Đề xuất các giải pháp duy trì dòng chảy môi trường phù hợp với các yêu cầu phát triển bền vững tài nguyên - Pdf 25

B ộ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIẾN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢ ĩ VIỆT NAM
Đ Ẽ X U Ả T C Ả C G I A I P H Ả P D U Y T R Ì D Ò N G C H Á Y
M Ô I T R Ư Ờ N G P H Ù H Ợ P V Ớ I C Á C Y Ê U C Ằ Ư P H Á T
T R I Ẻ N B Ề N V Ữ N G T À I N G U Y Ê N
Chủ nhiệm đề tài nhánh: TS.Trần H ồng Thái
THƯÒC ĐÈ TÀI:
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH DÒNG CHẢY MÔI TRƯỜNG CỦA HỆ THÓNG
SÔNG HÒNG - THẢI BÌNH VÀ ĐÈ XUÁT CÁC GIẢI PHÁP DUY TRÌ DÒNG
CHẢY MÔI TRƯỜNG PHÙ HỢP VỚI CÁC YÊU CẦU PHÁT TRIẺN BÈN
VỬNG TÀI NGUYÊN NƯỚC
Hà Nội, năm 2010
2 7 2
B ộ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI V IỆT NAM
BẢO CAO TOM TẢT ĐẼ TẢI NHẢNH
Đ È X U Ấ T C Á C G I Ả I P H Á P D U Y T R Ì D Ò N G C H Ả Y
M Ô I T R Ư Ờ N G P H Ù H Ợ P V Ớ I C Á C Y Ê U C Ầ U P H Á T
T R I Ẻ N B Ề N V Ữ N G T À I N G U Y Ê N
THUỘC ĐẺ TÀI:
N GH IÊN C Ứ U X ÁC Đ ỊNH DÒ NG CH ẢY M Ô I T RƯỜ N G CỦA HỆ
TH ÓNG SỒ N G H ỒN G - T HÁI B ÌNH VÀ ĐỀ X U Ấ T C ÁC G IẢI PHÁP
DƯY TRÌ D Ò NG CH Ả Y M Ô I TRƯ ỜN G PH Ù H Ợ P V Ớ I C ÁC YÊU CẦU
PH Á T TR IỂ N BÈ N V ỬN G TÀ I N G U Y ÊN N ƯỚ C
C HỦ N H IỆ M ĐÈ TÀI NH ÁNH C HỦ N HIỆM ĐÈ TÀI
T rần H ồng Thái
N gu yễn Văn Hạnh
C ơ Q UA N C HỦ TR Ì Đ È TÀI
Hà Nội, năm 2010
2 7 3
M Ụ C L Ụ C

15
III. 2. Trách nhiệm bảo đảm duy trì nguồn nước ở hạ lưu thống sông Hồng - sông
Thái Bình trong vận hành các hồ chứa thượng lưu 21
111.3. Phân tích, đánh giả chung về những ưu điểm và tồn tại, bất cập trong phân
công và quy định trách nhiệm bảo đảm dòng chảy môi trường

26
2
2 7 4
D A N H S Á C H B Ả N G B I Ẻ Ư
Bàng 1: Lưu lượng cần thiết bổ sung trong mùa kiệt để bảo đảm nhu cầu sử dụng và
duy trì dòng chảy môi trường vào các tháng kiệt nhất trong năm (tháng I, II, III)

5
Bàng 2: Tổng hợp tiềm năng thủy điện (không tính các công trình thủy điện nhỏ hiện
đang hoạt động) của lưu vực sông Hồng - sông Thái B ìn h
5
Bàng 3 : Các công trình thủy điện dự kiến xây dựng trên lun vực sông Hồng - sông
Thái Bình có nhiệm vụ bổ sung nước cho hạ d u 7
Bàng 4: Tình trạng cấp phép ở các tỉnh thuộc lưu vực sông Nhuệ - Đ á y

10
Bảng 5: Danh sách các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng theo Quyết định số 64 trên lưu
vực sông Nhuệ - Đ á y 11
3
2 7 5
I. Các biện pháp công trình bảo đảm nguồn nước cho các nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội và duy trì dòng chảy môi trường trên lưu vực sông
LI Phương án hồ chứa cho giai đoạn 2010
Trên lưu vực sông Hồng-Thái Bình một hệ thống lớn các hồ chứa lớn sẽ được

