Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu Trang
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
CÁC KHOẢN PHẢI THU 23
Thứ nhất, về chương trình kiểm toán mẫu 112
Thứ nhất, về chương trình kiểm toán mẫu 116
Thứ hai, phương pháp đánh giá HTKSNB 116
Thứ ba, trong thực hiện thủ tục phân tích 117
3.3. Giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng trong kiểm
toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán Immanuel thực hiện 117
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Báo cáo tài chính BCTC
Cân đối kế toán CĐKT
Kết quả kinh doanh KQKD
Sản xuất kinh doanh SXKD
Kiểm toán viên KTV
Tài sản cố định TSCĐ
Trách nhiệm hữu hạn TNHH
Sản xuất kinh doanh SXKD
Kiểm soát nội bộ KSNB
Hàng tồn kho HTK
Tài khoản TK
Thuế giá trị gia tăng VAT
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu Trang
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
CÁC KHOẢN PHẢI THU 23
Thứ nhất, về chương trình kiểm toán mẫu 112
trọng trong quá trình kiểm toán. Nó cho chúng ta biết về tình hình tài chính của công ty,
khả năng thanh toán, cũng như tình hình chiếm dụng vốn của công ty. Để từ đó có thể
đưa ra quyết định công ty làm ăn có hiệu quả hay không. Nhận thấy được tầm quan trọng
của khoản mục nợ phải thu khách hàng như thế nên trong quá trình thực tập tại công ty
TNHH kiểm toán Immanuel em đã chọn đề tài: “Kiểm toán khoản mục nợ phải thu
khách hàng trong quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán
Immanuel thực hiện’’.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, báo cáo chuyên đề thực tập cuối
khóa của em gồm 3 chương chính :
Chương 1: Đặc điểm khoản mục phải thu khách hàng có ảnh hưởng đến kiểm
toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel .
Chương 2: Thực trạng kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán
BCTC tại một số khách hàng do Công ty TNHH Kiểm toán
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu
Trang
Immanuel thực hiện.
Chương 3 : Nhận xét và giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục phải
thu khách hàng trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Kiểm toán
Immanuel thực hiện.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Tạ Thu Trang cùng toàn thể cán bộ
công nhân viên trong Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel đã tận tình giúp đỡ em
trong quá trình em hoàn thành bản báo cáo này.
Do điều kiện thời gian cũng như trình độ nhận thức còn hạn chế nên bài viết
của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp
của cô giáo cũng như tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
2
khi nó là cơ sở để lập dự phòng phải thu khú đũi, do đó ảnh hưởng đến chi phí tài
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu
Trang
chính hoặc thuế giá trị gia tăng đầu ra…Không chỉ ảnh hưởng tới một số khoản mục
trên Bảng cân đối kế toán mà khoản nợ phải thu cũn cú mối liên hệ với một số
khoản mục khỏc trờn bảng kết quả hoạt động kinh doanh như doanh thu, giá vốn
hàng bỏn…Thụng thường khi doanh thu cũng như giá vốn tăng lên thỡ cỏc khoản
nợ phải thu cũng tăng lên nếu chính sách bán chịu không thay đổi.
Các vai trò chủ yếu của khoản mục phải thu khách hàng là :
• Ghi nhận các khoản doanh thu bán hàng theo hình thức trả chậm: Đây là
vai trò chủ yếu và quan trọng nhất của khoản mục phải thu khách hàng nhằm ghi
nhận chính xác và kịp thời các khoản bán hàng mua chịu. Doanh thu được ghi nhận
ngay khi chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng.
• Theo dõi quá trình thanh toán của khách hàng: thông qua việc ghi nhận
vào bên có của tài khoản 131 đơn vị có thể kiểm soát được quá trình trả nợ của
khách hàng, đó là cơ sở cho việc thu hồi nợ và xét duyệt bán chịu sau này. Công
việc này giúp doanh nghiệp giảm thiểu được phần nào rủi ro khi chấp nhận bán chịu
cho khách hàng.
• Đánh giá và xem xét khả năng thanh toán của khách hàng: từ việc ghi
nhận và theo dõi quá trình thanh toán của khách hàng, doanh nghiệp phải thường
xuyên cập nhật thông tin của khách hàng qua nhiều kờnh khỏch nhau. Việc thường
xuyên cập nhật tình hình biến động về mặt kinh doanh của khách hàng giúp doanh
nghiệp đánh giá được khả năng trả nợ của khách hàng.
