ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO

VŨ MINH PHƯƠNG

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở
TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ

HÀ NỘI, THÁNG 5 – NĂM 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở
TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ

Chuyên ngành : Khí tượng Thủy văn Biển
Mã ngành
: 52440299

Sinh viên thực hiện : Vũ Minh Phương
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thùy Linh

HÀ NỘI, THÁNG 5 – NĂM 2017



Vũ Minh Phương


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH

: Biến đổi khí hậu

ĐBSCL

: Đồng bằng Sông Cửu Long

CN&BCN

: Công nghiệp và bán công nghiệp

GTSX

: Giá trị sản xuất

HST

: Hệ sinh thái

NTTS

: Nuôi trồng thủy sản


MỤC LỤC

năm 2100.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) không chỉ là vấn đề môi trường, không còn là vấn đề
của một ngành riêng lẻ mà chính là vấn đề của phát triển bền vững. BĐKH tác động
đến những yếu tố cơ bản của đời sống con người trên phạm vi toàn cầu như: nước,
lương thực, năng lượng, sức khỏe và môi trường. Vì thế ứng phó với BĐKH trở nên
ngày càng quan trọng, và được quan tâm nhiều hơn trong các nghiên cứu cũng như
trong cả tiến trình thương lượng của Công ước về BĐKH mà Việt Nam là một thành
viên. Việt Nam đã chính thức là một bên không thuộc Phụ lục I của Công ước và
Nghị định thư Kyoto về BĐKH, có đầy đủ quyền hạn, nghĩa vụ của một bên trong
quá trình thi hành cam kết của mình về thích ứng và giảm nhẹ với BĐKH.
Biến đổi khí hậu cũng tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng ngập mặn
làm mất dần các bãi sinh sản tự nhiên của nhiều loài sinh vật, cạn kiệt nguồn lợi thủy
sản tự nhiên, làm mất dần diện tích thuận lợi cho phát triển nuôi thủy sản. Năng suất
nuôi tôm quảng canh trong rừng ngập mặn bị giảm sút từ khoảng 200kg/ha/vụ ( năm
1980) đến nay thì chỉ còn 80kg/ha/vụ. Rừng ngập mặn trước đây có thể khai thác
được 800kg/ha nhưng nay chỉ còn 1/20 so với lúc trước. Đã có khoảng 100 loài hải

1


sản có mức độ nguy hiểm khác nhau và trên 75 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt
Nam. Nguồn lợi thủy sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng, số lượng và kích thước
đánh bắt.
An Giang là một trong những tỉnh có tiềm lực kinh tế lớn ở đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL). Với những yếu tố thuận lợi về điều kiện tự nhiên, tài nguyên
thiên nhiên và vị trí phân bố lãnh thổ, An Giang được xem là một trong những địa
phương giàu tiềm năng về phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp, thủy sản, kinh
tế cửa khẩu, công nghiệp chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng và dịch vụ du lịch.
Điều này đã tạo ra một động lực lớn để đẩy mạnh tiến trình phát triển kinh tế chung
của cả khu vực ĐBSCL trong nhiều năm tới.

nguyên và môi trường.
Nhận thức sâu sắc những vấn đề nêu trên “Đánh giá tác động của biến đổi khí
hậu đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản ở tỉnh An Giang và đề xuất giải pháp
ứng phó” là yêu cầu cấp thiết trong tình hình hiện nay. Sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất
các biện pháp ứng phó, giảm thiểu các thiệt hại do BĐKH gây ra, đảm bảo an toàn và
ổn định cuộc sống người dân nơi đây trong sinh hoạt và sản xuất, thích ứng với diễn
biến nước biển dâng và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
2, Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu chung: Đánh giá những tác động do biến đổi khí hậu đối với hoạt
động nuôi trồng thủy sản ở tỉnh An Giang.
- Mục tiêu cụ thể: Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành
thủy sản ở An Giang.
Xác định, đề xuất các lựa chọn thích nghi những ảnh hưởng tích cực của nước
biển dâng. Từ đó đưa ra các biện pháp thích nghi và giảm nhẹ, nâng cao nhận thức
của cộng đồng về nuôi trồng thủy sản.
3, Tóm tắt nội dung
- Đánh giá được mức độ tác động của BĐKH tới sự phát triển ngành thủy sản ở
An Giang.
- Dự báo mức độ tác động đối với hoạt động NTTS đến năm 2020.
- Đề xuất được các biện pháp ứng phó.