đẩy mặn. Với các công trình nêu trên, lượng nước được bổ sung trong mùa kiệt với lưu
lượng thích hợp cho từng thời kỳ như ở bảng 14.
Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu quy hoạch thủy lợi của lưu vực qua các
giai đoạn kết hợp với quy hoạch của ngành điện có thể tổng hợp tiềm năng thủy điện
(không tính các công trình thủy điện nhỏ) của lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình
bảng 15 dưới đây. Các hồ chứa thủy điện là giải pháp quan trọng để trữ nước trên lưu
vực và bảo đảm duy trì DCMT trong mùa kiệt.
Bảng 1: Lưu lượng cần thiết bổ sung trong mùa kiệt để bảo đảm
nhu cầu sử dụng và duy trì dòng chảy môi trường vào các tháne kiệt nhất trong năm
2 7 6
(tháng I II, III)
TT Kịch bản
Lưu lượng bỗ sung (m3/s)
I II III
Giai đoạn 2010
1
Diên biên bình thường
600 1 1 00
800
2
Phát triên bên vừng 1
700 1 2 00
900
3 Phát triển bên vững 2
700 1150 900
4
Khủng hoản g(,)
950 1400
1150
1

2 7 7
TT Công trình
Không kể đến thủy điện nhỏ hiện có
Lý thuyêt
Thực tê
1 Hoà Bình
1920
1920
2
Sơn La 3600
2400
3
Lai Châu
1 10 0 800
4
Huôi Quảng
520 520
5 Bản Chát
2 2 0
2 2 0
6
Nậm Chiên
175 175
7
Nậm Na
235 0
8
T Đ nh ỏ
260.4 260.4
II Lưu vực sông Thao

30
19 TĐ nhỏ 466.7 466.7
III
Lưu vực sông c ầ u 46
30.7
2 0 TĐ nhỏ 46 30.7
r p A
Tông 10580.2 8202.9
Ngoài ra, trên các lưu vực sông còn có thể xây dựng những công trình hồ chứa
vừa và nhỏ khác, về nguyên tắc có thể tham gia duy trì dòng chảy môi trường và bảo
đảm nguồn nước cung cấp cho các nhu cầu sử dụng. Tuy nhiên, những hậu quả môi
trường của việc xây dựng các hồ chứa nhỏ cũng cần được đánh giá đầy đủ để hài hòa
các lợi ích, nhất là bảo đảm phát triển bền vững tài nguyên nước và bảo vệ môi trường
lưu vực sông. Trong nhiều nghiên cứu gần đây của các Bộ, ngành, còn kiến nghị xây
dựng thêm một số công trình hồ chứa khác như: trên lưu vực sông Gâm, nhánh Nho
Quế: là hồ chứa Nho Quế 1, Nho Quế 2 và Nho Quế 3; trên sông Lô như Bắc Quang,
Thác Cái; trên sông cầu: c ổ Rồng, Vân Lăng, Lăng Hít.
2 7 8
Bảng 3: Các công trình thủy điện dự kiến xây dựng trên lưu vực sông Hồng - sông
______ ________
Thái Bình cỏ nhiệm vụ bồ sung nước cho hạ du
_______
_________
TT
Hạng mục
Nlm thiết kể
MW
Nđb
MW
E tính toán

2 2 0,0
65,4
1087,8
Thuỷ điện Huôi Quảng
520,0
188,9
1868,0
Thuỷ điện Nậm Chiên
175,0 54,5
651,0
Thuỷ điện N a Le
90,0
13,2 376,9
III.
Công trình dự kiến
2697,9 453,8 11773,1
a. Công trình dòng chính
1290,0 203,6
5382,7
Thuỷ điện Lai Châu
1100,0
162,1 4669,0
Thuỷ điện Bảo Lạc
190,0
41,5
713,7
b. Công trình dòng nhánh
1407,9
250,2 6390,4
b.l

