BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở
TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ
Sinh viên thực hiện : Vũ Minh Phương
Lớp
: ĐH3KB2
MSV
: DH00301657
Giảng viên
:Th.S Nguyễn Thị Thùy Linh
HÀ NỘI, THÁNG 2 – NĂM 2017
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH
: Biến đổi khí hậu
ĐBSCL
: Đồng bằng Sông Cửu Long
NTTS
: Nuôi trồng thủy sản
HST
: Hệ sinh thái
CN&BCN
: Công nghiệp và bán công nghiệp
GTSX
: Giá trị sản xuất
MỤC LỤC
thi hành cam kết của mình về thích ứng và giảm nhẹ với BĐKH.
Biến đổi khí hậu cũng tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng ngập mặn làm
mất dần các bãi sinh sản tự nhiên của nhiều loài sinh vật, cạn kiệt nguồn lợi thủy sản
tự nhiên, làm mất dần diện tích thuận lợi cho phát triển nuôi thủy sản. Năng suất nuôi
tôm quảng canh trong rừng ngập mặn bị giảm sút từ khoảng 200kg/ha/vụ ( năm 1980)
đến nay thì chỉ còn 80kg/ha/vụ. Rừng ngập mặn trước đây có thể khai thác được
800kg/ha nhưng nay chỉ còn 1/20 so với lúc trước. Đã có khoảng 100 loài hải sản có
`
1
mức độ nguy hiểm khác nhau và trên 75 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam.
Nguồn lợi thủy sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng, số lượng và kích thước đánh
bắt.
An Giang là một trong những tỉnh có tiềm lực kinh tế lớn ở đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL). Với những yếu tố thuận lợi về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên
nhiên và vị trí phân bố lãnh thổ, An Giang được xem là một trong những địa phương
giàu tiềm năng về phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp, thủy sản, kinh tế cửa
khẩu, công nghiệp chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng và dịch vụ du lịch. Điều này đã
tạo ra một động lực lớn để đẩy mạnh tiến trình phát triển kinh tế chung của cả khu vực
ĐBSCL trong nhiều năm tới.
Thủy sản là ngành kinh tế quan trọng, đóng góp lớn thứ hai (sau nông nghiệp) và
đóng góp lớn nhất vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh trong vòng 10 năm qua. Nuôi
trồng thuỷ sản (NTTS) là ngành kinh tế có tiềm năng phát triển của tỉnh An Giang.
Những năm gần đây NTTS của tỉnh đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được
nhiều thành tựu to lớn, góp phần thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
An Giang. Ngành có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần xóa đói giảm
nghèo, cung cấp dinh dưỡng và nâng cao thu nhập cho nhân dân và từng bước nâng
ổn định cuộc sống người dân nơi đây trong sinh hoạt và sản xuất, thích ứng với diễn
biến nước biển dâng và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
2, Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu chung: Đánh giá những tác động do biến đổi khí hậu đối với hoạt
động nuôi trồng thủy sản ở tỉnh An Giang.
- Mục tiêu cụ thể: Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành
thủy sản ở An Giang.
Xác định, đề xuất các lựa chọn thích nghi những ảnh hưởng tích cực của nước
biển dâng. Từ đó đưa ra các biện pháp thích nghi và giảm nhẹ, nâng cao nhận thức của
cộng đồng về nuôi trồng thủy sản.
3, Đề xuất phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu nhập tài liệu: Tìm hiểu, thu thập số liệu dựa trên các tài liệu
có sẵn và từ thực tế.
- Phương pháp thống kế: Thu thập và xử lý các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội của tỉnh An Giang.
- Phương pháp thực nghiệm: Thu thập thông tin, dữ liệu từ quan sát, tìm hiểu
thực tế.
- Phương pháp tính toán dự báo tốc độ nuôi trồng thủy sản: Từ năm 2015 tới năm
2020.
- Phương pháp phân tích đánh giá.
- Các phương pháp khác: được thể hiện qua word, Auto cad.
`
3
4, Tóm tắt nội dung
- Chương I: Tổng quan điều kiện tự nhiên tỉnh An Giang.
