Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NHNN VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH
LÃI SUẤT 2
1.NHNN Việt Nam 2
1.1. Sự ra đời và phát triển 2
1.2 Mô hình tổ chức 3
2. Tổng quan về lãi suất và chính sách lãi suất 5
2.1 Lãi suất 5
2.1.1 Khái niệm lãi suất 5
2.1.2 Các loại lãi suất cơ bản 5
2.1.5 Các lãi suất chính thức của NHTW 7
2.2 Chính sách lãi suất 7
2.2.1 Khái niệm 7
2.2.2 Nội dung của chính sách lãi suất 7
2.2.3 Một số nguyên tắc 8
2.2.4 Cơ chế điều hành và kiểm soát lãi suất TTTT của NHTW 8
CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN 2000-2010 9
1.Thực trạng nền kinh tế giai đoạn 2000-2010 9
1.1 Tăng trưởng kinh tế 9
1.2 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế 10
1.4 Thu chi ngân sách 11
2.2 Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6/2002 đến tháng 05/2008) 13
2.2.2 Nội dung 14
2.3 Điều hành lãi suất theo điều 476 Bộ luật dân sự 2005 kể từ tháng
06/2008 14
2.3.1 Nguyên nhân hình thành cơ chế 14
2.4.2 Quan hệ giữa chính sách lãi suất với cung cầu vốn trên TTTT 17
2.4.3 Điều hành lãi suất để kiểm soát lạm phát 18
LỜI MỞ ĐẦU
Lãi suất được hiểu chung nhất là giá cả của tín dụng - giá cả của quan hệ vay
mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn. Ở tầm vĩ mô, lãi suất là công cụ điều
tiết cho vay kinh tế nhạy bén và hiệu quả: thông qua việc thay đổi và cơ cấu lãi suất
trong từng thời kì nhất định mà chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỷ trọng
các loại vốn đầu tư, do vậy mà có thể tác động đến quá trình điều chỉnh cơ cấu; đến
tốc độ tăng trưởng, sản lượng, thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước. Hơn
thế nữa, trong những điều kiện nhất định của nền kinh tế mở, chính sách lãi suất
còn được sử dụng như là một công cụ góp phần điều tiết đối với luồng vốn đi vào
hay đi ra, tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn định của tỷ giá.
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, toàn bộ hệ thống ngân
hàng tài chính đã có nhiều cải cách quan trọng, chính sách lãi suất đang được
sửa đổi để có thể theo đuổi chính sách tự do hóa tài chính. Trong quá trình này
việc nhận thức lại những vấn đề cơ bản về lãi suất cũng như việc học tập kinh
nghiệm quản lý và điều hành chính sách lãi suất của các nước phát triển là rất
cần thiết. Điều này không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng
và điều hành một chính sách lãi suất phù hợp với cơ chế quản lý hiện nay, mà
còn rất quan trọng đối với quá trình hình thành và hoạt động một cách có hiệu
quả của hệ thống thị trường tài chính ở Việt Nam.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của chính sách lãi suất trong nền kinh tế
và đặc biệt là thị trường tài chính Việt Nam em chọn đề tài: “Chính sách lãi
suất trong giai đoạn hiện nay của NHNN Việt Nam”.
Đề án gồm có hai chương: Chương một là Tổng quan về NHNN Việt
Nam và chính sách lãi suất. Chương này sẽ là lý thuyết chung về chính sách lãi
suất của NHNN cụ thể là sẽ tìm hiểu về hoạt động của NHNN với trọng tâm là
chính sách lãi suất, lý thuyết chung về lãi suất và chính sách lãi suất qua đó ta
có thể thấy tầm quan trọng của chính sách lãi suất tác động tới nền kinh tế.
Chương hai là Chính sách lãi suất của Việt Nam trong giai đoạn 2000-
2010.Trong giai đoạn này sẽ phân ra làm ba thời kì:
nông, công, thương nghiệp, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây
dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Miền Bắc và giải phóng Miền Nam.
Thời kỳ 1975 - 1985: Là giai đoạn 10 năm khôi phục kinh tế sau chiến
tranh giải phóng và thống nhất nước nhà, là thời kỳ xây dựng hệ thống ngân
hàng mới của chính quyền cách mạng; tiến hành thiết lập hệ thống ngân hàng
thống nhất trong cả nước và thanh lý hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miền
Nam.