E tính toán
106kWh
+
Lưu vực sông Câu
25,0
6,1
1 0 0,8
b.2 <5MW
176,5
742,3
+ ■
Lưu vực sông Đà
42,3 188,0
+
Lưu vực sông Hông 70,2 296,5
+
Lưu vực sông Lô
46,2
177,7
+
Lưu vực sông Gâm 10,2
49,4
+
Lưu vực sông chảy
1,9
7,8
+
Lưu vực sông Câu
5,7
22,9

tăng nhiều trong vòng 10 năm qua. Tuy nhiên, chưa có số liệu báo cáo nào đưa ra về
số lượng báo cáo ĐTM đã được phê duyệt ở từng địa phương.
Trên toàn quốc trong giai đoạn 1994-2004 có khoảng 27.000 báo cáo ĐTM
được thẩm định và phê duyệt, trong đó 800 báo cáo được thẩm định ở cấp trung ương
còn lại hơn 26.000 báo cáo tại cấp tỉnh, trong đó có hàng ngàn báo cáo Đ TM của các
dự án trên lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình, nhất là trên lưu vực sông cầu và sông
Nhuệ - Đáy.
Tuy nhiên, số báo cáo ĐTM đã thẩm định và bản đăng ký chất lượng môi trường còn
quá thấp so với số dự án và con số này cũng còn rất chênh lệch ở các tỉnh/thành. Các
hoạt động kiểm tra sau khi phê duyệt báo cáo Ỉ)TM còn yếu kém, nhiều dự án đã được
phê duyệt nhưng không được thực hiện đúng theo cam kết đã đưa ra. Nhìn chung, hoạt
động kiểm tra ĐTM còn ít được chủ dự án cũng như cơ quan chức năng quan tâm.
Công tác tham vấn cộng đồng trong quy trình ĐTM còn rất hạn chế
II.3 Cấp phép xả nước thải vào nguồn nước - công cụ giảm sát hữu hiệu
Luật tài nguyên nước hiện hành đã quy định rõ ràng về việc xả nước thải ra
sông, hồ nói riêng và nguồn nước nói chung phải xin phép, nhưng việc triển khai thực
hiện trong thực tế còn chậm. Ở cấp quốc gia, Nghị định 149/2004/ND-CP quy định
cấp phép cho khai thác và sử dụng tài nguyên nước cũng như cấp phép xả nước thải
vào nguồn nước. Bộ TN&MT đã ban hành thông tư số 02/2005/TT-BTNM T hướng
dẫn thi hành Nghị định 149. ở cấp địa phương, các tỉnh trong lưu vực đã triển khai
công tác cấp phép xả nước thải vào nguồn nước, nhưng so với số lượng thực tế các cơ
sở xả thải phải xin phép thì còn quá ít, chưa đáp ứng yêu cầu kiểm soát các nguồn gây
ô nhiễm và giám sát ô nhiễm nguồn nước trên các dòng sông.
2 8 0
9
2 8 1
Bảng 4: Tình trạng cấp phép ở các tinh thuộc lưu vực sông Nhuệ - Đáy
Tỉnh
Số giấy phép xả
thái đuọc cấp

Ninh Bình
0 0 0
7
0 2
Nam Định
0
4
0
2 0 0
Hà Nam
0 8 0
11
0 11
Hà Nôi
Tông cộng
0
0
1
32
0
0
0
23
27
35
30
140
11.4 Điểu tra và khảo sát tình trạng ô nhiễm
Biện pháp điều tra và khảo sát tình trạng ô nhiễm cho phép tổng hợp được các tổ chức,
cá nhân xả thải trên lưu vực và trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật của

sở đã
xử lý
Hiện trạng
Toàn Trong lưu
tỉnh vực
Hòa Bình
6 1
0 1 đang tiến hành giải pháp
Hà Tây 10
9 3 5 đang tiên hành giải pháp ; 1 phá
sản
Ninh Bình 8
8 3
1 đang tiên hành giải pháp
Nam Đinh
6 6 0
2 đang tiến hành giải pháp
Hà Nam
4
4
2
2 đang tiên hành giải pháp
Hà Nội
16
14
6
8 đang tiến hành giải pháp
Tông
^í'nK
50

