Nghiên cứu sự phân bố, hoạt động và vai trò của một số nhóm vi sinh vật tham gia vào các chu trình chuyển hóa vật chất của hệ sinh thái nước Hồ Tây - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
NGHIÊN CỨU Sự PHÂN B ố, HOẠT ĐỘNG VÀ VAI
TRÒ CỦA MỘT SỐ NHÓM VI SINH VẬT THAM GIA
VÀO CÁC CHƯ TRÌNH CHUYỂN HOÁ v ậ t CHÂT
CỦA HỆ SINH THÁI NƯỚC H ổ TÂY
Mã số: QT. 02. 25
Chủ trì đề tài: Ths. Phạm Thị Mai
Cán bộ phối hợp: CN. Trần Tuyết Thu
Ths. Nguyễn Kiều Băng Tâm
đ a i h o c Q u o ” S i,, HA ~ o i '
TRUNG TAM rHÔN(r N V J I V - r\’
DT / 3 0 6 " '
HÀ NỘI - 20ơr
t C \ L l
BÁO CÁO TÓM TẮT
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU S ự PHÂN B ố , HOẠT ĐỘNG VÀ VAI TRÒ CỦA MỘT s ố
NHÓM VI SINH VẬT THAM GIA VÀO CÁC CHU TRÌNH CHUYỂN
HOÁ VẬT CHẤT CỦA HỆ SINH THÁI NƯỚC H ổ TÂY
Mã số: QT.02. 25
Chủ trì đề tài: Ths. Phạm Thị Mai
Cán bộ phối hợp: CN. Trần Tuyết Thu
Ths. Nguyễn Kiều Bâng Tâm
I. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Hồ Tây là một hệ sinh thái đất ngập nước lớn nhất và có tính đa dạng sinh học
cao của khu vực đồng bằng Bắc bộ.
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội thì hệ sinh thái
hồ cũng đang ngày càng bị biến đổi. Hồ Tây đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của
nhiều tác giả nhưng những nghiên cứu về các nhóm vi sinh vật tham gia phân huỷ vát
chất trong hồ còn rất ít. Trong đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu sự phân bố

V. TÌNH HÌNH KINH PHÍ ĐỂ TÀI: 8.000.000Đ (TÁM TRIỆU ĐỔNG CHẴN)
Đã chi theo dự toán và đã quyết toán xong với Phòng Tài vụ của Trường đại học
Khoa học Tự nhiên.
nhiễm.
CHỦ TRÌ ĐỂ TÀI
(Ký và ghi rõ họ tên)
Tỉ ilátiu
J J
;^ V H Ó HIỆU ĨHUÉMSPHAM THI MAI
ịịf] TRƯỜNG
I ' k h c a
V HKiÊriị iSvlflw
ABSTRACT
Title:
THE DISTRIBUTION,ACTYVITY AND ROLE OF SOME
MICROORGANISM GROUP IN MATERIALS CYCLES IN WEST LAKE.
Code: QT. 02. 25
Team leader: MSc. Pham Thi Mai
Menber: MSc. Nguyen Kieu Bang Tam
BSc. Tran Thi Tuyet Thu
1. Object
Hotay, were the most typically greater and fresh water lake belonged to the delta of
North Vietnam. They had a great value aspect. However, in recent years their water
quality were gradually decreased day by day,
Microoganism was a living too small to be seen orgnism, but they have a important
role in metabolic cycle of the nature. They decomposed organic compouds. lo C 02,
H20 in preferable conditions. In this subject we reseach in to the disribution and role of
some microorganism in materials cycles.
2. Contens
- Indicates of balneology and liquefy,

1.1. Giới thiệu chung về hồ Tây

2
1.1.1.Vị trí địa lý và đặc điểm của hồ Tây

2
1.1.2. Điều kiện khí hậu thủy văn 2
1.1.3. đặc điểm hệ sinh thái hồ táy
3
1.1.4. Điều kiện kinh tê xã hội 3
1.1.4.1. Dán số và phán bố dân cư 3
ỉ. 1.4.2. Cơ sỏ hạ tầng 4
1.2. Vai trò của vi sinh vật trong các quá trình chuyển hoá vật chất 6
1.2.1. Quá trình amôn ho á 6
1.2.2. Quá trình phản nitrat hoá 7
1.2.3.Quá trình phân hủy xenluloza 8
1.2.4. Quá trình sulphat hoá 9
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 11
2.1. Đỏi tượng nghiên cứu: 11
2.2. Phương pháp nghiên cứu : 11
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u 13
3.1. Kết quả phân tích một sô chỉ tiêu thuỷ lí, thuỷ hoá 13
3.2. Sự phân bỏ của nhóm vi sinh vật amôn hoá 14
3.3. Sự phân bô của nhóm vi sinh vật phản nitrat hoá

