Tác động biến đổi khí hậu đến ngành trồng lúa tại tỉnh Lào Cai và đề xuất giải pháp ứng phó - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Đặng Thị Thanh Hoa
TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐẾN NGÀNH TRỒNG LÚA TẠI TỈNH LÀO CAI
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

tỉnh Lào Cai, Trung tâm tư vấn biến đổi khí hậu thuộc Viện Khoa học Khí tượng
Thủy văn và Môi trường đã tạo điều kiện cung cấp số liệu cũng như giúp đỡ em
trong quá trình tìm hiểu thực tế.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều
kiện của gia đình, bạn bè để em hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Học viên

Đặng Thị Thanh Hoa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Một số thuật ngữ, khái niệm về biến đổi khí hậu 3
1.2. Tổng quan về biểu hiện, tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp 5
1.2.1. Các nghiên cứu trước đây 5
1.2.2. Biểu hiện, diễn biến và xu thế diễn biến khí hậu 5
1.2.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp 14
1.2.4. Kịch bản biến đổi khí hậu 20
1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Lào Cai 32
1.3.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường 32
1.3.2. Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai đến năm 2015,
định hướng phát triển đến năm 2020 40
1.4. Thực trạng ngành trồng lúa tỉnh Lào Cai từ 2002 – 2012 43
CHƢƠNG 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 45
2.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 45
2.3. Nội dung nghiên cứu 45
2.4. Phương pháp nghiên cứu 45
2.4.1. Phương pháp chọn lọc, xử lý dữ liệu, số liệu có liên quan 45
2.4.2. Ứng dụng phần mềm DSSAT 46

DSSAT
Decision Support System for Agrotechnology Transfer
ĐBSCL
Đồng bằng Sông Cửu Long
IPCC
Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
NBD
Nước biển dâng
TDMNPB
Trung du miền núi phía Bắc
KNK
Khí nhà kính
XTNĐ
Xoáy thuận nhiệt đới


Bảng 3.4: Năng suất, Sản lượng lúa mùa theo huyện, thành phố thuộc tỉnh 54
Bảng 3.5. Số giờ nắng các tháng trong năm 60
Bảng 3.6. Lượng mưa các tháng trong năm 62
Bảng 3.7. Tổng hợp thiệt hại do thiên tai từ năm 2005 - 2011 tỉnh Lào Cai 64
Bảng 3.8. Tóm tắt các tác động chính của BĐKH đến ngành trồng lúa 72
Bảng 3.9: Diện tích dự kiến trồng cây thuốc lá toàn vùng theo giai đoạn 79
Bảng 3.10: Quy mô và phân nhóm đất vùng đề xuất trồng thuốc lá Lào Cai 81
Bảng 3.11: Quy mô đất phân theo mức độ thích hợp 82
Bảng 3.12: Diện tích, năng suất, sản lượng thuốc lá nguyên liệu tư
̀
2005 - 2011 82
Bảng 3.13: Đặc điểm quy mô dân cư và thành phần dân tộc trong vùng năm 2007 83
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Biến đổi của nhiệt độ bề mặt Trái Đất theo thời gian 6
Hình 1.2. Xu hướng biến đổi một số khí nhà kính đến 2005 7
Hình 1.3. Biến đổi mực nước biển theo thời gian 8
Hình 1.4. Dự tính biến đổi nồng độ một số khí gây hiệu ứng nhà kính đến năm 2050 và 2100 21
Hình 1.5. Dự tính sự thay đổi nhiệt độ Trái Đất đến năm 2100 22
Hình 1.6. Dự tính sự thay đổi của mực nước biển đến năm 2100 23
Hình 1.7. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm các trạm tại Lào Cai so với kịch bản 1980 -
1999 theo kịch bản phát thải B1, B2, A2 27
Hình 1.8. Biểu đồ kịch bản lượng mưa trung bình năm các trạm Bắc Hà, SaPa, Phố Ràng 31
Hình 1.9. Bản đồ hành chính tỉnh Lào Cai 33
Hình 1.10. Bản đồ địa hình tỉnh Lào Cai. 34
Hình 1.9: Biểu đồ sự biến thiên Nhiệt độ trung bình tháng các trạm tại Lào Cai giai đoạn
1980 - 2010 (
0
C). 35
Hình 1.10. Mạng lưới thủy văn tỉnh Lào Cai. 38
Hình 3.1: Địa hình tỉnh Lào Cai nhìn từ ảnh vệ tinh và các vùng tiểu khí hậu chính theo các