3


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về Biến đổi khí hậu
Khái niệm
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,
thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân


Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất - Trái đất quay quanh Mặt trời với một quỹ
đạo. Trục quay có góc nghiêng 23,5 °. Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo quay trái đất
có thể dẫn đến những thay đổi nhỏ. Tốc độ thay đổi cực kỳ nhỏ có thể tính đến thời
gian hàng tỷ năm, vì vậy có thể nói không ảnh hưởng lớn đến BĐKH.
Có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng
góp một phần rất nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kỳ kể từ quá khứ đến hiện nay.
Theo các kết quả nghiên cứu và công bố từ Ủy Ban Liên Chính Phủ về BĐKH thì
nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu là do các hoạt động của con người.
b, Nguyên nhân do con người
Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng
ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu,
khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà
kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.
Những số liệu về hàm lượng khí CO2 trong khí quyển được xác định từ các lõi
băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và
tan băng (khoảng 18.000 năm trước), hàm lượng khí CO2 trong khí quyển chỉ
khoảng 180 -200ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền
công nghiệp (280ppm). Từ khoảng năm 1.800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên,
vượt con số 300ppm và đạt 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với
thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn
năm qua.
Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũng
tăng lần lượt từ 715ppb (phần tỷ) và 270ppb trong thời kỳ tiền công nghiệp lên
1774ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005. Riêng các chất khí chlorofluoro
carbon (CFCs) vừa là khí nhà kính với tiềm năng làm nóng lên toàn cầu lớn gấp nhiều
lần khí CO2, vừa là chất phá hủy tầng ôzôn bình lưu, chỉ mới có trong khí quyển do
con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển.
Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) cho thấy, việc tiêu
thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng,

- Thủy sản: là những loại động vật sống dưới nước như cá, nhuyễn thể, giáp
xác, ... có thể qua hay không qua khâu nuôi trồng và dùng làm thực phẩm.
Thủy sản sống là động vật thủy sản còn sống hoặc đang giữ ở trạng thái tiềm sinh.
- Ngư nghiệp: là những công việc có liên quan đến trình khai thác, nuôi trồng
và phát triển nguồn lợi các sinh vật trong nước. Khi nói đến ngư nghiệp thì phải hiểu
nó gồm 3 hoạt động căn bản sau: khai thác, NTTS và phát triển nguồn lời thủy sản.

6


Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ,
đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác.
NTTS là những tác động bất kỳ nào của con người làm cải thiện sự sinh trưởng
của một sinh vật nào đó trong một diện tích nuôi nào đó.
Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị
kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn
lợi thủy sản.
1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu tỉnh An Giang
Ở An Giang, kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy biến đổi của các yếu
tố khí hậu và mực nước có những điểm đáng lưu ý sau:
1.2.1. Nhiệt độ
An Giang có nền nhiệt độ trung bình năm 26 – 27,80C.
Trong 30 năm qua (1979 - 2008), nhiệt độ trung bình năm ở An Giang có xu
hướng tăng lên. Trong đó, nhiệt độ trung bình tăng 0,8 0C, nhiệt độ cao nhất tăng
1,20C. Nhiệt độ thấp nhất tăng 0,5 0C. Biến đổi khí hậu đã thể hiện ở An Giang, với
mức tăng nhiệt độ trung bình 0,1 – 1,2 0C/ 1 thập kỷ trong thế kỷ XX kể cả 3 giá trị:
nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối thấp và nhiệt độ tối cao.

(Nguồn: Trạm khí tượng An Giang)
Hình 1: Diễn biến nhiệt độ qua các năm tại trạm Châu Đốc

- 3,5oC (Hình 3.2).

a, vào giữa thế kỉ

b,vào cuối thế kỉ

Hình 3.1. Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm (oC) theo kịch bản RCP4.5

9


a, vào giữa thế kỉ

b, vào cuối thế kỉ

Hình 3.2. Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm (oC) theo kịch bản RCP8.5
Kết quả tính toán nhiệt độ trung bình của tỉnh An Giang từ năm 2020 – 2100
(0C) so với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) ở khu vực
Nam Bộ

(Nguồn: Kịch Bản phát thải trung bình B2 khu vực Nam Bộ)
Hình 4: Diễn biến nhiệt độ trung bình từ năm 2020 - 2100 theo kịch bản B2

10


Phương trình xu hướng diễn biến nhiệt độ theo kịch bản B2 là y = 0,0215x –
15,923 có hệ số a > 0 cho thấy xu hướng đi lên tức là nhiệt độ tăng theo các năm do
BĐKH. Theo kịch bản B2 thì trong vòng 80 năm ( 2020 – 2100 ) nhiệt độ tăng 1,7
o


Hình 6: Diễn biến lượng mưa trung bình tại khu vực Nam Bộ từ năm
2020 - 2100 theo kịch bản B2
Phương trình xu hướng diễn biến lượng mưa theo kịch bản B2 là y = 0,2064x
+ 918,58 có hệ số a > 0 cho thấy xu hướng đi lên tức là lượng mưa tăng theo các năm
do BĐKH. Theo kịch bản B2 thì trong vòng 80 năm ( 2020 – 2100 ) lượng mưa tăng
17mm. Trung bình 1 năm sẽ tăng 0,02125mm/năm.
Hệ số R2 = 0,9903 thể hiện mối tương quan chặt chẽ giữa sự biến đổi lượng
mưa theo thời gian do ảnh hưởng của BĐKH (do 0,8 < R2 < 1).
1.3.3. Mực nước biển dâng
Bảng 1: Mực nước biển dâng so với thời kỳ 1980 – 1999 theo kịch bản phát thải
trung bình (B2) khu vực Nam Bộ
NĂM
MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG (cm)
2020
12
2030
17
2040
23
2050
30
2060
37
2070
46
2080
54
2090
64