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
2
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Từ năm 1986 đến nay đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, đánh dấu sự
chuyển biến căn bản của hệ thống Ngân hàng Việt Nam thể hiện qua một số
"cột mốc" có tính đột phá sau đây:
+ Từ năm 1986 đến năm 1990: Thực hiện tách dần chức năng quản lý
Nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động
ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
+ NHNN thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh
tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; Thực thi nhiệm vụ của
một NHTW - là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền; Là ngân hàng của các
ngân hàng và là Ngân hàng của Nhà nước; NHTW là cơ quan tổ chức việc điều
hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu
chủ yếu và chi phối căn bản các chính sách điều hành cụ thể đối với hệ thống
các ngân hàng cấp 2.
+ Cấp Ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng,
thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do
các định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện.
+ Từ năm 1991 đến nay: Thực hiện chủ trương đường lối chính sách của
Đảng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng Việt
Nam không ngừng đổi mới và lớn mạnh, đảm bảo thực hiện được trọng trách
của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước trong thiên
và là tổ chức điều hòa tiền mặt trong toàn bộ hệ thống ngân hàng nhằm mục
đích cung cấp phương tiện thanh toán cho nền kinh tế.
Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là một công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ
quốc gia. Tùy từng mức độ phát triển của nền kinh tế và trình đọ công nghệ
của hệ thống ngân hàng…mà vị trí Nghiệp vụ thị trường mở trong hệ thống các
công cụ điều tiết lượng tiền cung ứng được xác định.
Nghiệp vụ tín dụng
NHNN chỉ cho vay đối với các TCTD nhằm điều tiết vốn khả dụng và
đảm bảo khả năng thanh toán của các TCTD. NHNN còn là ngân hàng của
Chính phủ thế nên trong các trường hợp cần thiết, NHNN phải cho Chính phủ
vay. Trong quan hệ vay mượn nước ngoài, NHNN còn đứng ra bảo lãnh, tái
bảo lãnh cho các TCTD, doanh nghiệp.
Nghiệp vụ thanh toán
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
4
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
NHNN là ngân hàng của Chính phủ, là ngân hàng của các ngân hàng.Vì
vậy một trong những hoạt động quan trọng của NHNN là thực hiện chức năng
thanh toán cho các giao dịch tiền tệ của Chính phủ và toàn bộ hệ thống ngân
hàng.
Nghiệp vụ quản lý ngoại hối
Đối với một quốc gia thì ngoại hối có vai trò vô cùng quan trọng: là
phương tiện thanh toán mậu dịch quốc tế, trả nợ cho các quốc gia khác. Điều
này càng có ý nghĩa hơn trong giai đoạn hội nhập hiện nay. Mặt khác, dự trữ
ngoại hối còn là cơ sở để nhà nước can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm
điều tiết thị trường, giá cả, NHNN là cơ quan thay mặt Nhà nước thực hiện
chức năng thực hiện các chức năng đó.
Nghiệp vụ thanh tra ngân hàng
Để đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng, NHTW phải sử dụng nhiều
mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Chính sách lãi suất, nếu tạo ra được
mức lãi suất cho vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ có tác động thúc
đẩy các doanh nghiệp tăng nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị,
trang bị công nghệ sản xuất hiện đại… Hiệu quả cuối cùng sẽ tạo ra một nguồn
vốn của cải cho xã hội, tổng thu nhập quốc dân sẽ tăng lên rất nhiều.
Lãi suất là công cụ thúc đẩy sức cạnh tranh giữa các NHTM, lãi suất là
giá cả của vốn, để thu hút được nhiều vốn, các NHTM sẽ phải tăng lãi suất huy
động, đồng thời giảm chi phí cho vay để cạnh tranh. Điều này dẫn tới các ngân
hàng sẽ phải quản lý các doanh nghiệp vay vốn chặt chẽ hơn, chọn những dự án
tốt hơn để cho vay, cắt giảm chi phí quản lý, sử dụng nhân lực có hiệu quả hơn,
tăng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Lãi suất còn là công cụ kiềm chế lạm phát hữu hiệu thông qua chính sách
tiền tệ của NHTW. Trong trường hợp nền kinh tế có mức lạm phát đáng lo ngại,
NHTW sẽ sử dụng cách chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất để thu hút tiền
nhàn rỗi trong lưu thông về, nhằm điều hòa lượng tiền trong lưu thông, cân đối
với khối lượng hàng hóa.