ở vị trí thấp so với mực nước biển. Kết quả đánh giá từ các nghiên cứu này dự báo
rằng đến năm 2050, khoảng 150 triệu người có thể phải rời khỏi những khu vực
duyên hải do nước biển dâng làm ngập lụt, sạt lở đất và xâm nhiễm mặn. Đến năm
2080, sản lượng ngũ cốc sẽ giảm 2 - 4% trong khi giá ngũ cốc có thể tăng 13 - 45%,
và nạn đói có thể tác động đến 35 - 60% dân số thế giới; mực nước biển dâng nhanh
có thể gây ngập lụt và xâm nhập mặn ở những vùng đất thấp do đó ảnh hưởng đến
nông nghiệp, công nghiệp và hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai. Nếu dự báo
này xảy ra, biến đổi khí hậu sẽ gây ra những thay đổi lớn ở một số khu vực trên thế
giới, đẩy nhiều vùng trở thành các khu vực đói nghèo do thiên tai, hạn hán,
Việt Nam, một nước đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, nằm
trong nhóm nước dễ bị tổn thương do BĐKH. Theo các kịch bản BĐKH đối với
nhiệt độ và lượng mưa được xây dựng cho bảy vùng khí hậu của Việt Nam (Tây
Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và
Nam Bộ), lượng mưa mùa khô có thể giảm ở hầu hết các vùng khí hậu của nước ta.
Ngược lại, lượng mưa mùa mưa và tổng lượng mưa năm có thể tăng ở tất cả các
vùng khí hậu. Theo kịch bản BĐKH đối với nhiệt độ, mùa đông có thể tăng nhanh
hơn so với nhiệt độ mùa hè ở tất cả các vùng khí hậu của nước ta.
Tình hình BĐKH ở Lào Cai đã ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và sinh kế của
các cộng đồng dân cư nghèo. Đây là một trong những địa phương chịu nhiều thiên
tai trên cả nước. Nhiều dấu hiệu cực đoan khí hậu thay đổi ngày càng khắc nghiệt
Luận văn tốt nghiệp Đặng Thị Thanh Hoa – K19 CH MT
Khoa Môi trường 2 Trường ĐH Khoa học tự nhiên

đã xảy ra, gây thiệt hại về cả người và của như những đợt rét kéo dài làm chết hàng
ngàn gia súc, những trận lụt ngày càng dữ dội, liên tiếp xảy ra ở khu vực phía Bắc.
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Ban liên chính phủ về BĐKH lần thứ 4 (IPCC
AR4) 2007 thì năng suất lúa sẽ bị giảm khoảng 10% khi nhiệt độ không khí tăng
thêm 1
o
C, như vậy thì ngành nông nghiệp nói chung và ngành trồng lúa nói riêng sẽ

- Các mô hình tác động – Impact Models: Các chương trình máy tính dùng
để ước tính tác động của một biến đổi khí hậu cụ thể đối với các hệ thống tự nhiên,
xã hội hay kinh tế.
- Đánh giá tác động môi trƣờng – Environmental Impact Assessment
(EIA) : Sự đánh giá có tính phê phán, vừa về mặt tích cực lẫn tiêu cực, về các tác
động có thể có của một đề xuất dự án, triển khai hoạt động hay chính sách về mặt
môi trường.
- Giảm nhẹ biến đổi khí hậu – Climate change mitigation: Là các hoạt
động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính.
- Hệ thống khí hậu (bổ sung) – Climate system: Toàn bộ khí quyển, thủy
quyển, sinh quyển và thạch quyển cùng các tương tác của chúng thể hiện các điều
kiện trung bình và cực trị của khí quyển trong một thời kỳ dài tại bất cứ khu vực
nào của bề mặt trái đất.
- Khí tƣợng nông nghiệp – Agricultural Meteorology: Là môn khoa học
nghiên cứu các điều kiện khí tượng, khí hậu và thủy văn liên quan có ảnh hưởng và
tác động đến cây trồng, vật nuôi và sản xuất nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp,
lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy lợi, nuôi trồng thủy sản).
Luận văn tốt nghiệp Đặng Thị Thanh Hoa – K19 CH MT
Khoa Môi trường 4 Trường ĐH Khoa học tự nhiên