nghệ mới vào xử lý nước thải, bảo đảm đạt yêu cầu trước khi xả vào dòng sông.
II. 6 Xây dựng nguồn lực và năng lực
Hệ thống quản lý quốc gia về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi
trường trong lưu vực nói riêng đã được cải thiện. Tuy nhiên, chất lượng của cán bộ
không cao, chưa đạt yêu cầu cho công việc.
Cán bộ hiện đang công tác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở lưu vực sông
gồm quản lý môi trường lưu vực sông, quản lý tài nguyên nước mặt, và kiểm tra chất
lượng môi trường. Ở Việt Nam số cán bộ công tác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
lưu vực còn thấp so với các quốc gia khác, với khoảng 1,8 cán bộ/triệu dân, con số này
trong lưu vực còn thấp hơn, chỉ có 1,2 cán bộ/triệu dân khi so với 6 8 cán bộ môi
truờng/triệu dân ở Trung Quốc và 151 cán bộ môi trường/triệu dân ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Cán bộ làm việc trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở lưu vực nói chung và bảo vệ môi
trường nói riêng là không đều nhau giữa các tỉnh. Phần lớn các cán bộ trong lĩnh vực
này không được đào tạo nâng cao kiến thức về lưu vực sông, về quản lý tổng hợp tài
nguyên nước. Hon nữa họ phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nên kiến thức của họ
về bảo vệ môi trường lưu vực sông còn hạn chế. Trong khi năng lực có hạn song hoạt
động quản lý nước ở cấp lưu vực sông lại đòi hòi phải có kỹ năng cao hơn.
2 S 3
2 8 4
II. 7 Đầu tư tài chính cho việc quản lỷ ô nhiễm, cho phát triển và áp dụng công
nghệ sạch
Chi tiêu từ ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường trong lưu vực sông là
không cụ thể. Chức năng liên quan đến quản lý chất lượng nước và bảo vệ môi trường
được nhiều bộ ngành thực hiện. Do vậy, các khoản trong ngân sách được phân bổ tùy
theo chức năng của các bộ. Tuy nhiên phần lớn ngân sách và chi tiêu được điều phối
qua Bộ TN&MT và Bộ NN&PTNN (cấp quốc gia) và các Sở TN&MT và Sở
NN&PTNN (địa phương).
Tổng ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường tăng lên từ khi có Nghị quyết 41-
NQ/TW của Trung ương Đảng. Nghị quyết này nêu rõ, Bộ TN&MT phối hợp với Bộ
Tài chính và B ộ Kế hoạch và đầu tư sử dụng 1% ngân sách hàng năm cho lĩnh vực môi

• Nhóm 5: các hoạt động quan trẳc môi trường đã thực hiện trong các chương
trình và dự án khác nhau.
Trong các nhóm ở trên mục tiêu quan trắc, nội dung và điều kiện tiến hành là
khác nhau, bởi vậy vị trí quan trắc, thời gian, thông số và mẫu quan trắc là không
thống nhất.
Phần lớn các phân tích chất lượng nước hoặc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước
được tiến hành ở Hà N ội hoặc các Viện nghiên cứu thực hiện do có trang bị các phòng
thí nghiệm đạt chuẩn. Tại các địa phương, chưa có phòng thí nghiệm nào được công
nhận một cách chính thức. Địa phương thường thiếu các phương tiện, trang thiết bị tối
thiểu để quan trắc, kiểm soát ô nhiễm. Vài tỉnh có thiết bị phân tích đon giản. Các tỉnh
đều thực hiện quan trắc nước mặt 2 lần một năm, một lần vào mùa khô, một lần vào
mùa mưa.
Các thông số quan trắc thường là chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và đôi khi là dầu
mỡ. Các thông số nước mặt gồm có: Nhiệt độ, độ pH, BO D5 COD, DO, độ dẫn độ
2 8 5
đục, ss, TSS, Fe, TDS, NH3, S 0 42', F , Oil, N 0 2' Faecal coliform, CN và Coliform
tổng số và một vài kim loại nặng (As, Fe, Cr6\ Cr tổng số, và Pb). Ở địa phương, các
thông số quan trắc thường ít hơn
II.9 Sự tham gia của cộng đồng trong kiểm soát ô nhiễm
Thực tế thành công trong bảo vệ tài nguyên nước, môi trường, kiểm soát ô nhiễm phụ
thuộc rất nhiều vào sự tham gia của cộng đồng. Sự tham gia của cộng đồng vào các
hoạt động bảo vệ môi trường lưu vực sông vẫn còn nhiều hạn chế. Cho tới nay, sức
mạnh của cộng đồng vẫn chưa được xác định và phát huy đầy đủ. Sự tham gia của
cộng đồng vào việc đưa ra quyết định, hoạch định chính sách và quản lý môi trường
vẫn rất hạn chế. Nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường là một vấn đề lớn.
Nhận thức của cộng đồng và các cơ sở sản xuất về sự cần thiết bảo vệ lưu vực sông
hiện còn rất thấp
II. 10 Thực hiện các biện pháp công trình khắc phục ô nhiễm
Trong số các biện pháp công trình, đánh ỉưu ý nhất đến các công trình tạo nguồn là các
hồ chứa ở thượng nguồn các lưu vực sông và các thủy vực trữ, giữ nước, các công