• Khoản mục phải thu khách hàng là cơ sở để hạch toán các khoản mục dự
phòng nợ phải thu khú đũi: Việc theo dõi quá trình thanh toán và đánh giá xem xét
khả năng thanh toán của từng khách hàng giúp kế toán có cơ sở để ghi nhận các
khoản dự phòng phải thu khú đũi. Công việc này nhằm đảm bảo tính thận trọng
trong quá trình ghi nhận các khoản phải thu và mức độ thu hồi các khoản phải thu
• Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ bán sản phẩm, hàng hóa,
bất động sản đầu tư, cung cấp dịch vụ thu tiền ngày (Tiền mặt, séc hoặc đã thu qua
ngân hàng).
• Trong hạch toán chi tiết tài khoản này, kế toán phải tiến hành phân loại các
khoản nợ có thể trả đúng hạn, khoản nợ khú đũi hoặc có khả năng không thu hồi
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu
Trang
được, để có căn cứ xác định số trích lập dự phòng phải thu khú đũi hoặc có biện
pháp xử lí đối với khoản nợ không thu hồi được.
• Trong quan hệ bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo thỏa thuận
giữa doanh nghiệp với khách hàng, nếu sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư đã
giao dịch, dịch vụ đã cung cấp không đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế
thì người mua có thể yêu cầu doanh nghiệp giảm giá bán hoặc trả lại số hàng đã
giao.
Nguyên tắc lập dự phòng
• Cuối niên độ kế toán hoặc cuối kì kế toán giữa niên độ (Đối với đơn vị có lập
báo cáo tài chính giữa niên độ) doanh nghiệp xác định các khoản nợ phải thu khú
đũi hoặc có khả năng không đòi được để trích lập hoặc hoàn nhập khoản dự phòng
phải thu khú đũi vào hoặc ghi giảm chi phí quản lí doanh nghiệp của kì báo cáo.
• Về nguyên tắc, căn cứ lập dự phòng là phải có những bằng chứng đáng tin
cậy về khoản nợ phải thu khú đũi (Khách hàng bị phá sản hoặc tổn thất thiệt hại lớn
về tài sản… nờn không hoặc khó có khả năng thanh toán, đơn vị đã làm thủ tục đòi
nợ nhiều lần mà vẫn không thu hồi được nợ). Theo quy định hiện hành (Thông tư
13/2006/TT-BTC) thỡ cỏc khoản nợ phải thu được coi là phải thu khú đũi phải cú
cỏc bằng chứng chủ yếu sau:
o Số tiền phải thu phải được theo dõi cho từng đối tượng, theo từng nội dung,
theo từng khoản nợ, trong đó ghi rõ số nợ phải thu khú đũi.
o Phải có chứng từ gốc, có đối chiếu xác nhận của khách hàng về số tiền nợ
• Các khoản phải thu ngắn hạn (Thời gian thu hồi trong vòng 1 năm)
1. Phải thu khách hàng
2. Trả trước cho người bán
3. Phải thu nội bộ ngắn hạn
4. Phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng
5. Các khoản phải thu khác
6. Dự phòng phải thu ngắn hạn khú đũi(*)
• Các khoản phải thu dài hạn (Thời gian thu hồi trên 1 năm)
1. Phải thu dài hạn của khách hàng
2. Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu
Trang
3. Phải thu dài hạn nội bộ
4. Phải thu dài hạn khác
5. Dự phòng phải thu dài hạn khú đũi
Đối với doanh nghiệp có chu kì kinh doanh không phải là 1 năm thì ngưỡng
phân biệt nợ phải thu ngắn hạn và dài hạn là một chu kì kinh doanh.
Các sai phạm thường gặp đối với khoản mục nợ phải thu
Trong các khoản mục nợ phải thu thì nợ phải thu khách hàng là chiếm tỷ trọng
lớn nhất. Mặc khác khoản phải thu của khách hàng gắn chặt trong chu trình doanh
thu và bán hàng của doanh nghiệp nên đây là khoản mục thường hay xảy ra gian lận
và sai sót lớn nhất. Một số sai phạm thường gặp đối với khoản mục này là:
• Nợ phải thu khách hàng có thể bị nhân viên chiếm dụng hoặc tham ô khi
khách hàng trả nợ nhân viên thu nợ có thể chiếm dụng trong một khoảng thời gian
hoăc sử sụng thủ thuật gối đầu để biển thủ.