370.728
7.074
4
An Phú
219.074
0.000
5
Tri Tôn
602.605
59.374
6
Châu Phú
452.622
23.907
7
Châu Thành
356.457
52.781
8
Phú Tân
328.976
2.838
9
Tịnh Biên
356.771
5.198
10 TP. Long Xuyên
115.741
0.553
11 Thoại Sơn


HUYỆN

Diện tích huyện

Diện tích ngập

(km2)
(km2)
1
Tân Châu
171.007
0.000
2
TX. Châu Đốc
105.072
14.039
3
Chợ Mới
370.728
49.684
4
An Phú
219.074
0.000
5
Tri Tôn
602.605
161.513
6

13.36
13.40
0.00
26.80
37.41
42.92
4.15
14.41
4.17
47.11
23.64

Theo các kịch bản này, diện tích và tỉ lệ ngập nhiều nhất là huyện Thoại Sơn
chứng tỏ đây là huyện bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi mực nước dâng.
1.4 Tình hình phát triển ngành thủy sản

15


1.4.1 Hiện trạng phát triển ngành thủy sản
Ngành thủy sản đã và đang đóng góp một phần đáng kể vào sự phát triển kinh
tế của tỉnh, phát huy được lợi thế về tài nguyên thiên nhiên (sông ngòi, ...) và con ng
ười. Đóng góp vào sự phát triển công nghiệp, dịch vụ, phù hợp định hướng giảm bớt
phát triển kinh tế ở khu vực nông nghiệp.
Từ nhiều năm qua, tỉnh An Giang luôn dẫn đầu cả nước về sản lượng và kim
ngạch xuất khẩu cá nước ngọt, góp phần rất lớn cho kinh tế tỉnh. Đặc biệt, trong
những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu thủy sản chiếm trên 50% kim ngạch xuất
khẩu trong toàn tỉnh, nuôi trồng thủy sản phát triển cũng tạo được công ăn việc làm
cho số lượng lớn lao động ở nông thôn, góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân
dân. Hiện đã tạo công ăn việc làm cho hơn 60 ngàn người, góp phần vào sự phát

23,801

19,128

Số hộ nuôi thủy sản toàn tỉnh
1
2

(hộ)
Loại hình ao hầm
Số hộ nuôi (hộ)
Tổng diện tích ao nuôi (ha)
Tổng sản lượng
Loại hình nuôi bè
Số lượng bè nuôi(cái)
Tổng thể tích (m3)

3

Tổng sản lượng (tấn)
Tổng sản lượng (tấn)
Loại hình chân ruộng
Tổng diện tích (ha)
Tổng sản lượng
Loại hình nuôi đăng quầng
Tổng diện tích (ha)
Tổng sản lượng

4
5

176.1
4.286.7 4.946.0 2.334 2.922.0 4088
(Nguồn:Chi cục thủy sản An Giang)

Sản lượng thủy sản qua các năm biến động theo số hộ nuôi. Chủ yếu các hộ sử
dụng loại hình nuôi ao hầm và nuôi bè cho sản lượng cao với diện tích sử dụng lớn.
Tổng sản lượng năm 2013 đạt cao nhất và năm 2014 sản lượng có xu hướng
giảm.
Thuỷ sản chân ruộng chủ yếu là nuôi tôm càng xanh đang được mở rộng quy
mô diện tích do tính hiệu quả và tác động của mô hình chuyển đổi cơ cấu sử dụng
đất, đến năm 2013 diện tích này đạt 598 ha.
Hiện đang có xu hướng đa dạng hóa đối tượng nuôi thủy sản, nhằm hạn chế sự
phụ thuộc giống nuôi vào một vài loài chính nhu cá tra, basa. Tăng sản xuất các loại
giống như giống tôm càng xanh, cá thát lát, cá rô phi, lóc, rô phi, điêu hồng,…
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các quy hoạch chi tiết vùng nuôi trồng thuỷ
sản còn chậm; vai trò quản lý của các cấp các ngành đạt hiệu quả chưa cao và còn
chậm so với xu hướng phát triển của khu vực và thế giới khi Việt Nam gia nhập vào
WTO; khả năng điều tiết vĩ mô chưa đạt hiệu quả cao khi gặp khủng hoảng về sản
lượng, về giá cả, về chất lượng sản phẩm và về môi trường, gây nhiều thiệt hại cho
người nuôi; loại hình nuôi đăng quầng hiện nay vượt ngoài sự quản lý của nhà

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status