quản lý vận hành các công trình hồ chứa trên lưu vực sông và quản lý tổng hợp lưu
vực sông vì sự phát triển bền vững. Trong số các nguyên tắc quản lý, bảo vệ, khai
thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thì nguyên tắc quan trọng nhất
để khắc phục các tình trạng suy thoái, cạn kiệt nguồn nước hiện nay ở hạ lưu hệ thống
sông Hồng - sông Thái Bình chính đã được quy định rất cụ thể tại Khoản 3 Điều 4 của
Nghị định nêu trên: “Việc khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trường các hồ chứa
phải bảo đảm an toàn hồ chứa, dòng chảy tối thiểu, không ảnh hưởng đến các mục
tiêu, nhiệm vụ của hồ chứa đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và đáp ứng
các yêu cầu về phòng, chổng suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước và phòng,
chổng tác hại do nước gãy ra trên lưu vực hồ chửa và hạ du hồ chứa”.
Tại Nghị định số 112//2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý, bảo vệ,
khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thủy điện, thủy lợi đã quy
định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, các Bộ, ngành trong quản lý, vận hành
các công trình hồ chứa bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu ở hạ du công trình và ở hạ
lưu các lưu vực sông.
Những trách nhiệm này được quy định trong các Chương 2: Bảo vệ, khai thác,
sử dụng tài nguyên và môi trường hồ chứa tại Điều 9: “Điều tiết nước hồ chứa”. Tại
Khoản 1, 3, 4 Điều 9, khi quy định về điều tiết hồ chứa đã quy định:
k !8 7
- Quy trình vận hành hồ chứa phải được lập, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt
trước khi tích nước hồ chứa, đáp ứng đầy đủ các nhiệm vụ của hồ chứa theo thứ tự ưu
tiên, bảo đảm an toàn công trình, an toàn hạ du hồ chứa, khai thác tổng hợp tài nguyên,
môi trường hồ chứa, duy trì dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu hồ chứa, không gây biến đổi
lớn đến chế độ dòng chảy hạ lưu hồ và có tính đến yếu tố biến đổi khí hậu; phù hợp
với quy trình vận hành liên hồ chứa trên khu vực sông (nểu có) đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Hàng năm, chủ đập có trách nhiệm lập kế hoạch điều tiết nước hồ chứa và tổ
chức thông báo kế hoạch điều tiết nước cho ủy ban nhân dân các cấp nơi có hồ chứa
và vùng hạ du hồ chứa nhằm giảm thiểu tác động xấu đến sản xuất, đời sống nhân dân
và môi trường.