• Khi hạch toán công nợ, giảm trừ công nợ nhầm mã khách hàng.
• Bù trừ công nợ phải thu khách hàng và phải trả người bán không cùng một
đối tượng.
Hiện hữu
Tất cả các khoản nợ phải thu đều được phản ánh ghi nhận
đầy đủ trên báo cáo.
Đầy đủ
Các khoản nợ phải thu đều thuộc quyền sở hữu của đơn vị Quyền và nghĩa vụ
Những khoản nợ phải thu phải được ghi chép đúng số tiền
trên báo cáo tài chính và phù hợp giữa chi tiết của nợ phải thu
khách hàng với sổ cái.
Chính xác
Các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi được trích lập phù
hợp, cuối kì phải đánh giá, quy đổi tỷ giá bình quân liên ngân
hàng đối với những khoản nợ phải thu có gốc ngoại tệ.
Đánh giá
Các khoản mục nợ phải thu phải được trình bày đúng đắn
cũng như công bố đầy đủ những vấn đề liên quan như cầm
cố, thế chấp
Trình bày và công
bố
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu
Trang
1.3. Quy trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán
BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel thực hiện
1.3.1. Chuẩn bị kiểm toán.
1.3.1.1. Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát.
Trong giai đoạn này, KTV và công ty kiểm toán phải thực hiện các bước công
việc chủ yếu sau:
Sơ đồ 1.1 : Các bước công việc chính trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
chấp nhận kiểm toán, thu thập thông tin khi BCTC của khách hàng đã được sử dụng
rộng rãi, đánh giá hệ thống kiểm soát chất lượng và tính liêm chính của BGĐ, liên
lạc với KTV tiền nhiệm nhằm thu thập những thông tin về tính chính trực của ban
quản lý, các bất đồng nếu có giữa hai bên, các vấn đề quan trọng khác… và lý do tại
sao lại có sự thay đổi KTV. Qua những thông tin đó, KTV sẽ tổng hợp và cân nhắc
việc chấp nhận đi tới một hợp đồng kiểm toán.
• Nhận diện các lý do kiểm toán của Công ty khách hàng
Bước công việc này, thực chất là công việc giúp KTV xác định được đối
tượng và mục đích sử dụng BCTC của khách hàng, Đây là hai yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng cần phải thu thập và mức độ chính xác của các
ý kiến của KTV đưa ra trong BCKT. Dựa trên tình hình hoạt động SXKD, khả năng
của Công ty thông qua phỏng vấn trực tiếp BGĐ khách hàng, hoặc dựa vào kinh
nghiệm của các cuộc kiểm toán trước đó (đối với khách hàng cũ) để đưa ra quyết
định hợp lý trong việc ký kết hợp đồng kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm
toán phù hợp. Đồng thời, KTV phải thu thập thêm thông tin trong suốt quá trình
kiểm toán đờ̉ hiờ̉u thờm vờ̀ lý do kiểm toán của khách hàng. Thông qua bước công
việc này, Công ty kiểm toán cần ước lượng quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán, từ
đó, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chon đội ngũ nhân viên để thực hiên cho
cuộc kiểm toán ở các giai đoạn tiếp theo.
• Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán
Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp cho mụ̃i cuụ̣c kiểm toán nói
chung và khoản mục chứa đựng nhiều rủi ro như khoản mục phải thu khách hàng
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu
Trang
nói riêng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng
của cuộc kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ: “ Quá trình kiểm
toán phải được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành
thạo như một KTV”. Do đó, trong quá trình lựa chọn đội ngũ nhân viên, Công ty
đầu về khách hàng (ngành nghề kinh doanh, kết quả kiểm toán năm trước, giấy
phép kinh doanh, biên bản các cuộc họp,…), tìm hiểu về hệ thống kế toán, hệ thống
KSNB đối với khoản mục phải thu khách hàng và các bên liên quan để hoạch định
các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc điểm hoạt động của khách hàng, nhất là giúp
KTV xác định được khu vực có rủi ro cao để có biện pháp kiểm toán thích hợp.