Hơn thế nữa, lãi suất còn làm ảnh hưởng tới luồng ngoại tệ đi vào hay ra
của một đất nước, tác động đến tỉ giá và sự ổn định của tỉ giá, điều này có ảnh
hưởng lớn đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương mại quốc tế.
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất
Ảnh hưởng của cung cầu của quỹ cho vay: bất kỳ sự thay đổi nào của cung
hay cầu của quỹ cho vay sẽ làm thay đổi mức lãi suất trên thị trường. Từ đó cho
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
6
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
thấy chúng ta có thể tác động vào cung cầu trên thị trường vốn để thay đổi lãi suất
trong nền kinh tế cho phù hợp mục tiêu chiến lược trong từng thời kỳ.
Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng: Khi mức lạm phát kỳ vọng tăng thì lãi
suất sẽ có xu hướng tăng và ngược lại. Điều này có thể được giải thích bằng cả
hai hướng tiếp cận. Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi
- Mục tiêu hoạt động là kiểm soát về mức và chiều hướng biến động của
lãi suất TTTT thứ cấp và sơ cấp, góp phần kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh
tế và ổn định sức mua đồng nội tệ.
- Các quan điểm, nguyên tắc và định hướng điều hành: Căn cứ vào mục
tiêu, vai trò và hiệu lực tác động của chính sách lãi suất đối với điều tiết lãi suất
và khối lượng tiền, NHTW xác định chiều hướng biến động và phương pháp
điều hành lãi suất tăng hay giảm và biên độ điều chỉnh rộng hay hẹp. Việc điều
hành công cụ lãi suất phải phù hợp linh hoạt đồng bộ với các công cụ khác của
chính sách tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, DTBB.
- Các giải pháp hỗ trợ đồng bộ, tạo điều kiện cho việc vận hành cơ chế
kiểm soát lãi suất TTTT như phát triển quy mô và nâng cao chất lượng thi
trường tiền tệ, xác định các mức lãi suất chuẩn trên TTTT, nâng cao khả năng
dự báo và điều tiết của NHTW.
2.2.3 Một số nguyên tắc
- Lãi suất thực về nguyên tắc phải gần bằng tỷ suất lợi nhuận bình quân.
- Lãi suất danh nghĩa phải bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát dự kiến.
- Lãi suất huy động vốn danh nghĩa phải cao hơn tỷ lệ lạm phát dự kiến
(dương) để khuyến khích tiết kiệm, tránh tích lũy vàng, ngoại tệ
- Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn bằng lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn.
- Lãi suất cho vay bình quân phải cao hơn lãi suất huy động bình quân.
- Lãi suất ngắn hạn phải thấp hơn lãi suất dài hạn.
- Lãi suất nội tệ phải tương đương lãi suất ngoại tệ (sau khi điều chỉnh
theo tỷ lệ lạm phát mỗi đồng tiền).
- Lãi suất phải bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
2.2.4 Cơ chế điều hành và kiểm soát lãi suất TTTT của NHTW
Các cơ chế điều hành và kiểm soát lãi suất TTTT
NHTW áp dụng hai cơ chế chủ yếu: Cơ chế điều hành và kiểm soát lãi
suất trực tiếp mà theo đó, NHTW quy định các mức lãi suất cụ thể cho hoạt
động kinh doanh của NHTM; cơ chế điều hành và kiểm soát lãi suất gián tiếp là
việc NHTW sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp để kiểm soát lãi
cũng ngày một được cải thiện theo hướng thoát dần ra khỏi ngưỡng nghèo của
thế giới. GDP bình quân đầu người tăng từ 402 USD năm 2000 lên 835 USD
năm 2007. Năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế không cao nhưng tốc độ tăng
tỷ giá VND/USD thấp và tốc độ tăng dân số chậm lại nên GDP bình quân đầu
người tính bằng USD đã cao hơn nhiều so với các năm trước, đạt 1024 USD.
