Cừu Long đã đẩy nhanh tốc độ suy giảm của các khu
rừng ngập mặn vốn có vai trò sống còn trong việc gin giữ tính ổn định sinh thái cùa
các vùng ven biển. Việc phá hủy rừng ngập mặn cũng làm mất đi nơi sinh sản của các
loài thủy sản, phá huỷ môi trường phát triển của cá bột và ấu trùng của nhiều loài thùy
sản có giá trị (Buckton et ai, 2000; Lê Xuân Cảnh et al, 2007).
Hoạt động khai thác quá mức\ Dân số tăng là nhanh đã tạo ra áp lực và thúc đẩy sự
khai thác quá mức tài nguyên và làm suy giảm đa dạng sinh học. Một số phương thức
khai thác có tính hủy diệt như dùng hóa chất, cào điện đang làm suy kiệt nguồn tài
nguyên thủy sản trong vùng. Ngoài ra việc săn bắn, bẫy các loài chim đang diễn ra phổ
biến. Hàng loạt các loài động vật hoang dã khác cũng thường xuyên bị bắt làm thức ăn
hoặc đem bán như ếch, các loại rắn, rùa, các ỉoài cầy, chồn.
Ô nhiễm môi trường: Việc chặt phá rừng ngập mặn đã góp phần làm tăng xói mòn bờ
biển, làm suy giảm chất lượng môi trường đất, diện tích đất hoang hóa tăng cao. Việc
sử dụng các loại phân bón và hóa chất trong nông nghiệp một cách quá mức gây ảnh
hưởng trực tiếp đến môi trường nước trong các khu bảo tồn (Buckton et al, 2000)
Ảnh hưởng cùa các loài di nhập: Những năm gần đây, hiện tượng các loài thực vật di
nhập đã lấn át các loài cây bản địa và phát tán nhanh ở vùng đất ngập nước tại VQG
Tràm Chim. Cây Mai dương Mimosa pigna đã phát triển rất nhanh lấn át các loài cò.
Các loài chim nước lớn không thể kiếm ăn ờ những nơi có loài Mai dương phân bố vì
(hân và cành của chúng có nhiều gai nhọn.
10
Cho đến nay đã có 114 loài thủy sinh vật ngoại lai đựoc di nhập vào Việt Nam. Trong
đó có 17 loài các nước ngọt, 10 loài cá nước lợ, 40 loài cá cảnh, 3 loài tôm nước ngọt,
5 loài tôm và giáp xác biển, 4 loài lưỡng cư, 4 loài thân mềm, 14 loài thực vật phù du
nước ngọt, 15 loài thực vật phù đu nước mặn. Việc di nhập các loài ữên đều có mục
đích khác nhau. Tuy nhiên khi không được quản lý chặt chẽ các loài này sẽ có ảnh

II. ĐỊA ĐIÊM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1. Địa điểm
Địa điểm khảo sát thực địa là Vườn Quốc gia Ư Minh Thượng thuộc tinh Kiên
Giang, là nơi có Hệ sinh thái rừng ứàm điển hinh và có diện tích rừng tràm lớn nhất ở
vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
2.2. Thòi gian
Đã tiến hành 01 đợt khảo sát tù ngày 16/08 đến 27/08/2007.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp điều tra ngoài thực địa: điều tra thực địa được thực hiện tại Vườn
Quốc gia Ư Minh Thượng tinh Kiên Giang là nơi có Hệ sinh thái rừng tràm điển hình
của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Do điều kiện kinh phí của đề tài không cho
phép, số liệu về những vùng khác được tham khảo các nghiên cứu có liên quan.
- Điều ra theo tuyến: các tuyến khảo sát được thiết lập qua tất cả các dạng sinh
cảnh sống trong hệ sinh thái rừng tràm để ghi nhận dấu vết của các loài thú. Do
điều kiện địa hình ngập nước nên các tuyến khảo sát chủ yếu dọc theo các kênh,
hoặc dùng thuyền đi sâu vào rừng tràm.
- Soi đêm: được sử dụng để ghi nhận các loài thú hoạt động về đêm, đặc biệt là
các loài thú ăn thịt thuộc họ cầy Viverridae. Trong quá trình soi đêm chủ yếu là
đi dọc theo các tuyến đường mòn và dọc theo các bờ kênh.