Đồng thời, KTV đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đánh giá ban đầu về
mức trọng yếu với BCTC cũng như khoản mục phải thu khách hàng và thực hiện
thủ tục phân tích để xác định khối lượng công việc cần thực hiện.
Đối với khoản mục phải thu khách hàng, việc thu thập thông tin thường được
tiến hành thông qua:
- Ngành nghề kinh doanh nào cũng có những đặc điểm riêng, thông qua
việc tìm hiờ̀u ngành nghề kinh doanh của khách hàng, KTV có thể xác định được
mức độ quan trọng và kết cấu của khoản phải thu khách hàng không giống nhau
giữa các doanh nghiệp. Với những doanh nghiệp có kết cấu khoản phải thu khách
hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản, công tác kiểm toán cần chú ý vào sự
phản ánh trung thực, đầy đủ và hợp lý của các khoản phải thu khách hàng.
- KTV có thể liên hệ với KTV tiền nhiệm (đối với khách hàng cũ) hoặc
xem lại hồ sơ kiểm toán năm trước (đối với khách hàng cũ) để thu thập thông tin cơ
bản về mức độ sai phạm của doanh nghiệp năm trước với khoản mục phải thu khách
hàng.
- KTV cần tìm hiểu những thay đổi về các khoản phải thu khách hàng,
việc thay đổi các khách hàng thường xuyên, hoặc khách hàng mới,… trong các năm
trước.
- KTV cần nhận diện các bên liên quan với doanh nghiệp. Đây là bước thu
thập thông tin quan trọng, đó là thu thập các mối quan hệ giữa BGĐ, kế toán trưởng
với khách hàng, nhà cung cấp, các ngân hàng, các đơn vị tín dụng,…Thụng qua
phỏng vấn và đánh giá mối quan hệ có thể đưa ra những nhận xét ban đầu về rủi ro
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu
Bước 4: Thực hiện thủ tục phân tích
Theo CMKTVN số 520: “ Quy trình phân tích bao gồm việc so sánh các thông tin
tài chính như : so sánh thông tin tương ứng trong kỳ này với kỳ trước ; so sánh giữa
thực tế với kế hoạch của đơn vị ( ví dụ : kế hoạch sản xuất, kế hoạch bán hàng );
so sánh giữa thực tế với ước tính của kiểm toán viên ( Ví dụ : Chi phí khấu hao ước
tính ); so sánh giữa thực tế của đơn vị với các đơn vị trong cùng ngành cú cựng
quy mô hoạt động hoặc với số liệu thống kê, định mức cùng ngành ( Ví dụ: Tỷ suất
đầu tư, tỷ lệ lãi gộp). Quy trình phân tích cũng bao gồm việc xem xét các mối quan
hệ : Giữa các thông tin tài chính với nhau ( Ví dụ : mối quan hệ giữa lãi gộp với
doanh thu ) ; giữa cỏc thụng tinh tài chính với các thông tin phi tài chính ( Ví dụ :
mối quan hệ giữa chi phí nhân công với số lượng nhõn viờn )’’. Thủ tục phân tích
được áp dụng trong mọi cuộc kiểm toán và trong tất cả các giai đoạn của cuộc kiểm
toán. Qua đó, KTV có thể xác định được nội dung cơ bản của cuộc kiểm toán. Các
thủ tục phân tích được kiểm toán viên sử dụng khi kiểm toán khoản mục phải thu
khách hàng gồm hai loại cơ bản: phân tích ngang và phân tích dọc.
Phân tích ngang (phân tích xu hướng): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh
các trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC. Cụ thể, đối với khoản phải thu khách
hàng, KTV tiến hành:
- So sánh về số liệu nợ phải thu khách hàng của kỳ này với kỳ trước. Qua
đó, KTV có thể nhận thấy tình hình biến động bất thường của khoản mục và xác
định được các vấn đề cần quan tâm.
- So sánh các chỉ tiêu của Công ty khách hàng với chỉ tiêu chung của toàn ngành.