- Chương II: Biểu hiện của biến đổi khí hậu và tình hình sản xuất ngành thủy sản
5
Về liên hệ vùng, An Giang cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách trung tâm
thành phố Cần Thơ 60 km, có đường biên giới với Vương quốc Campuchia dài khoảng
90 km được thông thương bằng các cửa khẩu quốc tế và quốc gia như Vĩnh Xương
(Tân Châu), Xuân Tô (Tịnh Biên) và Long Bình (An Phú).
Về đường bộ, hiện An Giang chỉ có một trục Quốc lộ 91 đi ngang; đường thuỷ có
sông Tiền, sông Hậu. Đây là những trục giao thương chủ yếu và cần thiết nhưng chưa
đủ để tỉnh phát huy các lợi thế về kinh tế cửa khẩu, du lịch phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới.
1.1.2 Đặc điểm địa hình
Với sông Tiền và sông Hậu ở phía Đông và chuỗi đồi núi thấp ở phía Tây đã hình
thành 2 dạng địa hình chính:
- Địa hình đồng bằng:
Có cao độ thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam với độ chênh cao 0,5 - 1
cm/km. Cao trình của toàn đồng bằng biến thiên từ 0,8 m đến 3 m và được chia thành
2 vùng:
+ Vùng cù lao gồm 4 huyện: An Phú, Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới có cao
trình biến thiên từ 1,3 - 3 m và thấp dần từ ven sông vào nội đồng.
+ Vùng hữu ngạn sông Hậu thuộc tứ giác Long Xuyên gồm thành phố Long
Xuyên, thị xã Châu Đốc, huyện Châu Phú, Châu Thành và Thoại Sơn có cao trình biến
thiên từ 0,8 - 3 m và thấp dần về phía Tây.
- Địa hình đồi núi:
Tập trung và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên với
nhiều núi có độ cao từ 300 - 700 m, cao nhất là núi Cấm 710 m. Bao bọc chung quanh
núi là đồng bằng chân núi, dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng, có cao
trình từ 4 - 40 m và độ dốc từ 30 - 80.
Nhìn chung, địa hình của An Giang ít phức tạp, tương đối thuận lợi để phát triển
nông - lâm nghiệp - thuỷ sản và du lịch.
1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
`
7
Bảng 1 - Một số đặc tính khí tượng thủy văn của tỉnh An Giang
Nhiệt độ
Tháng
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
Tổng
bình
quân
(0C)
25,5
25,9
26,0
28,3
nhất
quân
257,0
255,0
282,0
246,0
205,0
174,0
171,0
164,0
153,0
171,0
207,0
236,0
(mm)
6,3
0,9
11,4
85,6
143,6
108,0
115,4
168,8
117,3
207,2
128,3
39,8
1,5
0,5
2,7
8,0
14,6
17,7
16,4
17,4
17,5
20,1
12,4
3,7
2.521,0
1.132,6
(0C)
cao (0C)
(giờ)
17,0
18,5
17,5
21,8
21,1
20,0
21,1
nước ở khu vực đồi núi. Lượng bốc hơi trong 7 tháng mùa mưa xấp xỉ lượng bốc hơi
trong 5 tháng mùa khô. Ẩm độ không khí của các tháng mùa mưa khoảng 80–85%.
Nắng
- Tổng số giờ nắng 2.346 giờ,
- Tổng số giờ nắng thấp nhất 123,8 giờ / tháng 7
- Tổng số giờ nắng cao nhất 234,2 giờ / tháng 12.
Số giờ nắng bình quân mỗi ngày ở các tháng mùa khô thường cao hơn khoảng 2
giờ so với các tháng mùa mưa.
Gió
`
8
Chế độ gió khá đồng nhất. Từ tháng 5–10 phổ biến gió mùa Tây Nam mang hơi
nước về tạo mưa; từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau phổ biến gió mùa Đông Bắc có đặc
điểm lạnh và khô. Tốc độ gió trung bình trong năm khoảng 3 m/giây.