15
3.4. Sự phân bô của nhóm vi sinh vật phân huỷ xenluloza

16
3.5. Sự phân bỏ của nhóm vi sinh vật phân huỷ phốt pho và lưu hu ỳnh

2001) với chiều dài gần 3 km, chiều rộng đã bị thu hẹp lại từ 3 m đến 20 m (so với
1960), độ sâu trung bình 2 m, nơi sâu nhất đạt từ 2 - 3 m. Trước kia hổ vốn là một đoạn
sông tàn của sông Hồng.
1.1.2. Điều kiện khí hậu thủy văn.
Hồ Tây nằm trong khu vực Hà Nội có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm. Mùa
hè nóng ẩm và mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, hướng gió thịnh hành nhất là hướng
gió Đông Nam, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ cao nhất. Khu vực này thường có gió
bão vào đầu mùa hè. Mùa đông khô lạnh và ít mưa, hướng gió thịnh hành là Đông Bắc,
tháng 1 có nhiệt độ trung binh thấp nhất, tháng 4 và tháng 10 được coi là 2 tháng
chuyển tiếp tạo cho hồ Tây có 4 mùa phong phú. Mặt khác, hồ Tây nằm trong khu vực
gần xích đạo nên có lượng bức xạ mặt trời dồi dào, tổng lượng bức xạ trung bình từ
111,5 Kcal/cm2 đến 122,8 Kcal/cm2. Nhiệt độ trung bình của nước trong khoảng từ
10
°c đến 30°c.
Vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) tổng lượng mưa chiếm 85% lượng mưa cả
năm (lượng mưa trung bình năm là 1870 mm), mưa lớn nhất vào tháng 7 và thường có
bão lớn, 16 ngày đến 18 ngày mưa với lượng trung bình 300 mm -> 350 mm. Hồ Tây
là nơi chứa đựng lượng nước mưa giúp cho việc thoát nước của cả khu vực xung quanh,
nhưng chính lượng mưa chảy tràn này kéo theo rất nhiều chất ô nhiễm đậc biệt là nước
chảy qua các vùng trổng cây còn mang theo dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật và phân
bón đổ xuống hồ. Ngoài ra hồ là nơi chứa và xử lý một phần nước thải bằng cơ chế tự
làm sạch.
2
1.1.3. đặc điểm hệ sinh thái
Qua kết quả nghiên cứu điều tra năm 1997 của Khoa Sinh học - Trường Đại học
Khoa học Tự Nhiên thì quanh vùng hồ Tây có tính đa dạng sinh học khá cao.
- Thực vật\ Gồm có 214 loài cây cho bóng mát, hoa và cây cảnh, thuộc 97 chi
của 50 họ nằm trong 4 ngành thực vật.
- Thực vật phù du: Ở hồ Tây đã xác định được 106 loại thuộc 6 ngành tảo và
ngành vi khuẩn lam vào mùa mưa, trong đó ngành tảo lục chiếm đại đa số (58 loài), rồi