Như vậy, Việt Nam đã về trước hai năm so với mục tiêu đến năm 2010.
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
9
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
1.2 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn là mục tiêu hàng đầu và quan trọng. Xu
hướng chuyển dịch là tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp-xây dựng và dịch
vụ, giảm tỷ trọng các ngành nông-lâm-ngư nghiệp. Trong những năm gần đây,
cơ cấu chuyển dịch chậm. Năm 2009, cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo
giá thực tế của 3 khu vực:
Nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây
dựng; dịch vụ lần lượt là 20,66%; 40,24%; 39,10%; không khác nhiều so với năm
2008 và những năm gần đây. Cơ cấu ngành, cơ cấu vùng và cơ cấu sản phẩm còn
bất hợp lý, chưa phát huy đầy đủ khả năng thế mạnh của mỗi địa phương, mỗi
vùng và cả nước.
Song song với sự chuyển dịch về cơ cấu giữa các ngành còn có sự
chuyển dịch đáng kể về thành phần kinh tế. Số lượng DNNN giảm từ hơn
12.000 năm 1992 xuống còn 1471 vào tháng 12/2009. Việc tổ chức lại khu vực
DNNN hình thành nên các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế lớn, đã hướng các
doanh nghiệp tập trung đầu tư vào những lĩnh vực then chốt. Từ năm 2003-
2007, DNNN đạt mức tăng trưởng từ 13%-16%, đóng góp khoảng 36%-39%
GDP. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp vai trò
quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa -
hiện đại hóa, nâng cao trình độ sản xuất. Với việc duy trì nhịp độ tăng trưởng
cao, giai đoạn 2003- 2007 tỷ trọng đóng góp của khu vực này trong GDP là
năm 2007 và 27,8% năm 2008.Tuy nhiên năm 2009 giảm còn 21,6%.
1.4 Thu chi ngân sách
Với mục tiêu cân đối ngân sách một cách tích cực, giữ bội chi ở mức
hợp lý, tăng dần dự trữ, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và phù hợp với lộ trình
hội nhập quốc tế, dự kiến tổng thu ngân sách trong 5 năm 2006-2010 đạt
khoảng 1.437 nghìn tỷ đồng, bằng 193% tổng thu ngân sách 5 năm 2001-2005
và bằng khoảng 23%/GDP. Tốc độ tăng thu ngân sách bình quân hàng năm đạt
12,9%. Riêng năm 2008, theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu NSNN ước
tính tăng 26,3% so với năm 2007 và bằng 123,8% dự toán năm. Cơ cấu thu
chuyển dịch theo hướng tỷ trọng các nguồn thu nội địa tăng lên, tỷ trọng thu từ
dầu thô sẽ giảm xuống.
Đối với chi NSNN, qui mô chi vẫn còn đạt ở mức cao, bình quân trên
28%/GDP trong giai đoạn 2003-2006. Năm 2007 tổng chi NSNN đạt
34,91%/GDP. Tổng chi NSNN năm 2008 ước tính tăng 22,3% so với năm
2007 và bằng 118,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng
118,3%, bội chi NSNN năm 2008 ước tính bằng 13,7%. Giai đoạn 2006-2010,
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
11
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
cơ cấu chi NSNN dự kiến sẽ chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng chi trả nợ,
viện trợ, đảm bảo tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển chiếm khoảng 28-
29%/GDP tổng chi NSNN.
2.Chính sách của NHNN
2.1 Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8/2000-5/2002)
2.1.1. Nguyên nhân hình thành cơ chế
Trước tháng 8/2000 NHNN sử dụng
cơ chế điều hành lãi suất trần (1996-
7/2000). Tuy nhiên, cơ chế này có nhiều hạn chế:
- Lãi suất thị trường vẫn bị khống chế bằng biện pháp hành chính của nhà
nước, không phản ánh đúng cung- cầu vốn thị trường, làm hạn chế cạnh tranh
các khách hàng như trước đây. Như vậy, cạnh tranh trong hệ thống các TCTD
sẽ gia tăng và hiệu quả phân bổ vốn cũng sẽ được cải thiện. Hơn thế nữa, lãi
suất cho vay thực tế của ngân hàng mặc dù không đụng giới hạn biên độ nhưng
có xu hướng thay đổi cùng với lãi suất cơ bản.