Ở An Giang không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, các hiện tượng lốc xoáy có
xảy ra trong mùa mưa nhưng tần suất thấp nên mức độ ảnh hưởng không đáng kể.
Tóm lại, với nền nhiệt độ cao đều trong năm, giàu nắng mưa theo mùa và không
có bão, điều kiện khí hậu ở An Giang khá thuận lợi cho phát triển sản xuất nông
nghiệp như thâm canh, tăng vụ và đa dạng hoá cây trồng vật nuôi.
1.1.3 Đặc điểm thủy văn, thủy triều và nguồn nước
Chế độ thuỷ văn ở An Giang phụ thuộc chủ yếu vào chế độ bán nhật triều biển
Đông và chịu ảnh hưởng của các yếu tố dòng chảy sông Cửu Long (sông Tiền, sông
Hậu), chế độ mưa, đặc điểm địa hình và hình thái kênh rạch.
Sông Cửu Long chảy qua An Giang theo 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu. Lưu
lượng trung bình năm là 13.500 m3/s, vào mùa lũ 24.000 m3/s và mùa kiệt là 5.020
m3/s. Hệ thống sông nhánh, kênh rạch tự nhiên và kênh thuỷ lợi trong tỉnh có tổng
phục vụ cho công tác tưới tiêu trong nông nghiệp và vận tải. Trên địa bàn tỉnh có hai
tuyến sông Tiền, sông Hậu có điều kiện khá thuận lợi cho giao thông thủy, chiều rộng
phổ biến từ 300m – 400m, có độ sâu từ 5m – 15m, hai tuyến sông này được liên kết
với nhau bởi các sông, rạch cắt ngang, tạo nên một mạng liên thông về vận tải thủy
khá thuận lợi. Hệ thống sông, rạch tự nhiên có 10 tuyến với chiều dài 233,2 km (sông
Tiền, sông Hậu, sông Cái Vừng, sông Vàm Nao, sông Châu Đốc, sông Bình Di, Rạch
Ông Chưởng, Xép Năng Gù và Xép Vĩnh Trường, rạch Long Xuyên), Kênh cấp I có
19 tuyến với chiều dài 469,8 km, Kênh cấp II có 290 tuyến với chiều dài 1.721,3 km,
kênh cấp III và kênh mương nội đồng có 1.654 tuyến với chiều dài 3.333,1 km.
1.2 Các nguồn tài nguyên
1.2.1 Tài nguyên nước
Nước mưa
Mùa mưa ở An Giang tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 90% lượng mưa
cả năm với tổng lượng mưa bình quân năm khoảng 1.200mm. Nước mưa là nguồn
nước quan trọng tại các vùng gặp khó khăn nguồn nước mặt, nước ngầm như các vùng
nông thôn xa, hẻo lánh và vùng đồi núi. Đầu mùa mưa cũng là thời điểm vào vụ canh
tác của đất ruộng trên và nương rẫy thuộc vùng đồi núi là các vùng không có nguồn
nước tưới.
Nước mặt
Sông Tiền, sông Hậu và các kênh rạch là nguồn nước mặt chủ yếu cấp nước cho
hoạt động sản xuất và sinh hoạt. Lưu lượng của các sông khá lớn nên truyền nước theo
các kênh rạch đến tận các vùng xa, đủ sức cung cấp nước kể cả trong mùa kiệt. Nguồn
nước mặt hiện phục vụ tưới cho hầu hết diện tích gieo trồng; đồng thời với việc sử
dụng nguồn nước mặt cho sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực sản xuất khác, nguồn
`
10
sa, địa hình bằng phẳng, độ thích nghi đối với các loại cây trồng khá rộng.
1.2.3 Tài nguyên rừng
`
11
2.
Quỹ đất lâm nghiệp có trên 20.000 ha, đã khoanh ranh giới đất rừng 18.000 ha
(trong đó đã có rừng 14.700 ha) và còn lại là quỹ đất đồi núi có khả năng phát triển
rừng.
1.