- Phỏng vấn: Phỏng vấn những người dân sống lâu năm, có kinh nghiệm và có
hiểu biết về điều kiện tự nhiên và các loài thú ở địa phương, đặc biệt là các loài
cầy, chồn. Trong quá trinh phỏng vấn có sử dụng các câu hỏi mở và sừ dụng
hỉnh ảnh minh họa. Các thông tin thu được đuợc kiềm tra chéo và đối chiếu với
các kết quả nghiên cứu trước một cách có chọn lọc.
- Đặt bẫy: trong thời gian khảo sát đã tiến hành đặt bẫy lồng có kích thước
1,2x0,5x0,4m. Tuy nhiên do thời gian đặt bẫy không đù dài nên chưa thu được
mẫu vật.
Kết quà nghiên cứu được tổng hợp qua những dẫn liệu thu được từ thực địa kết
hợp với việc đối chiếu, tham khảo các công trình khoa học đã công bố có liên quan
(Osgood, 1932; Van Peenen, 1969; Phạm Trọng Ành, 2000; Phạm Trọng Ảnh và cs,

PV, TL
3.
Cầy giông
Viverra zibetha (Linnaeus, 1758)
IIB
PV, TL
4.
Cầy giông đốm
lớn
Viverra megaspila Blyth, 1862
VU
IIB
Ghi chú:
SĐ 2007: Sách Đỏ Việt Nam 2007 (phần Động vật) VỤ: Vunerable - Sẽ nguy cấp
NĐ 32: Nghị định 32/ 2006/NĐ-CP của Chính phù “Danh mục các loài thực vật rừng,
động vật rừng quý hiếm cần được bảo vệ”
IIB: Nhóm hạn chế sử dụng vì mục đích thương mại
QS - quan sát PV - phỏng vấn TL - tham khảo tài liệu
Trong số các loài cầy đã được ghi nhận ờ đây, có 1 loài trong Sách Đỏ Việt
Nam 2007 là loài cầ y giông đốm lớn Viverra megaspila Blyth, 1862 ờ mức v u
(Vulnerable - có thể bị đe dọa), 3 loài có ừong Danh mục các loài thực vật rừng, động
vật rừng quý hiếm cần được bào vệ của Chính phủ (NĐ32/ 2006/NĐ-CP) là cầ y giông
đốm lớn Viverra megaspila (IIB), Cây giông Viverra zibetha (IIB), cầy hương
Viverricula indica (IIB).
Như vậy hệ sinh thái rừng tràm ở đồng bàng sông Cừu Long có số loài thú họ
cầy Viverridae chiếm 40% tổng sổ loài thú họ cầy Viverridae của Việt Nam (4/10),
thấp hơn so với các vùng khác của cả nước (so với 6 loài ờ vùng núi Tà Đùng (Đặng
Huy Huỳnh và cs, 2000) thuộc Tây Nguyên, 7 loài ở VQG Bạch Mă (Lê Vù Khôi,
2005) thuộc miền Trung, 6 loài ở VQG Ba Bể (Đặng Ngọc cần, 2005) thuộc miền
13

Hào, 1973; Đặng Huy Huỳnh và nnk, 1994), đã phát hiện ở Lào Cai, Sơn La, Tuyên
Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đã nằng, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai,
Đắk Lắk, lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu (Côn Đảo), Tp. Hồ Chí
Minh, Đồng Tháp, Kiên Giang (Phạm Trọng Ảnh, 2000).
Theo điều tra của chúng tôi cũng như theo kết quả điều tra của một số nghiên
cứu tnrớc đó, cầy vòi hương tương đối phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long. Năm
2000, đoàn cán bộ nghiên cứu của Dự án bảo tồn và phát triền cộng đồng ờ Vườn
Quốc gia Ư Minh Thượng tỉnh Kiên Giang đã ghi nhận được loài này ở Biển Bạch, Cà
Mau và gần khu BTTN Ư Minh Thượng, nay là Vườn Quốc gia Ư Minh Thượng
(Nguyen Xuan Dang et al., 2004). Ngoài ra cũng đã có thông tin ghi nhận cầy vòi có ờ
VQG Tràm Chim, VQG u Minh Thượng (Lê Xuân Cảnh và nnk, 2007; Nguyễn Vũ
Khôi, thông tin cá nhân). Trong vùng phân bố ờ Đồng bằng sông Cửu Long, loài này
tương đối dễ gặp ở hệ sinh thái rừng thường xanh và hệ sinh thái rừng tràm. Đã phát
hiện cầy vòi mốc cùng một số loài thú ăn thịt nhỏ ờ Khu BTTN Núi cấm, tinh An
Giang, Kiên Lương, tinh Kiên Giang. Đặc biệt loài cầy vòi rất dễ gặp ờ Vườn Quốc
gia Phú Quốc, ban đêm đi xe máy cũng có thể gặp ờ trên đường (Nguyễn Vũ Khôi,
thông tin cá nhân).