về dòng chảy tối thiểu ở hạ du các hồ chứa và hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương
thực hiện.
Tổng hợp, xác định nhu cầu sử dụng nước của các ngành, địa phương, các tổ
chức kinh tế ở hạ du và giám sát việc bảo đảm thông tin, dữ liệu, dự báo khí tượng
thủy văn và tài nguyên nước đến các hồ chứa lớn.
Chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển N ông
thôn lập kế hoạch điều tiết nước liên hồ chứa đối với các hồ chứa có tầm quan trọng
quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ quyết định khi xảy ra hạn hán, thiếu nước, ô
nhiễm nguồn nước nghiêm trọng hoặc khi xảy ra các sự cố, tai biến môi trường
nghiêm trọng khác trên lưu vực sông.
Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục các hồ thủy lợi, thủy điện trên
lưu vực sông phải xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa.
Hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương, đơn vị kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm
pháp luật về quản lý, bảo vệ, khai thác tài nguyên và môi trường các hồ chứa.
III. 1.4 Trách nhiệm của Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn
Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật bảo đảm sử dụng tài nguyên hồ chứa tiết kiệm, đa mục tiêu, bảo
vệ cảnh quan, môi trường các hồ chứa thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
2 8 9
18
Chỉ đạo xây dựng, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, ngành
và các địa phương liên quan thẩm định quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa (nếu
cỏ) thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch điều tiết nước hồ chứa; chỉ đạo việc điều tiết
nước các hồ chứa thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ trong trường hợp xảy ra hạn
hán, thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng hoặc khi xảy ra các sự cố, tai biến
môi trường nghiêm trọng khác trên lưu vực sông.
Phối hợp với ủ y ban nhân dân các tỉnh nơi có hồ chứa kiểm tra việc thực hiện
pháp luật về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa

cố, tai biến môi trường nghiêm trọng khác xảy ra trên địa bàn;
Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các cơ quan liên quan chỉ đạo xử lý các hành
vi vi phạm theo quy định của Nghị định này; giải quyết tranh chấp; khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị về tài nguyên và môi trường theo quy định của pháp luật; tuyên truyền, giáo
dục pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường các hồ chứa;
Chỉ đạo xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc tài nguyên và môi trường các hồ
chứa của địa phương theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
b) ủy ban nhân dãn cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã nơi có hồ chứa:
Phối hợp với chủ đập trong việc xây dựng phương án cắm mốc giới xác định
hành lang bảo vệ hồ chứa và phối hợp thực hiện việc cắm mốc giới trên thực địa sau
khi phương án cắm mốc giới được phê duyệt;
Chịu trách nhiệm khi để xảy ra hiện tượng lấn, chiếm, sử dụng trái phép phần
đất thuộc phạm vi hành lang bảo vệ hồ chứa và vùng lòng hồ tại địa phương.
III. 1.7 Trách nhiệm rà soát nhiệm vụ hồ chứa
Định kỳ 5 năm, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ủ y ban
nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm rà soát, điều chỉnh nhiệm vụ các hồ chứa thuộc thẩm
quyền quản lý của Bộ, ngành, địa phương, quyết định điều chỉnh theo thẩm quyền
hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định điều chỉnh nhiệm vụ của hồ chứa theo quy
định.
2 9 1
20
III. 2. Trách nhiệm bảo đảm duy trì nguồn nước ở hạ lưu thống sồng Hồng - sông
Thải Bình trong vận hành các hồ chứa thượng lưu
Trách nhiệm bảo đảm duy trì nguồn nước ở hạ lưu thống sông Hồng - sông
Thái Bình trong mùa lũ, theo các quy định tại các quy trình trước đây và có hệu lực
hiện nay chủ yếu thuộc về các Bộ, ngành và địa phương cùng các Công ty thủy điện
liên quan trong quản lý vận hành các hồ chứa (Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang) trên
thượng lưu hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình vào mùa lũ. Như đã phân tích trong
các chuyên đề nghiên cứu liên quan đến việc quản lý vận hành hồ chứa, nếu cho rằng

Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà và Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện lệnh
vận hành của Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt bão Trung ương.
b) Trước khi các hồ xả lũ khẩn cấp đảm bảo an toàn cho công trình đầu mối, Bộ
trưởng Bộ Công nghiệp phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng thời báo cáo Trưởng
Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt bão Trung ương để chỉ đạo chống lũ cho hạ du.
111.2.3. T rách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Chỉ đạo công tác dự báo, cảnh báo và cung cấp số liệu khí tượng, thủy văn cho các
Công ty thủy điện Hoà Bình, Công ty thủy điện Tuyên Quang, Công ty cổ phần thủy
điện Thác Bà, Tập đoàn Đ iện lực Việt Nam, Bộ Công nghiệp và Ban Chỉ đạo phòng,
chống lụt bão Trung ương theo quy định của quy trình này.
1 1 1 .2 .4 . Trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Theo dõi phát hiện các sự cố khẩn cấp đối với hệ thống đê sông Hồng, báo cáo kịp thời
Thủ tướng Chính phủ, đồng thời báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt bão
Trung ương để xử lý.
1 1 1 .2 .5 . Trách nhiệm của Giám đốc Công ty thủy điện Hòa Bình, Công ty thủy
điện Tuyên Quang và Giám đốc Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà
a) Giám đốc Công ty thủy điện Hoà Bình, Giám đốc Công ty cổ phần thủy điện Thác
Bà và Giám đốc Công ty thuỷ điện Tuyên Quang có trách nhiệm thực hiện lệnh vận
hành công trình của Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt bão Trung ương theo quy
định trong quy trình này.
22
b) Lệnh mở thêm cửa xả của hồ Hòa Bình khi mực nước tại trạm thủy văn Hoà Bình
vượt cao trình +24 m phải được thông báo cho ủ y ban nhân dân và Ban Chỉ huy
phòng, chống lụt bão tỉnh Hoà Bình.
c) Lệnh mở thêm cửa xả của hồ Tuyên Quang khi mực nước tại trạm thủy văn Tuyên
Quang vượt cao trình + 27 m phải được thông báo cho ủ y ban nhân dân và Ban Chỉ
huy phòng, chống lụt bão tinh Tuyên Quang.
JII.2.6. Trách nhiệm về an toàn các công trình
a) Lệnh vận hành hồ Hoà Bình, Tuyên Quang, Thác Bà điều tiết lũ nếu trái với các quy
định trong quy trình này, dẫn đến công trình đầu mối, hệ thống các công trình đê điều,

Tuyên Quang biết trước từ 6 đến 10 giờ tính đến thời điểm mực nước lũ đạt tới cao
trình +27,0 m, để tỉnh Tuyên Quang có đủ thời gian sơ tán dân, đồng thời phải báo cáo
Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt bão Trung ương.
c) Việc thông báo lệnh thao tác cửa xả của nhà máy thủy điện Hòa Bình, Tuyên
Quang, Thác Bà đến Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt bão các tỉnh, thành phố bị ảnh
hường của việc thay đổi cửa xả của nhà máy thủy điện Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác
Bà do Văn phòng BCĐ phòng, chống lụt bão Trung ương thực hiện.
d) Các lệnh, ý kiến chỉ đạo, kiến nghị, trao đổi có liên quan đển việc điều hành và cát
lũ của các hồ Hoà Bình, Tuyên Quang và Thác Bà đều phải thực hiện bằng văn bản.
Lệnh vận hành công trình được gửi qua fax cho Công ty thuỷ điện Hòa Bình, Công ty
thủy điện Tuyên Quang, Công ty cổ phần thuỷ điện Thác Bà và các cơ quan liên quan,
sau đó văn bản gốc được gửi để theo dõi đối chiếu và lưu hồ sơ quản lý.
Thời gian ban hành lệnh thao tác các cửa xả phải đảm bảo để Công ty thủy điện Hòa
Bình, Công ty thủy điện Tuyên Quang, Công ty cổ phần thủy điện Thác Bà nhận được
ít nhất trước 2 giờ tính đến thời điểm thực hiện.
III.2.9. Trách nhiệm cung cấp thông tin, số liệu
Để phục vụ cho việc tính toán và lựa chọn phương án vận hành hợp lý các hồ điều tiết
lũ, các cơ quan sau đây có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:
a) Trung tâm Dự báo Khỉ tượng Thủy văn Trung ương - Trung tâm Khí tượng Thủy
văn Quốc gia - Bộ Tài nguyên và Môi trường: cung cấp cho Ban Chỉ đạo phòng,
chống lụt bão Trung ương, Bộ Công nghiệp, Tập đoàn Điện Lực Việt Nam và các
Công ty thủy điện Hòa Bình, Công ty thủy điện Tuyên Quang, Công ty cổ phần thủy
điện Thác Bà các số liệu sau:
^93
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status