Rừng ở An Giang chủ yếu là rừng trồng, trong đó chỉ có trên 4,2% là rừng tự
nhiên (khoảng 580 ha). Rừng trồng chủ yếu là các loại cây mọc nhanh bạch đàn, keo
lá tràm, tai tượng kết hợp với cây gỗ quý như sao, dầu, giáng hương, cây dó bầu (để
tạo trầm hương) và các loại cây ăn quả lâu năm. Rừng tự nhiên hiện còn giữ được các
cây gỗ quý như giáng hương, thao lao, dầu, căm xe. Rừng đất ngập nước chủ yếu là
cây tràm.
Hiện nay tỉnh đã khoanh ranh giới cho 25 khu rừng để phấn đấu nâng độ che phủ
3.
đạt 5% (hiện độ che phủ đạt 4,1%). Tốc độ che phủ rừng tăng nhanh đã giúp phục hồi
hệ động vật rừng đa dạng (gồm các loài thú, các loài bò sát, thủy sản và các loài
chim).
Tài nguyên rừng An Giang có diện tích không lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng
của con người gắn bó với mảnh đất An Giang. Tuy nhiên đến nay, dấu vết và những
công trình mà người xưa để lại chủ yếu bắt đầu từ thời nhà Nguyễn. Các bậc tiền nhân
như Chưởng binh Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh và sau đó là Ngọc Hầu Nguyễn
Văn Thoại đã tiến hành khai khẩn đất đai, đào kinh, đắp đường, lập ấp,… Đến nay ở
khắp nơi có những công trình mang tên người xưa đã có công khởi xướng, xây dựng
lên chúng như: Kinh Vĩnh Tế, Kinh Thoại Hà, Rạch ông Chưởng,… Hơn thế nữa, để
tôn kính người đã có công tạo dựng cơ đồ, nhân dân An Giang xây dựng những đền,
chùa, miếu mạo thờ cúng họ như: Miếu Bà Chúa Xứ, Lăng Ngọc Hầu Nguyễn Văn
Thoại, Đền Quản Cơ Trần Văn Thành, Đình Thoại Sơn ( thờ Nguyễn Văn Thoại ), các
Đình ở Châu Phú, Long Xuyên, Châu Đốc và các huyện ( thờ Nguyễn Hữu Cảnh )…
Đến nay trên địa bàn tỉnh có 68 công trình di tích lịch sử được Nhà nước công
nhận xếp hạng gồm 26 di tích cấp quốc gia và 42 di tích cấp tỉnh. Cùng với cảnh quan
thiên nhiên đẹp như núi Sam, Lâm viên núi Cấm, cảnh sông nước sông Tiền, sông
Hậu,… có sức hút mạnh mẽ đối với du khách. Sự phân bố tự nhiên của công trình di
tích và cảnh quan cũng đã hình thành lên 9 cụm di tích và 5 khu du lịch lớn trong tỉnh.
Trong những năm qua, bình quân mỗi năm tỉnh An giang đón tiếp được từ 3,5 –
4 triệu lượt khách du lịch, tham quan gồm cả khách trong và ngoài nước. Vào dịp lễ
hội bà Chúa Xứ (tháng Tư âm lịch), khu vực núi Sam thuộc thị xã Châu Đốc và tuyến
Long Xuyên - Châu Đốc, tuyến Châu Đốc - Tịnh Biên – Tri Tôn có khách du lịch tham
quan, đi lại, lễ bái kết hợp du lịch suốt tháng.
Về dân tộc: dân tộc Kinh chiếm đa số trong tỉnh với 94,21%, người Khơme
chiếm 4,31%, người Hoa chiếm 0,86%, người Chăm chiếm 0,61%, còn lại là các dân
tộc khác. Các dân tộc nói chung đã hoà nhập thành cộng đồng dân cư, đoàn kết, gắn
bó, đã có được các công trình sáng tạo mang tính lịch sử nghệ thuật đến độ đặc sắc của
mình như chùa Chăm ở các huyện Phú Tân, Tân Châu, An Phú; chùa Tây An và Miếu
Bà Chúa Xứ ở núi Sam, chùa Ông Bắc ở Long Xuyên, các chùa Khơme ở Tri Tôn,
Tịnh Biên,…
`
kinh tế- xã hội, đến tài nguyên, môi trường và ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe của
nhân dân trong tỉnh...