Nơi sống
Cầy vòi hương sống ở những nơi có rừng, thường ờ rừng già, rừng núi đất lẫn
đá, rừng tre nứa xen lẫn cây gỗ, rừng thứ sinh, cũng có thể thích nghi tốt đề sống gần
con người (Lê Hiền Hào, 1973; Đặng Huy Huỳnh và nnk, 1975, Nguyễn Xuân Đặng,
2000). Trong hệ sinh thái rừng tràm ở ĐBSCL, theo người dân địa phương, thường
phát hiện Cầy vòi hương ở quanh các đê bao gần nhà dân và vườn bãi hoa màu, đặc
biệt gần những vườn cây ăn quà.
15
Thức ăn
Trong tự nhiên, thức ăn cùa cầy vòi hương chù yếu là thực vật, gồm các loại
quả như sung, vả, đa, ngái (Ficus), cọ (Livistoma), gấm (GnetumX nhội (Bischofia),
chuối, Chúng thường ăn quả chín, nhằn vỏ, nuốt hạt và thải hạt theo phân ra ngoài

Huy Huỳnh và cs, 1994; Đào Văn Tiến, 1985; Phạm Trọng Anh, 1982, 2000).
Ở khu vực đồng bằng sông Cừu Long đã ghi nhận có cầy hương ờ Vườn Quốc
gia Ư Minh Thượng và Vườn Quốc gia u Minh Hạ, Khu BTTN Kiên - Hà - Hải và có
thông tin về phân bố của cầy hương ở VQG Mũi Cà Mau (Lê Xuân Cảnh cà cs, 2007)
Đặc biệt cầy hương rất phổ biến ở VQG Ư Minh Thượng (CARE, 2004). Theo thông
tin chúng tôi thu thập được thì thinh thoàng người dân ờ đây vẫn bẫy bắt được cầy
hương đem bán. Trong tháng 7/2007 một người dân ở kênh số 2 đã dùng bẫy bắt được
02 cầy hương.
Cầy hương sống ở rừng cây bụi và vùng bìa rừng, tĩảng cây bụi, nương bãi,
đồng ruộng ở miền núi và trung du. Ngoài ra cầy hương cũng hay sống gần những khu
dân cư và ven các làng mạc (Lê Hiền Hào, 1973; Đặng Huy Huỳnh và nnk, 1975;
Phạm Trọng Ảnh, 2000).
ở Đồng bằng sông Cừu Long đã phát hiện cầy hương có ở rừng tràm, đê bao
và vườn ờ gần nhà dân (CARE, 2004). Trong đợt khảo sát của chúng tôi có ghi nhận
thông tin Cầy hương hay xuất hiện ờ vùng giáp ranh giữa Hệ sinh thái rừng tràm và
khu dân cư.
Cầy hương là loài thú ăn động vật, thành phần thức ăn gồm có giun đất, sâu đất,
rẳn giun, rết, gián, đế, ếch nhái, chuột, gia cầm và nhiều loài côn trùng khác nhau.
Nơi sống
Thức ăn
^ HOC QUOC GIA HÀ NÔI
<UNG TÂM THÒNG TIM TH'J VIÊN
TĨ7
Ngoài ra cầy hương còn ăn một số quả cây và cỏ (Đặng Huy Huỳnh và cs, 1975;
Phạm Trọng Ảnh, 2000; Nguyễn Xuân Đặng, 2000).
Ở khu vực nghiên cứu chúng tôi chưa thu được mẫu thức ăn của cầy hương.
Tuy nhiên theo nhiều người dân ờ đây thì khả năng loài này hay bẳt chuột và ăn cả quả
cây trồng.