1.1.4.2. Cơ sỏ hạ tầng
- Khu vực Đông Nam hổ thuộc phường Trúc Bạch và một phần phường Quán
Thánh quận Ba Đình. Khu vực này có hạ tầng kỹ thuật tương đối hoàn thiện. Phần lớn
hệ thống cống thoát nước được xây dựng từ thời Pháp và thông qua hệ thống cống
chính, sau đó đổ vào hồ Trúc Bạch qua cống Nguyễn Trường Tộ và cống Phạm Hồng
Thái. Nhìn chung hệ thống cống do xây dựng từ lâu, lại ít được nâng cấp nên khả nãng
tiêu thoát nước kém, vào mùa mưa cống thường xuyên bị tắc gây nên tình trạng úng
ngập cục bộ.
- Khu vực phía Tây Nam thuộc phường Thụy Khê và phường Bưởi: Hệ thống cơ
sở hạ tầng như điện, nước, thoát nước đã có nhưng chưa đồng bộ. Riêng khu vực Thụy
Khê, cống thoát nước và cấp nước sạch chưa đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân, các
cống nhỏ và tiêu thoát nước kém. Cống Tàu Bay, mương Đõ là cống thoát nước lớn
nhất trong khu vực.
- Khu vực Bưởi đang trong quá trình đô thị hóa, hệ thống thoát nước chưa đồng
bộ, không thông thoát thường xuyên nên luôn xảy ra ngập úng cục bộ vào những ngày
mưa, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân trong khu vực. Trong khu vực này có
cống Trích Sài là lớn nhất. Các hệ thống cống rãnh thuộc hai phường Bưởi và Thụy
Khê được thiết kế một phần chảy ra hồ Tây và một phần chảy ra sông Tồ Lịch.
- Khu vực phía Tây Bắc của hồ Tây bao gồm địa phận phường xuân La, Nhật
Tân. Đây là khu vực mới được nâng cấp thành phường nên so với các khu vực khác
quanh hổ thì hệ thống đường xá và thoát nước chưa hoàn thiện. Ngoài hệ thống trong
phường vẫn chưa đáp ứng được xu thế phát triển chung.
- Cống Xuân La là cống xả lớn nhất của hồ Tây nên mỗi khi mưa to, hổ nhiều
nước thì Xuân la trở thành túi nước thải của hổ. Hầu hết các hộ gia đinh sống cạnh hồ
cũng xả thải trực tiếp xuống hổ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi
trường chung khu vực.
4
- Khu vực phía Đông của hồ Tây thuộc địa phận phường Quảng An. Khu vực
này có địa thế cao, thoáng gió. Từ lâu khu vực này đã được đầu tư mạnh mẽ, trở thành
trung tâm vui chơi giải trí của người dân Hà Nội (nhà nghỉ Quảng Bá, khách sạn Thắng

trường chung khu vực.
- Khu vực phía Đông của hồ Tây thuộc địa phận phường Quảng An. Khu vực
này có địa thế cao, thoáng gió. Từ lâu khu vực này đã được đầu tư mạnh mẽ, trở thành
trung tâm vui chơi giải trí của người dân Hà Nội (nhà nghỉ Quảng Bá, khách sạn Thắng
Lợi). So với các khu vực khác thì nơi đây tập trung đầy đủ các điều kiền về cơ sở hạ
tầng như giao thông, công trình, điện nước, bể bơi, nhà văn hóa
Theo thống kê năm 1998, hồ Tây có 22 cống thải lớn nhỏ với đường kính miệng
cống từ 0,3m đến 3,5 m và cống thoát nước Xuân La. Hiện các cống này vẫn tồn tại và
hoạt động ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào khẩu độ và sự thông thoáng của cống.
1.2. Vai trò của vi sinh vật trong các quá trình chuyển hoá vật chất.
Trong các hệ sinh thái, vật chất luồn luôn biến đổi từ dạng này sang dạng khác
thông qua các xích thức ãn. Trong quá trình biến đổi đó, các nhóm vi sinh vật luôn
luôn có vai trò quan trọng. Chúng có thể tham gia vào các hình thức sau:
- Vô cơ hoá các chất hữu cơ. Các chất hữu cơ có cấu trúc phức tạp, bị nghiền vụn
trong cơ quan tiêu hoá của sinh vật tiêu thụ, một phần bị đào thải dưới dạng bài
tiết. Chất này cùng với xác chết của sinh vật bị phân huỷ bởi nhiều công đoạn
đo các nhóm vi sinh vật thực hiện. Do vậy các hợp chất như Protit, lipit,
xenluloza có cấu trúc phức tạp bị phân huỷ, chuyển hoá thành các hợp chất
đơn giản và cuối cùng đến các dạng muối khoáng cùng các sản phẩm khác như
CH4, H2S, C 02, H20 Các muối khoáng tạo ra sẽ được thực vật sử đụng một
phần cho quá trình sống. Nhờ quá trình này mà các thuỷ vực bị ô nhiễm chất
hữu cơ sẽ có khả năng tự làm sạch.
- Chuyển hoá các chất vô cơ từ dạng này sang dạng khác. Các hợp chất vô cơ có
trong nước thải chảy vào hoặc được tạo ra ngay tại các thuỷ vực, cũng được các
nhóm vi sinh vật chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác. Quá trình này có tác
dụng khép kín vòng tuần hoàn vật chất, chuyển hoá, phân huỷ các chất vô cơ
độc sang dạng ít hoặc không độc. Nhờ quá trình này sẽ làm giảm nồng độ các
chất mà những chất này nếu có nồng độ cao sẽ gây ô nhiễm cho thuỷ vực.
1.2.1. Quá trình amôn hoá:
Với tư cách là hợp phần của protein, nitơ là một trong những nguyên tố quan