Trước các sức ép về tốc độ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh An Giang,
sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá
`
14
mức bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái… đã góp phần gây
ra sự biến đổi khí hậu toàn cầu.
An Giang là một trong bốn tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng
sông Cửu Long – nơi đang chịu nhiều ảnh hưởng do biến đổi khí hậu toàn cầu. Đất đai
bị bạc màu; đa dạng sinh học giảm mạnh; diện tích đất bị xâm nhập mặn, đất bị khô
hạn, nhiễm phèn ngày càng tăng; nhiệt độ không khí tăng cao và hạn hán bất thường,
lũ lụt không theo quy luật; nhiều dịch bệnh mới hình thành… đã đe dọa đến đời sống
và hoạt động của người dân trong tỉnh.
`
15
CHƯƠNG II: BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNH SẢN
XUẤT NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG
2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Khái niệm về Biến đổi khí hậu
Khái niệm
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy
Đại dương ngày nay - Các đại dương là một thành phần chính của hệ thống khí
hậu. Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn nhiệt trên khắp hành tinh. Thay đổi trong
lưu thông đại dương có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2
vào trong khí quyển.
Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất - Trái đất quay quanh Mặt trời với một quỹ
đạo. Trục quay có góc nghiêng 23,5 °. Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo quay trái đất
có thể dẫn đến những thay đổi nhỏ. Tốc độ thay đổi cực kỳ nhỏ có thể tính đến thời
gian hàng tỷ năm, vì vậy có thể nói không ảnh hưởng lớn đến BĐKH.
Có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng
góp một phần rất nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kỳ kể từ quá khứ đến hiện nay.
Theo các kết quả nghiên cứu và công bố từ Ủy Ban Liên Chính Phủ về BĐKH thì
nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu là do các hoạt động của con người.
b, Nguyên nhân do con người
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng
ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu,
khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà
kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi
băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và tan
băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ khoảng 180
-200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp
(280ppm). Từ khoảng năm 1.800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số
300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền
công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua.
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũng
tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên
1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí chlorofluoro
carbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều
lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do
con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển.
sông băng trên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước trên đất liền.
2.1.3 Khái niệm về Thủy sản
- Thủy sản: là những loại động vật sống dưới nước như cá, nhuyễn thể, giáp
xác, ... có thể qua hay không qua khâu nuôi trồng và dùng làm thực phẩm.
Thủy sản sống là động vật thủy sản còn sống hoặc đang giữ ở trạng thái tiềm sinh.
- Ngư nghiệp: là những công việc có liên quan đến trình khai thác, nuôi trồng và
phát triển nguồn lợi các sinh vật trong nước. Khi nói đến ngư nghiệp thì phải hiểu nó
gồm 3 hoạt động căn bản sau: khai thác, NTTS và phát triển nguồn lời thủy sản.
Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm,
phá và các vùng nước tự nhiên khác.
`
18
NTTS là những tác động bất kỳ nào của con người làm cải thiện sự sinh trưởng
của một sinh vật nào đó trong một diện tích nuôi nào đó.
Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị
kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi
thủy sản.
2.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu tỉnh An Giang
Ở An Giang, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các yếu
tố khí hậu và mực nước có những điểm đáng lưu ý sau:
2.2.1. Nhiệt độ
An Giang có nền nhiệt độ trung bình năm 26 – 27,80C.
Trong 30 năm qua (1979 - 2008), nhiệt độ trung bình năm ở An Giang có xu
hướng tăng lên. Trong đó, nhiệt độ trung bình tăng 0,80C, nhiệt độ cao nhất tăng 1,20C.
Nhiệt độ thấp nhất tăng 0,50C. Biến đổi khí hậu đã thể hiện ở An Giang, với mức tăng
nhiệt độ trung bình 0,1 – 1,2 0C/ 1 thập kỷ trong thế kỷ XX kể cả 3 giá trị: nhiệt độ
trung bình, nhiệt độ tối thấp và nhiệt độ tối cao.