Cầy giông Viverra úbetha (Linnaeus, 1758)
Đặc điểm nhận dạng

rừng ứên đồi núi đất, núi đất lẫn đá, thung lũng và lưu vực sông ờ các địa phương
miền núi và trung du. Ngoài ra cũng thường xuyên gặp cầy giông ở các ưảng cỏ cây
bụi ven rừng, quanh nương rẫy, đồng mộng và cả ở gần bản làng (Lê Hiền Hào, 1973;
Đặng Huy Huỳnh và cs, 1975; Phạm Trọng Ảnh, 2000; Boonsong Lekagul, 1977).
Ngoài các hệ sinh thái kể trên, cầy giông cũng đã thích nghi được với hệ sinh thái rừng
tràm là một kiểu hệ sinh thái đất ngập nước ở đồng bằng sông Cừu Long.
Thức ăn
Cầy giông là loài thú ăn tạp, nhưng phần lớn thức ăn là động vật, hoặc gần như
hàn toàn là động vật. Thức ăn chủ yếu của chúng là chuột, ếch nhái, côn trùng, giun
đất, ngoài ra có thể ăn cả cua, cá, rắn, ốc. ở một số địa phương cầy giông còn bẳt cả
gà, vịt nuôi, nhưng không phải là hiện tượng phổ biến (Lê Hiền Hào; 1973; Đặnh Huy
Huỳnh và cs, 1975, Nguyễn Xuân Đặng, 2000). Đôi khi cũng phát hiện ừong thức ăn
cùa cầy giông có cả thực vật, nhưng với khối lượng không đáng kể. Đó là một vài loại
quả như Vả, sung, đa (Ficus), Bứa, dọc (Garcinia), gắm (Gnetum), nhội và lá cò non
(Lê Hiền Hào, 1973).
19
Trong hệ sinh thái rừng tràm và ở đồng bằng sông Cừu Long, ngoài các loại
thức ăn kể trên có thể cầy giông còn ăn cả các loại quả cây trồng cùa người dân quanh
vùng đệm, đặc biệt là đến mùa ngập nước sâu.
Cầy giông đốm lớn Viverra megaspila Blyth, 1862
Đặc điểm nhận dạng
Cầy giông đốm lớn có hình dạng, kích thước giống với loài cầy giông thường.
Những đặc điểm khác là ờ phần lưng và đùi có nhiều đốm đen lớn. Bờm lông đen dài
chạy từ cổ dọc theo sống lưng tới mút đuôi, vì vậy các khoanh đen trắng bị khuyết ở
phía trên không tạo thành vòng tròn kín. Nửa sau đuôi có màu đen. c ầy giông đốm lớn
có ừọng lượng 8 - 10 kg (Phạm Trọng Ảnh, 2000; Boonsong Lekagul, 1977, Nguyễn
Xuân Đặng, 2000).
Phân bổ
Trên thế giới, cầy giông đốm lớn phân bố ờ Nam Trung Quốc, Ẩn Độ,
Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Việt Nam (Đặng Huy Huỳnh và cs,

N09036’52,6” ; E105005’48,4” . Tìm hiểu qua một số người dân và qua khảo sát cho
thấy Rái cá vuốt bé tương đối phổ biến trong khu vực và có số lượng cá thể cao, mỗi
đàn có 10 - 20 cá thể.
Rái cá lông mũi - Lutra sumatrana (Gray, 1865): được xếp trong Sách Đỏ Việt Nam
2007 ờ mức EN (Endangered - nguy cấp) và NĐ32/2006/NĐ-CP ở nhóm IB.
Rái cá lông mũi là một trong số những loài thú quý hiếm trên thế giới, hiện nay
chi có Thái Lan và Việt Nam có bằng chứng trực tiếp về sự xuất hiện của loài này
(CARE, 2004). Cho đến thời điểm trước năm 2000, Rái cá lông mũi đuợc cho là tuyệt
chủng ờ Việt Nam. Tháng 3-2000, đoàn cán bộ nghiên cứu của dự án CARE đã ghi
nhận và thu được ảnh của loài này ờ Vườn Quốc gia u Minh Thượng, tinh Kiên
Giang. Đây là nơi đầu tiên phát hiện lại rái cá lông mũi ở Việt Nam (CARE, 2004). số
lượng cá thể ít hơn Rái cá vuốt bé, mồi đàn chi có từ 3 - 5 cá thể.
Mèo cá - Prỉonailurus viverrinus Bennett, 1833: Sách Đỏ Việt Nam 2007 xếp ờ mức
EN (Endangered - nguy cấp) và NĐ32/2006/NĐ-CP ở nhóm IB.