ra cả trong điểu kiện hiếu khí lẫn kỵ khí nhưng đặc biệt mạnh trong điều kiện thiếu
Trong môi trường yếm khí, với sự có mặt của chất cho hydro hữu cơ, xảy ra quá
trình gọi là sự phản nitrat hoá, nghĩa là xảy ra sự khử dị hoá nitrat qua nitrit thành nitơ
oxit (NO, N20 ) và Nitơ phân tử. Khả năng này có ở nhiều vi khuẩn kỵ khí không bắt
7
buộc. Nhờ quá trình này sẽ làm giảm hợp chất đạmdạng nitrat trong thuỷ vực, đồng
nghĩa với viộc giảm độ phú dưỡng cho thuỷ vực do tạo thành nitơ phân tử thoát vào khí
quyển. Mặt khác chuyển nitrit thành nitơ phân tử sẽ làm cho nước không độc.
Các vi sinh vât có khả năng phản nitrat hoá, thực tế có thể phát hiện đuợc ở
mọi thuỷ vực. Bởi vì đó là những cơ thể kỵ khí không bắt buộc cho nên chúng tổn tại
cả trong thuỷ vực giàu oxy và tại đây chúng hô hấp bằng oxy chỉ khi nào thiếu oxy thì
hệ enzym mới chyển sang sự hô hấp nitrat.
1.2.3.Quá trình phân hủy xenlulotâ
Xenluloza là phần cấu tạo cơ bản của tế bào thực vật. Việc tổng xenluloza có
quy mô vượt quá quy mồ của việc tổng hợp các chất thiên nhiên khác. Vì vậy các sinh
vật phân giải xenluloza có vai trò đặc biệt quan trọng trong vòng tuần hoàn cacbon.
Chúng thực hiện cả trong điều kiện kỵ khí lẫn hiếu khí. Hơn nữa sự phân giải xenluloza
được thực hiện trong cả môi trường kiềm hay axit, độ ẩm cao hay thấp và cả ở các nhiệt
độ khác nhau. Tất cả vi sinh vật tham gia vào việc vô cơ hoá xenluloza đều thuộc loại
dị dưỡng hoá năng hữu cơ. Chúng hình thành men xenlulaza xúc tác việc phân giải
xenluloza tự nhiên thành glucoza. Xenluloza là chất cơ bản của đa số thực vật, đăc biệt
có nhiều trong các thuỷ vực nội địa, có ở phần lắng đọng trong các đầm ao hồ.
Xenluloza là cơ chất không hoà tan, khó phân giải. Bởi vậy vi sinh vật phân
huỷ xenluloza phải có hệ enzymgoi là hệ enzym xenluloza bao gồm các enzym khác
nhau:
- Enzym Q có tác dụng cắt đứt liên kết hydro, biến dạng xenluloza tự nhiên có
cấu hình không gian thành dạng xenluloza vô định hình, enzym này gọi là
Xenlobio hydrolaza.
- Enzym thứ hai gọi là Endo - gluconaza có khả năng cắt đứt liên kết [3- 1,4 bên
trong phân tử tạo thành nhiều chuỗi dài.