- So sánh số nợ phải thu khách hàng thực tế với số dự toán hay ước tính của
KTV
Phân tích dọc (phân tích tỷ suất): là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh
các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC, tỷ suất về
khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán hiện hành, tỷ suất về cơ cấu vụ́n,…
Trong quá trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách KTV thường sử dụng một
số tỷ suất sau:
Tỷ suất thanh toán hiện hành =
Là bước cơ bản và quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán . Theo
chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 320 về tính trọng yếu trong kiểm toán là “ thông
tin là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc sai sót của thông tin có thể ảnh hưởng đến
quyết định kinh tế của người sửa dụng BCTC. Tính trọng yếu phụ thuộc vào mức
độ quan trọng của các khoản mục hay sai sót được đánh giá theo bối cảnh cụ thể tạo
ra việc bỏ sót hoặc sai sót đó. Vì thế, tính trọng yếu là một ngưỡng hoặc một điểm
định tính cơ bản mà một thông tinh hữu ích cần cú’’. Theo Các văn bản chỉ đạo
kiểm toán quốc tế số 25 ( IAG 25) : “ Trọng yếu là khái niệm chỉ tầm cỡ, bản chất
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu
Trang
của các sai phạm ( kể cả bỏ sót) thông tin tài chính hoặc đơn lẻ hoặc từng nhóm, mà
trong bối cảnh cụ thể nếu đựa vào các thông tin này để xét đoán thì sẽ không chính
xác hoặc rút ra kết luận sai lầm’’
Dựa vào đặc điểm hoạt động sản xuõt kinh doanh của khách hàng, KTV sẽ
lựa chọn ra chỉ tiêu (doanh thu, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản) để ước lượng mức độ
trọng yếu ban đầu cho toàn bộ BCTC, hay chính là mức độ sai sót có thể chấp nhận
được đối với BCTC. Từ đó, đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên BCTC và xác
định quy mô và bản chất của cuộc kiểm toán. Sau khi ước lượng được mức trọng
yếu, KTV sẽ tiến hành phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục. Mức trọng yếu
đối với khoản mục phải thu khách hàng chính là sai số có thể chấp nhận được đối
với khoản mục này. Việc phân bổ này là hoàn toàn cần thiết vì đây là cơ sở để KTV
quyết định quy mô bằng chứng cần thu thập. Cơ sở này sẽ cho KTV những bằng
chứng thích hợp ở mức chi phí thấp nhất để KTV đưa ra kết luận đối với khoản mục
phải thu khách hàng.
Cơ sở để KTV phân bổ mức trọng yếu cho khoản mục phải thu khách hàng là
bản chất khoản mục, đánh giá về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm của
KTV và chi phí kiểm toán đối với khoản mục.
Quy trình đánh giá trọng yếu khoản mục phải thu khách hàng của công ty
quốc tế IGA 25: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc phải khi đưa
ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót
nghiêm trọng”. Dựa trên cơ sở mức trọng yếu phân bổ cho khoản mục phải thu
khách hàng, KTV sẽ thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình kiểm
toán thích hợp cho khoản mục này. KTV cần đánh giá các loại rủi ro sau:
- Rủi ro tiềm tàng (IR): rủi ro tiềm tàng đối với khoản mục phải thu khách
hàng là khả năng số dư của khoản mục có thể xảy ra sai sót dự cú hay không hệ
thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng. KTV đánh giá rủi ro tiềm tàng của
khoản mục này dựa trên tính chất ngành nghề kinh doanh của khách hàng, quy mô
của khoản mục, mức độ trọng yếu của số dư tài khoản, các phán đoán nghề nghiệp
của KTV về rủi ro của khoản mục từ việc thực hiện thủ tục phân tích trong bước
chuẩn bị kiểm toán, số lượng các khách hàng không thường xuyên, các ước tính dự
phòng phải thu khú đũi…
- Rủi ro kiểm soát (CR): Rủi ro kiểm soát đối với khoản mục phải thu
khách hàng là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng không hoạt động
hoặc hoạt động không có hiệu quả do đó không phát hiện và ngăn chặn được các sai
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu
Trang
phạm đối với khoản mục này. KTV đánh giá rủi ro kiểm soát đối với khoản mục
phải thu khách hàng thông qua việc tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng đối
với khoản mục này như về môi trường kiểm soát, trình độ của đội ngũ kế toán thanh
toán và bán hàng, việc thiết lập và thực hiện các quy trình chung về bán hàng, quy
chế đối chiếu số dư công nợ cuối kỳ…
- Rủi ro phát hiện (DR): Rủi ro phát hiện đối với khoản mục phải thu
khách hàng là khả năng xảy ra sai sót hay gian lận đối với khoản mục này mà không
được ngăn ngừa hay phát hiện bởi hệ thống KSNB và KTV cũng không phát hiện
được ra trong quá trình thực hiện các bước công việc kiểm toán. Rủi ro này có thể
xảy ra do KTV thực hiện các bước công việc kiểm toán không thích hợp hoặc thực
Immanuel cũng đã xây dựng được quy trình ước lượng trọng yếu và rủi ro kiểm
toán tuy nhiên mô hình này còn rất đơn giản và chủ yếu được ước lượng bởi sự xét
đoán của KTV.
Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập
Trường
hợp
Rủi ro
kiểm toán
Rủi ro
kiểm toán
Rủi ro
tiềm tàng
Rủi ro
phát hiện
Số lượng bằng
chứng cần thu
thập
1 Cao Thấp Thấp Cao Thấp
2 Thấp Thấp Thấp TB TB
3 Thấp Cao Cao Thấp Cao
4 TB TB TB TB TB
5 Cao Thấp TB TB TB
Bước 6: Tìm hiểu và đánh giá hệ thống KSNB
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: “KTV phải có đủ hiểu biết về
hệ thống kế toán và hệ thống KSNB của khách hàng để lên kế hoạch kiểm toán và
xây dựng cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả. Vì vậy, việc nghiên cứu và đánh giá
hệ thống KSNB của khách hàng đối với khoản mục phải thu khách hàng là bước
công việc hết sức quan trọng mà KTV cần thực hiện khi tiến hành kiểm toán khoản
mục này không chỉ để xác định tính hữu hiệu của hệ thống KSNB mà còn làm cơ sở
hàng với số liệu trên sổ cái không? Việc đối chiếu này được thực hiện khi
nào?
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kiểm toán - 50A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tạ Thu
Trang
Sau đó kiểm toán viên cần thực hiện kỹ thuật xuyên suốt (walk-through) để kiểm tra
xem trên thực tế, kiểm soát nội bộ có vận hành đúng như mô tả của đơn vị hay
không.
Đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát (CR)
Trên cơ sở hiểu biết về kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên đưa ra đánh giá sơ bộ
về rủi ro kiểm soát. Đây là cơ sở giúp kiểm toán viên giới hạn phạm vi của các thử
nghiệm cơ bản.
• Nếu đánh giá là thủ tục kiểm soát được thiết kế hữu hiệu và có khả năng thực
hiện hiệu quả thì CR được đánh giá sơ bộ là thấp và thực hiện các thử
nghiệm kiểm soát để hạn chế phạm vi của thử nghiệm cơ bản.
• Nếu CR được đánh giá là tối đa do không có các thủ tục kiểm soát tốt được
thiết kế đối với khoản mục thì không cần thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
mà mở rộng thực hiện thử nghiệm cơ bản.
1.3.1.2. Thiết kế chương trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng.
Thiết kế chương trình kiểm toán chi tiết đối với từng khoản mục được xem là
một bước hết sức quan trọng trong mỗi cuộc kiểm toán. Đây là cơ sở để kiểm toán
viên thực hiện công việc kiểm toán BCTC của khách hàng. Chương trình kiểm toán
nếu được thiết kế phù hợp và hiệu quả sẽ giúp KTV thu được các bằng chứng kiểm
toán đầy đủ và thích hợp phục vụ cho việc đưa ra ý kiến của mình.
Hiện nay, ở Immanuel đã thiết kế sẵn chương trình kiểm toán chi tiết cho tất
cả các khoản mục trên BCTC. Tuy nhiên đối với mỗi khách hàng, dựa vào thông
tin, tài liệu đã thu thập được, KTV sẽ lập kế hoạch kiểm toán chi tiết hơn cho từng
khoản mục với các bước công việc cụ thể.
Trong chương trình kiểm toán của Immanuel đối với khoản mục phải thu