- Kịch bản biến đổi khí hậu – Climate scenario: Là giả định có cơ sở khoa
học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế
- xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Lưu
ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó
đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động.
- Tăng trƣởng của cây trồng và điôxit cacbon – Crop Growth and
Carbon Dioxide: Có những khác biệt lớn trong các ước tính tác động thuần của
việc tăng điôxit cacbon và nóng lên toàn cầu đối với nền nông nghiệp toàn cầu. Một
số người dự đoán sẽ có những điều kiện tồi tệ hơn trong nông nghiệp, những người
khác lại lạc quan hơn. Điều này không có gì lạ vì có những điều không chắc chắn và

Khác với xu thế biến đổi tự nhiên của hệ thống khí hậu và thời tiết trên Trái
Đất, hiện tượng nóng lên của Trái Đất do hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp của con
người gây ra thay đổi các thành phần trong khí quyển toàn cầu gọi là biến đổi khí
hậu (BĐKH -Climate Change).
Đứng trước những nguy cơ bị tác động do BĐKH, thế giới đã có nỗ lực trong
các hành động ứng phó như: Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH
(UNFCCC); Nghị định thư Kyoto (KP); Hội nghị các bên tham gia Công ước khung
của Liên Hợp Quốc về BĐKH (COP); và hàng loạt các hoạt động, tài liệu về việc
giảm phát thải KNK, thích ứng với BĐKH và bảo vệ môi trường.
1.2.2. Biểu hiện, diễn biến và xu thế diễn biến khí hậu
1.2.2.1. Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới
Theo số liệu quan trắc khí hậu ở các nước cho thấy, Trái Đất đang nóng lên
với sự gia tăng của nhiệt độ bình quân toàn cầu và nhiệt độ nước biển; băng và tuyết
đã và đang tan trên phạm vi rộng làm cho diện tích băng ở Bắc Cực và Nam Cực
thu hẹp đáng kể, dẫn đến mực nước biển dâng cao.
(i) Nhiệt độ khí quyển tăng nhanh
Theo các kết quả đánh giá của IPCC, 2001, 2007 trong các báo cáo kỹ thuật
1 và 4 cho thấy nhiệt độ trái đất tăng mạnh ở hầu hết các khu vực trên thế giới, giai
đoạn sau tăng nhanh hơn giai đoạn trước. Theo ước tính nhiệt độ toàn cầu tăng
0,74
0
C trong giai đoạn 1906-2005; 1,28
0
C giai đoạn 1956-2005 và được dự báo quá
trình này còn tăng mạnh hơn nữa trong các thập niên tiếp theo (Hình 1.1). Tuy
nhiên, điều đáng chú ý là nhiệt độ lại tăng mạnh vào mùa nóng và giảm mạnh vào
Luận văn tốt nghiệp Đặng Thị Thanh Hoa – K19 CH MT
Khoa Môi trường 6 Trường ĐH Khoa học tự nhiên

mùa đông làm cho khí hậu toàn cầu ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn đặc biệt đối

là những khí chỉ mới xuất hiện
sau cuộc cách mạng công nghiệp [1].

Hình 1.2. Xu hướng biến đổi một số khí nhà kính đến 2005
( Nguồn: IPCC, 2007)
(ii) Hiện tượng băng tan nhanh và nước biển dâng cao
Nhiệt độ toàn cầu tăng lên làm cho băng ở vùng Bắc Cực tan nhanh. Kết quả
nghiên cứu của IPCC, 2007 cũng chỉ ra rằng lượng băng che phủ Bắc Cực giảm
mạnh, trung bình trên 2,7%/thập kỷ, nhiều vùng trước đây được che phủ bằng lớp
băng dầy, nay đã bị tan, nhiều tảng băng lớn hàng trăm ngàn km
2
đang trôi trên đại
dương và đang hướng về nước Úc (IPCC, 2007). Hậu quả của hiện tượng băng tan
Luận văn tốt nghiệp Đặng Thị Thanh Hoa – K19 CH MT
Khoa Môi trường 8 Trường ĐH Khoa học tự nhiên