2.2 Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6/2002 đến tháng 05/2008)
2.2.1 Nguyên nhân hình thành cơ chế
Chính sách lãi suất áp dụng trong giai đoạn trước 6/2002 có những hạn
chế như:
- Cơ chế lãi suất cơ bản vẫn còn sự can thiệp hành chính của nhà nước
đối với lãi suất thị trường và điều hành chưa linh hoạt.
- Việc điều chỉnh các mức lãi suất chính thức của NHNN có tác động
hạn chế và có độ trễ khá lớn với lãi suất thị trường.
Năm 2002 và những năm tiếp theo, nền kinh tế được dự báo là tiếp tục
ổn định và phát triển, NHNN có khả năng điều tiết và kiểm soát lãi suất thị
trường bằng công cụ gián tiếp, hệ thống NHTM đang tiến hành cơ cấu lại; lãi
suất cho vay bằng ngoại tệ đã được tự do hóa từ tháng 6/2001. Do đó cần có sự
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
13
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
cởi trói cho các TCTD trong hoạt động kinh doanh, tạo điều kiện cho các
TCTD chủ động trong hoạt động huy động vốn và cho vay đối với khách hàng.
Cần tạo ra sự sôi động trong hoạt động kinh doanh và cạnh tranh của các
TCTD. Theo đó, NHNN đã thực hiện chính sách lãi suất thích hợp nhằm góp
phần kiểm soát lạm phát và thúc đẩy kinh tế ở mức cao, bền vững.
2.2.2 Nội dung
Từ ngày 1/6/2002 NHNN quyết định chuyển sang cơ chế lãi suất thoả
thuận đồng Việt Nam của các TCTD đối với khách hàng. Nếu như với cơ chế
lãi suất cơ bản, trong các tháng đầu năm của năm 2002, lãi suất huy động vốn
dừng lại ở mức 0,6%/tháng, lãi suất cho vay bình quân là 0,7%/tháng, thì từ
khi áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận từ tháng 6/2002 và nhất là trong các
26/2/2008 đến 18/5/2008. Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số
16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng
Đồng Việt Nam.
Nội dung Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN:
Thứ nhất, các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động vốn,
lãi suất cho vay) bằng Đồng Việt Nam đối với khách hàng theo nguyên tắc lãi
suất kinh doanh không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố
áp dụng trong từng thời kỳ. Định kỳ hàng tháng, NHNN công bố lãi suất cơ
bản.
Thứ hai, quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 19 tháng 5 năm
2008. Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 về việc
thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng
đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành. Theo đó,
việc huy động vốn bằng VND của các TCTD phù hợp với quy định về cơ chế
điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy động 12%/năm theo công điện
số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 hết hiệu lực thi hành.
Trước những tín hiệu khả quan về kinh tế vĩ mô và kết quả kiềm chế
lạm phát của nước ta từ tháng 7/2008, NHNN đã từng bước nới lỏng CHÍNH
SÁCH TIỀN TỆ bằng các giải pháp linh hoạt. Cụ thể điều chỉnh giảm dần các
mức lãi suất chỉ đạo như lãi suất cơ bản giảm từ 14% xuống 13% và
8,5%/năm; lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15% xuống 14%; lãi suất tái chiết khấu
giảm từ 13% xuống 12%; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử
liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ giảm từ
15% xuống còn 14%/năm; và tiếp tục giảm các mức lãi suất trên trong tháng
12/2008 ở mức hợp lý. Tăng lãi suất tiền gửi DTBB bằng đồng Việt Nam đối
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
15
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
với các TCTD từ 5% lên 10%/năm; giảm 1% tỷ lệ DTBB tiền nội tệ và 2%
DTBB tiền gửi ngoại tệ áp dụng cho các TCTD. Đến tháng 11/2008 giảm lãi
tăng so với mức lạm phát năm 2002, cung về vốn lớn hơn cầu. Song từ tháng
1/2003-6/2003 lãi suất huy động tăng liên tục, chủ yếu là các kỳ hạn từ 6 tháng
và 12 tháng, mức tăng khoảng 0,24- 0,6%/năm, trong khi đó lãi suất cho vay
nhìn chung ổn định, từ tháng 7/2003 lãi suất giảm 0,6-1%/năm. Và 6 tháng đầu
năm 2006 cũng như vậy, các yếu tố làm giảm nhiều hơn các yếu tố tác động
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
17
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
tăng lãi suất, như kỳ vọng lạm phát 7,5-8% thấp hơn năm 2005, mức độ tăng
trưởng kinh tế thấp hơn. Mặc dù xu hướng lãi suất trên thị trường quốc tế vẫn
tăng, cung về vốn VND ngắn hạn tăng hơn cầu, nhưng lãi suất vẫn có xu
hướng tăng.