1.2.4. Quá trình sulphat hoá
Trong cơ thể sinh vật, lưu huỳnh nằm trong thành phần của một số axit amin và
nhiều loại enzym quan trọng. Khi xác các sinh vật rơi vào thuỷ vực sẽ bị một số nhóm
vi sinh vật phân huỷ tạo thành H2S. Đây là một chất độc đối với các sinh vật, gây ô
nhiễm môi trường. Sau đó H2S sẽ bị oxy hoá bằng con đường hoá học hoặc nhờ mót số
vi sinh vật tạo thành S042'. Quá trình này có ý nghĩa lớn đối với các thuỷ vực, nhất là
9
các thủy vực có chứa nước thải sinh hoạt. Nhờ quá trình này mà môi trường nước được
giải độc, nhất là các tầng đáy của thuỷ vực.
Trong việc làm thối rữa protein, bên cạnh amoniac còn có một lượng nhỏ
sunphua hydro (H2S) giải phóng, nguồn gốc từ axit amin chứa lưu huỳnh như xystin
(hoặc xystein) và metionin. H2S là chất khí không bên trong môi trường thoáng, khí và
bị oxy hoá bằng con đường hoá học hoặc nhờ một số vi khuẩn và nấm.
2H2S + 0 2 -> & + 2 H20 + 80 Kcal
S2 + 3 02 + 2 H20 -> 2H2S04 + 240Kcal
Sự oxy hoá nhờ vi sinh vật diễn ra qua nhiều sản phẩm trung gian rồi tới sulphat
là chất cuối cùng bền vững của sự khoáng hoá các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh và
đối với thực vật là nguồn thức ăn quan trọng nhất. Vi khuẩn thuộc giống Thiobacillus,
vi khuẩn lưu huỳnh dạng sợi thuộc giống Beggiatoa và Thiothrix. Ngoài ra các hợp
chất lưu huỳnh khử cũng được oxy hoá nhờ vi khuẩn mầu lục hoặc vi khuẩn lưu huỳnh
màu tía quang tự dưỡng để tạo thành lưu huỳnh hoặc sulphát nhằm thu nhận hydro cho
quá trình khử C 02.
10
CHƯƠNG n
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Trong khuôn khổ báo cáo này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là hệ sinh
thái nước hổ Tây. Những vấn đề cụ thể được xem xét là:
- Chất lượng nước hổ Tây thông qua một số chỉ tiêu li, hoá học
- Nhóm vi sinh vật tham gia quá trình amôn hoá

chỉ tiêu thuỷ lí tại các điểm lấy mẫu được thể hiện trong bảng 1
Bảngl: Kết quả phân tích một số chỉ tiêu thuỷ lí của Hồ Tây:
Mẫu số
Nhiệt độ (°C)
DO (mg/1)
pH
ss (mg/1)
NaCl (%)
1
21,5
1,4 7,3 44
0,03
2
22,2
3,6
7,6
31 0,02
3
21,4
4,2
7,7
39 0,02
4
20,9
7,9
7,9 24
0,04
5
21,2
1,9

BOD đạt tiêu chuẩn cho phép. Chất lượng nước hồ Tây nhìn chung được xếp vào loại ô
nhiễm nhẹ. Ở một số khu vực cống thải, như cống Tầu Bay (vị trí số 1), cống cây Si (vị
trí số 5), nước có mầu xám đen mùi hôi thể hiện mức độ ô nhiễm cục bộ.
3.2. Sự phân bố của nhóm sinh vật amôn hoá.
Nước thải sinh hoạt đổ vào hồ thường có hàm lượng Protein, Urea và acid Uric
cao. Quá trình Amon hoá các hợp chất trên của vi sinh vật đóng vai trò quan trọng
trong sự khoáng hoá chất hữu cơ giảm thiểu ô nhiễm chất hữu cơ chứa Nitơ cho thuỷ
vực. Kết quả của quá trình này một phần thành NH3 bay lên khỏi thuỷ vực, phần khác
sẽ hình thành muối Amôn hoặc NH4OH là những hợp chất tan trong nước, thực vật
thuỷ sinh có thể hấp thụ dễ dàng. Phần còn lại sẽ tạo thành NO3 do hoạt động của
nhóm vi sinh vật NO3' hoá. Hàm lượng NO3' trong nớc cao sẽ gây ô nhiễm NCV đối với
các thực vật thuỷ sinh và gây ra hiện tượng phú dưỡng. Dấu hiệu của sự có mặt các
nhóm amôn hoá làm môi trường bị đục, giấy quỳ chuyển sang màu xanh. Số lượng vi
sinh vật amôn hoá tại các điểm lấy mẫu khác nhau được trình bầy trong bảng 2.
Bảng 3: Số lượng vi sinh vật tham gia quá trình amôn hoá.
Mẫu
Mùa
Sô lượng vi sinh vật (*104CFU/lml)
1
2
3
4
5
Xuân