21
Đây là loài thú rất hiếm trong toàn quốc, từ trước đến nay mới chi một vài lần
ghi nhận được ờ Tây Ninh (Osgood, 1932), Khánh Hòa, TP. Hồ Chí Minh (Đặng Huy
Huỳnh và cs, 1994; Van Peenen, 1969), Cao Bằng, Kiên Giang (Phạm Trọng Ảnh,
2000). Tuy nhiên loài này lại rất phổ biến ờ VQG u Minh Thượng. Năm 2000 dự án
CARE đã thu được một số hình ảnh và mẫu vật của loài này (CARE, 2004). Trong đợt
khảo sát tháng 8/2007 đã ghi nhận dấu vết của Mèo cá ở nhà dân gần kênh số 8
(N09°38’33,9” , E 105°6’20,5” ), trong tháng 4/2007 máy ủi trong khi làm việc đã đè
chết 01 mèo cá còn non ở khu vực này. 10/8/2007 một người dân ờ kênh số 1 đã bẫy
được 02 mèo cá. Như vậy chứng tỏ Mèo cá rất phổ biến ờ VQG Ư Minh Thượng và
hiện đây là quần thể lớn nhất của loài này được ghi nhận ờ Việt Nam.
3.4. Nguyên nhân suy thoái và các giải pháp bảo tồn
Hiện nay mối đe dọa chủ yếu đối với đa dạng sinh học ờ hệ sinh thái rừng tràm
ở đồng bằng sông Cửu Long là cháy rừng, suy giảm chất lượng nơi sống, săn bắn.
Trong khi cháy rừng là một đặc điểm tự nhiên của rừng tràm và xảy ra định kỳ
hàng năm thì việc quản lý, kiểm soát chế độ thủy văn không phù hợp đã để mức nước

nhanh chóng nắm bắt được thong tin về săn bắt và buôn bán động vật hoang dã trong
khu vực.
Ngoài ra đối với những khu vực có tính đa dạng sinh học cao và thu hút được
nhiều sự quan tâm như VQG u Minh Thượng còn phải đối mặt với một mối đe dọa
khác đén từ hoạt động du lịch. Ngoài việc phát triển cơ sờ hạ tầng dành cho du lịch
(Phạm Trọng Ảnh và cs, 2005; Lê Xuân Cảnh và cs, 2007), hoạt động của khách du
lịch cũng ảnh hường đến đa dạng sinh học của VQG. Hiện nay ngoài du khách đến
tham quan còn có một số khách đến câu cá trong vùng lõi. Khi số khách này tăng lên,
nếu không có biện pháp quản lý chặt chẽ có thể dẫn đến khai thác quá mức làm giảm
sút sự đa dạng các loài cá trong vùng, đặc biệt lượng rác thải phát sinh từ hoạt động du
lịch có thể gây ô nhiễm môi trường sống trong khu vực.
IV. KÉT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
* •
.1. Cho đến nay đã ghi nhận được trong Hệ sinh thái rừng tràm ờ đồng bằng sông
Cửu Long có 4 loài thú thuộc họ cầy: cầy vòi hương Paradoxnrus
hermaphroditus, cầy hương Viverricula indica, cầy giông Viverra zibeiha,
Cầy giông đốm lớn Viverra megaspila, trong đó 1 loài có trong SĐVN 2007, 3
loài có trong NĐ32/2006 của Chính phủ.
2. Ngoài các loài cầy, trong HST rừng tràm ở ĐBSCL còn là nơi sống của một số
loài thú cực kỳ quý hiếm trên toàn quốc như Rái cá vuốt bé Aeonyx cinerea, Rái
cá lông mũi Lutra sumatrana, Mèo cá Prionaiỉurus viverrmus
3. Đã bồ sung thông tin một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài cầy VÒI mướp
Paradoxurus hermaphroditus, cầy giông đốm lớn Viverra megaspila so VỚI các
nghiên cứu trước.
4. Hiện nay các loài động thưc vật hoang dã nói chung và thú họ cẩy Viverridae ở
hệ sinh thái rừng tràm nói riêng đang bị đe dọa suy giàm bời một số nguyên
23
nhân, trong đó chù yếu là cháy rừng, săn bắt và hoạt động du lịch, cần có biện
pháp kiểm soát và quản lý chặt chẽ các vấn đề này .
KIẾN NGHỊ

và đề xuất ở Việt Nam. Tập 2, miền Nam Việt Nam
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status