2.4.3 Điều hành lãi suất để kiểm soát lạm phát
Trong giai đoạn 2001-2007, chính sách lãi suất đã từng bước được điều
chỉnh. Tuy nhiên, năm 2001, lãi suất thực dương quá cao nên đã đưa đến lạm
phát thấp, lãi suất thực dương lớn gấp 5,75 lần tỷ lệ lạm phát. Năm 2002 lãi
suất thực dương có giảm xuống, chỉ lớn bằng 0,5 lần tỷ lệ lạm phát nên lạm
phát đã nhích lên ở mức hợp lý là 4,0%. Năm 2007, lãi suất thực dương là âm
nên tỷ lệ lạm phát tăng cao.
Năm 2007, lạm phát ở Việt Nam lại tăng cao lên 12,63%, đó là hậu quả
của CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ nới lỏng và tăng trưởng nóng trong hai năm
2006-2007. Đến hết tháng 06/2008, lạm phát đã là 18,44% so với 31/12/2007
và 24,8% so với cùng kỳ năm trước. Xuất phát từ bối cảnh trên, các quyết sách
lớn từ phía Chính phủ và NHNN đã được triển khai. Ban đầu sử dụng công cụ
DTBB theo quyết định số 187/QĐ-NHNN ngày 16/1/2008 và phát hành tín
phiếu bắt buộc theo quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/2/2008 để rút bớt
tiền từ lưu thông về, việc này đã có hiệu quả rõ rệt, bước đầu đã làm giảm bớt
một phần lượng tiền từ các NHTM, giảm đáng kể hệ số nhân tiền, nhưng lại
nẩy sinh tình trạng khó khăn thanh khoản cho các NHTM. Từ đó, làn sóng tăng
lãi suất trong huy động dấy lên, từ tháng 2/2008 lãi suất huy động trên thị
hơn (âm 0,76%) và tháng 12/2008 chỉ số giá cả vẫn tiếp tục giảm còn 0,68%,
cả năm 2008 mức lạm phát là 19,98%. Như vậy, NHNN đã điều hành chính
sách lãi suất kiềm chế lạm phát một cách hiệu quả.
Hình 2.4 : Lãi suất cơ bản và lạm phát năm 2008
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
19
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam – Kinh tế 2008-2009
2.4.4 Điều hành lãi suất ổn định tỷ giá hối đoái
Từ năm 2000, NHNN đã bắt đầu thực thi một chính sách tỷ giá ổn định
tương đối cho đến giữa năm 2008, theo đó, trong vòng gần 10 năm liền, về mặt
danh nghĩa chỉ mất giá hơn 20% so với USD. Tức khoảng 2%/năm. Chính sách
duy trì ổn định tỷ giá một cách tương đối từ năm 1998 đã góp phần duy trì một
môi trường kinh tế ổn định cho các hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư của
Việt Nam.Tuy nhiên, những nền tảng kinh tế cơ bản cho việc duy trì sự ổn định
của tỷ giá hối đoái đã bắt đầu xói mòn kể từ năm 2004, khi lạm phát bắt đầu
gia tăng (là hệ quả của chính sách tiền tệ mở rộng nhằm kích cầu nội địa).