làm cho mực nước biển dâng cao. Kết quả thống kế của IPCC và các cơ quan
nghiên cứu của Mỹ, Úc cho thấy nước biển toàn cầu dâng trung bình 1,8mm/năm
giai đoạn 1961-2003 và 3,1 mm/năm giai đoạn 1993 - 2003, đạt 0,31 m trong một
thế kỷ gần đây. IPCC và nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đều dự
báo rằng mực nước biển tiếp tục tăng trong những thập kỷ tiếp theo và có thể đạt
100cm vào năm 2100.
Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên với mức tăng trung bình
khoảng 1,7 ± 0,5 mm/năm trong thời kỳ từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20; 1,8 ±
0,5 mm/năm trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 2003 và đặc biệt tăng nhanh
trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003 với mức 3,1 ± 0,7 mm/năm (theo IPCC).
Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn đến sự ngập úng của các vùng đất thấp,
các đảo nhỏ trên biển (Hình 1.3).

Hình 1.3. Biến đổi mực nước biển theo thời gian

Bộ có nhiệt độ tháng 1 tăng chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc ( khoảng
0,6 – 0,9
o
C /50 năm). Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã
tăng lên 1,2
o
C trong 50 năm qua. Nhiệt độ tháng 7 tăng khoảng 0,3 – 0,5
o
C/50 năm
trên tất cả các vùng khí hậu của nước ta. Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5 – 0,6
o
C/
50 năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên
và Nam Bộ còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ
vào khoảng 0,3
o
C/ 50 năm [11]. Tính cực đoan của sự gia tăng nhiệt độ theo mùa sẽ
gây hậu quả không nhỏ đến việc bố trí cơ cấu mùa vụ trồng trọt.
Đối với lượng mưa: Lượng mưa mùa ít mưa (tháng 11 – 4) tăng lên chút ít
hoặc không thay đổi đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các
vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua. Lượng mưa mùa mưa nhiều (tháng 5 –
Luận văn tốt nghiệp Đặng Thị Thanh Hoa – K19 CH MT
Khoa Môi trường 10 Trường ĐH Khoa học tự nhiên

10) giảm từ 5 đến 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng 5
đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua. Xu thế diễn biến của
lượng mưa năm hoàn toàn tương tự như lượng mưa mùa mưa nhiều, tăng ở các
vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc. Khu vực Nam Trung
Bộ có lượng mưa mùa ít mưa, mùa mưa nhiều và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so
với các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua [11]. Như vậy,

rét hại, rét đậm kéo dài hơn như đợt lạnh năm 2008 kéo dài 38 ngày đã gây thiệt hại
lớn cho trồng trọt như chết mạ, lúa kém phát triển, nhiều diện tích cây trồng bị chết
do rét hại, trâu bò bị chết rét, nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản không thể phát triển
và bị ảnh hưởng nặng nề bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan trên.
Tác giả Nguyễn Văn Thắng [5] cho rằng, trong khoảng 5 – 6 thập kỷ gần
đây, tần số XTNĐ hoạt động trên Biển Đông tăng lên với tốc độ 0,4 cơn mỗi thập
kỷ, tần số XTNĐ ảnh hưởng đến Việt Nam với tốc độ 0,2 cơn mỗi thập kỷ, tần số
FRL giảm đi với tốc độ 0,02 đợt mỗi thập kỷ, nhiệt độ trung bình tăng lên với tốc
độ 0,12 – 0,18
0
C mỗi thập kỷ, lượng mưa ở Miền Bắc phổ biến giảm đi, ở Miền
Luận văn tốt nghiệp Đặng Thị Thanh Hoa – K19 CH MT
Khoa Môi trường 11 Trường ĐH Khoa học tự nhiên

Nam phổ biến tăng lên. Đặc biệt, mực nước biển trung bình cũng tăng lên với tốc độ
3 – 4 cm mỗi thập kỷ xấp xỉ mức tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu.
(ii) Nước biển dâng
Nước ta có diện tích đất nông nghiệp lớn dọc theo bờ biển do vậy chắc chắn
sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi mực nước biển dâng cao.
Số liệu mực nước quan trắc cho thấy xu thế biến đổi mực nước biển trung
bình năm không giống nhau tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam. Trên dải ven
biển Việt Nam, mặc dù hầu hết các trạm có xu hướng mực nước trung bình năm
tăng, tuy nhiên, một số ít trạm lại có xu hướng mực nước giảm. Xu thế biến đổi
trung bình của mực nước biển dọc bờ biển Việt Nam là khoảng 2,8mm/năm [3].
Số liệu mực nước đo đạc từ vệ tinh từ năm 1993 đến năm 2010 cho thấy, xu
thế tăng mực nước biển trên toàn biển Đông là 4,7mm/năm, phía Đông của biển
Đông có xu thế tăng nhanh hơn phía Tây. Chỉ tính cho dải xen bờ Việt Nam, khu
vực ven biển Trung Trung Bộ và Tây Nam Bộ có xu hướng tăng mạnh hơn, trung
bình cho toàn dải ven biển Việt Nam tăng khoảng 2,9 mm/năm [11].
Kết quả này cho thấy rằng nước biển dâng cao trong khi mực nước ở các