Tầng mặt
17,00 2,20
0,38
0,21
1,10

do yếu tố nhiệt độ đã thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật.
3.3. Sự phân bô của nhóm vi sinh vật phản nỉtrat:
Phản nitrat là quá trình vi sinh vật chuyển hoá nitrat thành khí nitơ bay lên. Kết
quả của quá trình này là hàm lượng nitrat giảm xuống, ngăn chặn nguy cơ phú dưỡng
của thuỷ vực. Dấu hiệu sự có mặt của nhóm vi sinh vật phản nitrat làm môi trường bị
đục và tạo thành bọt khí sau khi nuôi cấy ở nhiệt độ 30°c trong năm ngày. Quá trình
này có thể xảy ra trong điều kiện hiếu khí và kị khí, nhưng nó xảy ra đặc biệt mạnh mẽ
trong điệu kiện thiếu oxy. Sự phân bố của nhóm vi sinh vật phản nitrat hoá thể hiện
trong bảng 4.
Bảng 4: sỏ lượng nhóm vi sinh vật tham gia quá trình phản nitrat.
Mâu
Mùa
Số lượng vi sinh vật (*104CFU/lml)
1
2
3 4
5
Xuân hè
Tầng mặt
13.50 2.50 0.32 0.17
1.70
Tầng đáy
14.00 3.00 0.32 0.17
1.50
Thu đông
Tầng mặt
8,55 2,25 0,25 0,30
1,55
Tầng đáy
10,55 2,50 0,25

Số lượng vi sinh vật (*104CFƯ/lml)
1
2 3
4
5
Xuân

Tầng mật 3,2
1,7 0,8
1,0 1,7
Tầng đáy
1,3
1,0
0,0
0,5 1,2
Thu
đông
Tầng mặt 2,7
1,2
0,7
0,8
1,5
Tầng đáy
2,0
1,0 0,0 0,0
1,2
Bảng 6: Số lượng vi sinh vật tham gia quá trình phân huỷ xenluloza kị khí.
Mẫu
Mùa
Số lượng vi sinh vật (*104CFU/lml)




7

,
ĐAI H O C Q U Ố C G IA HẢ NQ|
'RUNG TÁM THQNG TIN THU’ V ẺN
17 p T / . 3 q f ~
3.5. Sự phân bố của nhóm vi sinh vật phản huỷ phốt pho và lưu huỳnh:
* Sự phân bố của nhóm vi sinh vật phân hũy phốt pho vô cơ:
Nhóm vi sinh vật phân giải phốt pho vồ cơ là những nhóm có khả năng chuyển
hoá các hợp chất phốt pho vô cơ khó tan như Ca3(P04)2 để cho thực vật thuỷ sinh có thể
hấp thụ được và khép kín chu trình phốt pho trong hồ. Sự phân bố của chúng được thể
hiện trong bảng7
Bảng 7: Số lượng vi sinh vật tham gia quá trình phản huỷ phôt pho vô cơ.
Mẫu
Mùa
Số lượng vi sinh vật (*104CFU/lml)
1 2
3
4
5
Xuân

Tầng mặt 5,00 2,40
0,25
0,37 3,25
Tầng đáy 5,75
2,17 0,17 0,53 2,72

17,50
2,50 1,75
5,73
Tầng đáy
17,30
12,41
1,25
1,17
2,57
Thu
đông
Tầng măt
15,00
11,50
1,75
1,37
2,90
Tầng đáy
1,17
8,73
1,00
0,95 1,28
Qua số liệu các bảng trên cho thấy các nhóm vi sinh vật này phân bố rất rộng rãi
trong hổ ở cả tầng đáy và tầng mặt. Cũng tại các vị trí gần nguồn thải thì số lương của
chúng cao hơn khu vực giữa hổ. Về mùa hè, số lượng các vi sinh vật này tăng lên. Tai
nguồn thải nhà máy Giấy Trúc Bạch số lượng các vi sinh vật giảm đáng kể do tác động
của hoá chất độc hại trong nước thải của nhà máy Giấy thải ra.
18
KẾT LUẬN
Qua các kết quả nghiên cứu ở trên, chúng tôi đã rút ra một số kết luận sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status