Sau khi gia nhập WTO năm 2007, sức ép đối với tỷ giá VND/USD gia
tăng mạnh mẽ hơn khi NHNN bơm một lượng lớn vào thị trường để mua 10 tỷ
USD của các nhà đầu tư nước ngoài, trong khi chính sách trung hòa không
thực hiện được kịp thời. Tốc độ tăng trưởng tín dụng khủng khiếp trong năm
2007 cũng tạo một sức ép vô cùng lớn lên tỷ giá (tính đến ngày 31/12/2007,
tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế năm 2007 tăng 58% so với năm 2006). Đến
giữa năm 2008 sức ép lên tỷ giá VND/USD đã gia tăng mạnh mẽ.
Lạm phát và nhập siêu gia tăng đã thúc đẩy người dân và doanh nghiệp
chuyển tài sản từ sang USD làm cho tỷ giá hối đoái năm 2008 có lúc lên đến
mức 19.500 VND/USD. Do đó, NHNN buộc phải thi hành một loạt các biện
pháp thắt chặt tiền tệ. Kết quả là động thái dứt khoát của NHNN đã đưa tỷ giá
VND/USD trên thị trường tự do về xung quanh mức 16.600 VND/USD.
Sau khi NHNN liên tục hạ lãi suất, tỷ giá VND/USD đã liên tục gia tăng.
giảm chỉ còn 10,5%/năm có hiệu lực kể từ ngày 10/02/2009.
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
21
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
3.2 Những hạn chế, tồn tại
- Lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu chưa thực sự
phát huy được vai trò định hướng thị trường, mối quan hệ giữa các lãi suất của
NHNN và lãi suất thị trường còn chưa thật gắn kết chặt chẽ.
Lãi suất cơ bản cùng với lãi suất tái cấp vốn và chiết khấu được đưa vào
luật NHNN năm 1997 cũng như luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật về
NHNN năm 2003. Theo đó lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố làm cơ
sở cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh. Tuy nhiên, hơn 10 năm qua, điều
dễ dàng nhận thấy là vai trò thực tiễn của lãi suất cơ bản khá mờ nhạt, nếu
không có điều 476 của bộ Luật Dân sự năm 2005 thì rất ít người biết đến sự
tồn tại của lãi suất cơ bản. Trong năm 2008, khi cuộc đua lãi suất diễn ra, Hiệp
hội Ngân hàng đề nghị lên chính phủ xin sửa 150% trong điều 476 Bộ luật dân
sự lên thành 300% và đề nghị này bị từ chối thì dường như những người điều
hành chính sách mới nhớ đến vai trò của lãi suất cơ bản. Ngay sau đó lãi suất
cơ bản mới được điều chỉnh từ 8,75% lên 12% và cơ chế mới điều hành lãi suất
được công bố.
- NHNN còn sử dụng nhiều biện pháp hành chính can thiệp trực tiếp vào
điều hành chính sách lãi suất.
Mặc dù trong điều hành chính sách lãi suất, NHNN đã thay dần các công
cụ chính sách tiền tệ mang tính hành chính như hạn mức tín dụng, kiểm soát
trực tiếp lãi suất. Song khi hệ thống thể chế hỗ trợ thị trường còn yếu kém và
thiếu đồng bộ thì việc chuyển sang sử dụng các công cụ kiểm soát gián tiếp đã
làm cho NHNN bị hụt tay. Khi đó, NHNN chỉ có một con đường là lại tìm về
các công cụ hành chính. Quyết định 306 về việc buộc các NHTM phải mua tín
phiếu và phân bổ chỉ tiêu cho từng NHTM là minh chứng rõ nét nhất.
Tiếp đến, ngày 26/2/2008, NHNN đã có công điện gửi các chi nhánh
phí và lợi nhuận của các TCTD, thì lãi suất huy động tối đa của các tổ chức
này cũng chỉ có thể là 9,375%/năm, cho nên thấp rất xa so với lạm phát thực tế.
Đây là điều hết sức phi lý, bởi lạm phát năm 2006 chỉ 6,6%, trong khi các mức
lãi suất này thì vẫn giữ nguyên.
- Chính sách lãi suất không ổn định đã tác động tiêu cực đến đầu tư và
hiệu quả sản xuất.
Xu hướng tăng lãi suất ngân hàng sẽ luôn đi liền với xu hướng cắt giảm,
thu hẹp quy mô và phạm vi của các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền
Nguyễn Thanh Huyền Tài chính doanh nghiệp 49A
23