1
2
2
1
1
n
t
t
S x x
n







Trong nhiều trường hợp có thể coi phạm vi dao động phổ biến của yếu tố x là x±S
- Biến suất (Sr): ước lượng biến đổi tương đối của yếu tố khí hậu
100%
S
Sr
x


- Cực đại của chuỗi xt (Max): là trị số lớn nhất trong chuỗi thời gian (xt}
Max X = Max (x1, x2, …, xn-1, xn)
- Cực tiểu của chuỗi xt (Min): là trị số nhỏ nhất trong chuỗi thời gian (xt}
Min X = Min (x1, x2, …, xn-1, xn)
* Mức độ biến đổi về nhiệt độ

C (SaPa - 2008).
- Mức độ biến đổi của các yếu tố cực trị:
+ Biến đổi về nhiệt độ cao nhất (Tx). Độ lệch chuẩn của nhiệt độ cao nhất khoảng
1,4 - 2,5
0
C trong tháng 1; 1,2 – 1,4
0
C trong tháng 4; 0,6 – 1,6
0
C trong tháng 7; 0,9
– 1,0
0
C trong tháng 10, với biến suất tương ứng là 7 – 19 %; 4 – 6 %; 2 – 6 %; 3 –
5 % tương đối lớn trong tháng 1. Nhiệt độ cao nhất năm có độ lệch chuẩn là 0,4 –
0,7
0
C và biến suất là 2 – 3 %. Giá trị cao nhất của Tx là 35,2
0
C (Phố Ràng, 8 –
1990) và thấp nhất là 9,7
0
C SaPa, 1 – 1983, 1984).
+ Biến đổi về nhiệt độ thấp nhất (Tn): Độ lệch chuẩn của nhiệt độ thấp nhất trong
khoảng 1,2
0
C – 2,1
0
C trong tháng 1; 0,9 – 1,7
0
C trong tháng 4; 0,3 – 1,3

năm 1984; cuối năm 1985 đến đầu năm 1986; cuối năm 1990 đến đầu năm 1991;
cuối năm 1993 đến đầu năm 1994; cuối năm 1998 đến đầu năm 1999; nguyên nhân
là do gió Lào.
* Biểu hiện của các hiện tượng khí hậu cực đoan:
Trong những năm qua dưới tác động của BĐKH trên địa bàn tỉnh Lào Cai
các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai như lốc xoáy, lũ lụt, lở đất, lũ quét, rét
đậm rét hại kéo dài, cháy rừng quy mô lớn…, có xu hướng gia tăng cả về tần số và
cường độ. Đây là mối đe doạ thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả các
lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng.
Thực tế cho thấy, những năm gầy đây do tác động của biến đổi khí hậu, các
hiện tượng cực đoan xảy ra ngày càng nhiều: các đợt không khí lạnh gây rét đậm,
rét hại kéo dài như đợt rét đậm, rét hại 38 ngày ở Bắc Bộ trong tháng 1 – 2/2008,
nước sông Hồng cạn xuống mức thấp kỷ lục (0,47m) trong năm 2009 , Đặc biệt tại
SaPa, Bắc Hà, Mường Khương, Bát Xát thường xuyên xảy ra rét đậm, rét hại và
băng giá gây ảnh hưởng tới đời sống nhân dân.
1.2.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
1.2.3.1. Trên thế giới
BĐKH gây ảnh hưởng lớn đối với sản xuất nông nghiệp ở các vùng sinh thái
trên thế giới. (IPCC, 2007, Stern, 2009). Những nghiên cứu này được thể hiện ở các
khía cạnh sau:
- Khi nhiệt độ tăng sẽ ảnh hưởng đến khả năng phát sinh, phát triển của cây trồng,
vật nuôi làm cho năng suất và sản lượng thay đổi.
- Khi nhiệt độ tăng làm suy giảm tài nguyên nước, nhiều vùng không có nước và
không thể tiếp tục canh tác dẫn đến diện tích canh tác giảm.
- Khi nhiệt độ tăng làm cho băng tan, dẫn đến nhiều vùng đất bị xâm lấn, ngập mặn
và không tiếp tục canh tác các loại cây trồng hoặc làm giảm năng suất.
Luận văn tốt nghiệp Đặng Thị Thanh Hoa – K19 CH MT
Khoa Môi trường 15 Trường ĐH Khoa học tự nhiên

- Thay đổi về các điều kiện khí hậu sẽ làm suy giảm đa dạng sinh học, làm mất cân

Luận văn tốt nghiệp Đặng Thị Thanh Hoa – K19 CH MT
Khoa Môi trường 16 Trường ĐH Khoa học tự nhiên

trọng (Đào Xuân Học, 2009). BĐKH làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài
thiên địch do vậy sẽ làm gia tăng dịch bệnh như vàng lùn, rầy nâu, lùn xoắn lá,… gây
thiệt hại lớn cho năng suất và chi phí sản xuất (MARD, 2008, Thể, T.V., 2009) [11].
1.2.3.3. Đánh giá thiệt hại do thiên tai gây ra đối với nông nghiệp.
a. Thiệt hại do thiên tai, hạn hán, lũ lụt
Thiên tai gây ra những thiệt hại to lớn đối với nền kinh tế của nước ta. Bão
gây thiệt hại cho ngư dân đánh bắt cá trên biển, tàn phá các cơ sở nuôi trồng thuỷ
sản, tàn phá hệ thống đê ngăn mặn đưa nước mặn xâm nhập vào đồng ruộng và các
khu vực dân cư ven biển, gió mạnh của bão gây thiệt hại về nhà cửa, công trình, cây
trái và mùa màng nhất là vùng đồng bằng sông Hồng và Miền Trung. Trong những
năm gần đây bão ảnh hưởng đến những vùng vĩ độ thấp, đặc biệt là cơn bão số 5 đổ
bộ vào vào Nam bộ đầu tháng 11 năm 1997 đã gây nhiều thiệt hại cho ngư dân vùng
ngư trường rộng lớn phía Nam, nơi trước đây ít chịu ảnh hưởng của bão.
Lũ trong các sông lớn luôn là sức ép đối với trên 3000 km đê sông ở miền
Trung, đe doạ ngập lụt, tàn phá các khu dân cư, các vùng kinh tế quan trọng của đất
nước. Trên hệ thống đê sông Hồng ở Bắc Bộ và sông Cửu Long ở Nam Bộ lũ đe
doạ gây ngập lụt hàng triệu ha đất canh tác, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu
người dân. Những trận lụt năm 1945, 1969, 1971, 1986, 1996 ở trên hệ thống sông
Hồng, các năm 1961, 1966, 1978, 1984, 1995, 1996 ở Đồng bằng sông Cửu Long
thực sự là các thiên tai mang tính quốc gia. Những thiệt hại do bão, lũ gây ra ở Việt
Nam trong hơn hai thập kỷ qua (theo tài liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn). Thực tế cho thấy thiệt hại lớn nhất từ trước đến nay là do bão, lũ
gây ra năm 1996, sau đó là năm 1994 , 1986 và năm 1995, 1998, 2000 ( hầu hết
những năm này đều thiệt hại trên 100 triệu USD [11].
Kết quả thống kê số lượng bão tăng qua các năm, nhưng điều đáng chú ý hơn
là bão giai đoạn 1990 - 2008 thường đến muộn hơn. Nếu như giai đoạn 1950 - 1960,
bão thường đổ bộ vào Việt Nam vào tháng 8 thì giai đoạn 1990 - 2000 bão lại

1996
2.463.861,0

178,5

7.798.410,0

565,1

31,6

1997
1.729.283,0

124,4

7.730.047,0

556,1

22,4

1998
285.216,0

20,4

1.797.249,0

128,4

3.370.222,0

231,5

2,4

2006
954.690,0

61,2

18.565.661,0

1.190,1

5,1

2007
432.615,0

27,7

11.513.916,0

738,1

3,8

Thiệt hại
TB/năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status